lê thị huệ
Chuyện nhân ngày 8/3, ngày Quốc Tế Phụ Nữ 2005.
Buổi sáng dậy sớm, nhâm nhi ly cà phê xong, ngồi vào bàn viết, mở net của Mỹ ra thấy một chương trình đặc biệt của http://special.msn.com/ gồm những bài viết như sau: 10 Người Đàn Bà Quyền Lực Nhất Nước Mỹ, dẫn đầu là Condoleezza Rice bà Mỹ Đen hiện là ngoại trưởng phục vụ ông Bush. Các bà khác là những bà thượng nghị sĩ, thẩm phán tối cao, chủ công ty lớn, và có nhiều tiền như bà thần tivi bốc lên từ trợ cấp xã hội Oprah Winfrey. Thế là trong danh sách 10 quyền lực nhất nước Mỹ có hai bà đen, Condollezza Rice và Oprah Winfrey. Cả hai bà đều "nỏ có nhôông". "Nhôông", tiếng Hà Tĩnh có nghĩa là chồng, "nỏ" có nghĩa là "không".
Nói chuyện chồng con ở Mỹ là nói chuyện gì rất kinh khủng. Một trong những chuyện kinh khủng ấy là tỉ số đàn bà Mỹ đen không chồng rất ư là cao. Đàn bà Mỹ Đen nổi tiếng là giỏi, ngoan, thương con, và đạt những thành công phi thường ở xã hội Mỹ. Trong khi đàn ông Mỹ Đen hễ thành đạt chút chút thì lăm lăm cặp bồ và theo con gái Mỹ Trắng hết. Nên chi những người bạn gái Mỹ Đen thành đạt thân mến của tôi phần đông không kiếm được chồng. Một bài khác cũng trên msnnews: 5 Cách Thức Làm Cho Đàn Bà Thành Lãnh Tụ Giỏi. Bài kế, Mẹ Đi Học. Chuyện này xảy ra thông thường ở Mỹ. Các trường đại học Mỹ thu hút nhiều phụ nữ và tạo cơ hội cho người phụ nữ đi học trở lại. Ở Việt Nam thì cơ hội qúa ư thiếu thốn. Chuyện Việt Nam hiện nay là sinh viên ra trường rồi không có việc làm mới là chuyện quan trọng! Bài kế tiếp, Ăn Mặc Thế Nào Để Thành Công. Bài tiếp, Làm Việc Co Dãn, Những Phương Pháp Quân Bình. Ngoài ra còn những bài sau: Mười Người Đàn Bà Mỹ thay đổi thế giới, , Sacagawea Có Thể Làm Như Thế Nào ( Sacagawea là một lãnh tụ Da Đỏ được kể tên trong mười người đàn bà thay đổi nước Mỹ), Bí Mật của Amelia Earhart, (người phụ nữ hoa tiêu bị mất tích năm 1937, có giả thuyết cho là vì bà này đã làm xì pai cho tông tông Mỹ nên bị bắt), Những Chiến Sĩ Gái Giỏi, Tranh Đấu Để Đòi Quyền Phụ Nữ, Lịch Sử Phong Trào Giải Phóng Phụ Nữ,
Còn về phía báo chí Việt Nam cả trong nước lẫn ngoài nước thì sao ?
Việt Nam đã cho đưa lên net hầu hết các tờ báo nổi tiếng. Từ Công An online, Tiền Phong Online cho đến Tuổi Trẻ Online... Thế nhưng chưa thấy một tờ báo Phụ Nữ Online nào được chính quyền Việt Nam cho lên net. Nhà nước Việt Nam rõ ràng là kỳ thị phụ nữ hạng nặng đấy nhé. Các nhà tranh đấu hải ngoại hỡi, trong khi các sư các cha được xây nhà thờ mí nhà chùa khắp nơi, mà qúy vị thì vẫn cứ ưu tiên tranh đấu cho các cha các sư. Sao chẳng thấy ai tranh đấu cho quyền lợi phụ nữ Việt Nam cả !
Net hải ngoại thì có đôi chút khác biệt. Hiện có hai trang net do hai người đàn bà chủ chốt, diễn đàn chính trị Talawas do Phạm Thị Hoài bá chủ, và trang nghệ thuật Gió O do Lê Thị Huệ tớ chủ biên. Ngoài ra ở Người Việt Online có trang Phụ Nữ và Gia Đình do nhà thơ Trần Mộng Tú, nhà văn Bùi Bích Hà điều hành. Tuy vậy thành thật mà nói, chưa diễn đàn nào có đủ bài viết về phụ nữ như nhu cầu đòi hỏi. Riêng phần tôi, một mơ ước làm trang nhà dành cho các trẻ em bị chứng khờ, autism, vẫn chưa thành. Vì qúa bận rộn nhiều thứ. Ôi con, hãy tha thứ cho mẹ !
Nhân ngày 8 tháng 3, các trang net trong nước có những bài lai rai bàn về phụ nữ. Ví dụ Nguoivienxu Online có bài Hội Thảo Khoa Học Nhân
Ngày 8.3 Vai trò của phụ nữ trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Hanoimoi Online mở diễn đàn Vai Trò Của Người Phụ Nữ Trong Cuộc Sống Hiện Đại, bài khác: Nhân ngày quốc tế phụ nữ 8-3: Xin cảm ơn các ông chồng! Kể chuyện một khu trong Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương Hà Nội có 80% cán bộ là phụ nữ. Nhân ngày 8/3 các chị xin cám ơn chồng đã thông cảm cho các chị đi sớm về trễ vì công việc đòi hỏi! Bàn về chuyện phụ nữ đi làm, phải nói là phụ nữ Việt Nam ngày nay đi ra ngoài xã hội làm việc khá nhiều. Tuoitre Online có nguyên một trang "Lời Chúc 8/3" để cho độc giả gửi về những lời chúc đến những người phụ nữ thứ nhất của đời họ. http://www2.tuoitre.com.vn/ Đấy là những chuyện trong một buổi sáng lên net liên hệ đến ngày 8-3-2005
Chuyện đáng nói hơn trong những ngày gần đây là chữ nghĩa đang bị ồ ạt tra tấn và chà xát bởi văn chương ba chữ xxx. Từ sau khi tôi viết 1 bài trên Talawas gợi hứng cho các cây bút nữ là muốn viết văn ăn khách thì hãy viết về éx. Thế là làm như một số nhà văn nữ tìm ra chân lý. Một loạt các nhà thơ nhà văn nữ trong nước lẫn ngoài nước bắt đầu háo hức viết xả láng về éx. Đàn bà dù xả láng x cỡ nào thì cũng không bao giờ đủ để phục vụ đàn ông. Các trung tâm đàn ông như tienve, tapchitho, hopluu, thotanhinhthuc, tràn ngập những bài dùng éx tra tấn và chà xát x của phụ nữ. Đàn bà mà thiếu nhạy cảm với x, không biết bảo vệ thân xác phụ nữ, viết về éx như heo nọc xà quần heo nái, viết về éx trong nỗi yếu đuối của thứ nạn nhân tự nguyện phục vụ taste của đàn ông, thì chỉ là con mồi béo bở cho đàn ông khai thác.
Tôi không tin đàn ông có thể giải phóng tình dục dùm cho phụ nữ. Hiện nay những người đàn bà nào viết về éx mà được các nhà văn nam hay những người tự nhận là phê bình nam ủng hộ hay ngợi ca thì chính đấy là những nữ nạn nhân đầu tiên trong trò chơi tình dục của cánh đàn ông. Rất tiếc có những người đàn bà là nạn nhân mà không biết mình là nạn nhân. Điều này không có nghĩa là thế giới trống vắng những người đàn ông thân thiện và qúy trọng thân xác phụ nữ. Nhưng rõ ràng sự to mồm của những người đàn ông khai thác thân xác phụ nữ như một dâm vật đang lấn át mọi diễn đàn nghệ thuật vào thời điểm này.
Một điều hết sức bi thảm và khôi hài là có những cây bút nữ tôi biết rất rõ là chữ nghĩa, trình độ, và khả năng rất kém. Thế nhưng có những ông chủ bút và những nhà phê bình văn học của chúng ta bốc các em gái văn nghệ này lên trên giời, hết lời ca ngợi những cây bút nữ này là những nhà văn lừng lẫy khai sáng thiên hạ. Tôi chỉ có nước há hốc miệng ra chưng hửng nhìn trời mà không thể nào hiểu nổi! Điều này làm cho tôi thấy thất vọng về khả năng phán xét của rất nhiều nhà văn, nhà thơ, chủ bút, nhà phê bình Việt Nam chung quanh tôi hiện nay. Điều này tự nhiên cũng làm cho tôi nghi ngờ và thấy cần xét lại những nhà văn nhà thơ Việt Nam nổi tiếng nào đấy. Tinh thần băng đảng cùng sự mắt mù tai điếc của những kẻ háo danh lỡ yêu văn chương đã tạo nên một bộ mặt văn chương Việt Nam như thế này ư ? Điều này chứng tỏ nền văn học nghệ thuật Việt Nam lâu nay không có một chuẩn mực kỷ cương nào trong việc phê bình, phân tích, lượng giá, các tác giả và tác phẩm. Chúng ta không có những nhà phân tích và phê bình văn học được đào tạo chuyên nghiệp, và được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết để làm công việc thẩm định văn học. Một khi chính các vị "giám khảo" chưa đủ trình độ thì làm sao tin tưởng được sự lượng giá, phán đoán, của các vị "giám khảo" ấy. Thứ nhì là vì khối lượng độc giả Việt Nam còn qúa ít, hoặc vì khiêm tốn không muốn phát biểu, nên chúng ta rất hiếm khi có được sự phản hồi và các ý kiến phê bình từ các độc giả. Nếu độc giả tích cực tham gia ý kiến, thì chính các nhà phê bình kém sẽ bị độc giả nhận biết ra. Và các phán đóan của các nhà phê bình này sẽ bị chính các độc giả phê bình một cách trung thực. Sự không tham dự của các độc giả cũng đóng góp vào tình trạng "múa gậy vườn hoang", "độc quyền ý kiến" của các nhà phê bình chưa đủ chuẩn mực. Vì thế các thế hệ độc giả sau sẽ dễ dàng bị dẫn dắt đến việc chấp nhận những phán đóan sai lầm của các nhà phê bình này.
Nói chuyện x tôi nhớ khi Talawas đầu tiên đăng bài " "Sex Sells, Đọc Những Bài Bình Thơ Vi Thùy Linh Của Các Đàn Anh Văn Nghệ" của tôi, lập tức sau đấy có vài cây bút nam nhao nhao lên xì nẹc tôi trên Talawas. Tôi đọc, và biết nếu có máu ham gây sự, tôi đã có thể đá thêm tí éx nữa vào những bài kế tiếp. Thế nào cũng có một cuộc bút chiến tràn đầy mùi éx từ những người đàn ông nào đấy. Nhưng tôi đã chọn một sự im lặng. Bây giờ tôi chỉ muốn sửa sai một chi tiết nhỏ. Trong một bài viết đáp trả bài viết của tôi, Đỗ Kh. có nói như là tôi dùng tên ông Mai Thảo để nói ông Mai Thảo khuyến khích nên đá tí dâm vào bài viết. Thật ra khi tôi viết như thế tôi chỉ hoàn toàn kể lại sự kiện ông Mai Thảo đã có lần nói với tôi là hiện nay ( vào thời điểm khoảng những năm cuối 1980) ở trong nước viết cái gì đá tí dâm vào thì "chúng nó" ( lời Mai Thảo) cũng bán chạy. Vì bao nhiêu năm nay "chúng nó" bị cấm đoán quá mà. Chứ ông Mai Thảo không hề khuyến khích đưa dâm vào bài viết.
Chuyện nọ xọ qua chuyện kia. Sau bài phỏng vấn trên tờ Hợp Lưu số Tết 2005, tôi nhận ra một số điều phiền phức có tính cách cá nhân liên hệ đến bài viết cũ của ông Mai Thảo giới thiệu về tôi đã được đăng lại cũng trên số Hợp Lưu ấy. Tôi là một người tầm thường với những đau khổ tầm thường như tất cả mọi con người tầm thường trên trái đất này. Nên tôi đã viết một lá thư độc giả gửi đến toà soạn Hợp Lưu phân trần với linh hồn thầy mẹ tôi, những mộ phần ở bên kia cõi âm chưa được yên nghỉ. Hợp Lưu đã không đăng lá thư của tôi thì chớ, đường link của Gió O trên Hopluu net cũng bị xoá bỏ ngay lập tức.
Tôi đang tập làm một vĩ nhân thù lù. Tôi sẽ không đăng lá thư gửi toà soạn Hợp Lưu lên Gió O. Để chị em trong gia đình và bạn hữu thân thiết của tôi vui lòng. Còn tôi thì vẫn tiếp tục đau khổ. Và đang rất muốn làm một con người cà giật tầm thường để trút bớt những cơn cuồng nộ về những điều phi lí và giả dối của đời sống chung quanh đang chèn ép tôi đến nghẹt thở
lê thị huệ
Thuỷ Lê
Nhà thơ Đỗ Thị Tấc - người say văn hoá Tây Bắc:
Kẻ ngược đời xuôi sông Đà
Tôi đồ rằng nếu Nguyễn Tuân còn sống và lại làm một chuyến thực tế lên Tây Bắc, dễ chừng ông cũng sẽ gặp và "dành đất" cho nhân vật này của tôi lắm, như ông đã từng lưu tâm "người lái đò sông Đà". Dù rằng, những thác ghềnh mà người phụ nữ này đã bền bỉ vượt qua không chỉ là những thác ghềnh trên sông Đà.
Nhà thơ Đỗ Thị Tấc. Tôi hơi chưng hửng khi gặp chị. Người ta bảo tôi: chị nom ngang phè phè như đàn ông, từng bị rụng sạch tóc vì "chiến công kỷ lục": là nhà báo nữ duy nhất chinh phục được miền phên dậu hoang sơ tại vùng A Pa Chải - nơi tiếng gà gáy ba nước cùng nghe, cũng là người có chuyến đi dài ngày nhất (hơn 3 tháng: 2 - 4.1998) với quãng đường dài nhất xuyên suốt tuyến ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào. Đây, tôi thấy chị tiếp chuyện tôi nhỏ nhẹ, để tóc dài và ưa đọc thơ mình (vì chị còn là nhà thơ, từng đoạt giải thưởng thơ báo Văn Nghệ năm 1995 và tặng thưởng thơ 2002 Hội Nhà văn VN, hiện ngồi ghế Chủ tịch Hội VHNT Lai Châu). Người ta bảo chị mê văn hoá dân gian các dân tộc ít người vùng Tây Bắc như "ma ám", đặc biệt là văn hoá dân tộc Lự (đến mức bỏ ra già hai mươi năm nay để cất công nghiên cứu).
Đây, tôi thấy chị nói về "món tủ" ấy với vẻ rất kiệm lời hơn là với vẻ "lên đồng". Điều chị tỏ ra tâm đắc nhất hình như lại chính là cuộc đời chị - một cuộc đời mà chị cả quyết với tôi là "dù khổ nhưng bù lại, đã được làm nhiều điều mình thích" và vì "để mua sự hiểu biết thì bao nhiêu cũng rẻ nên đừng hòng chịu đổi cho ai".
Không ít nhà văn, nhà nghiên cứu người Kinh đã nặng lòng với Tây Bắc. Người lạ lên thăm, biết quan sát cho ra đất, ra người đã quý. Người thuộc nằm lòng Tây Bắc từ tấm bé như chị lại càng là của hiếm trong giới nghiên cứu sưu tầm...
- Khi bạn là con của những người thợ cầu đường thì có nghĩa là cuộc đời của bạn sẽ trôi theo những cung đường. Từ 4 tuổi, tôi đã phải rời Hưng Yên, theo gia đình lên Lai Châu (1967). Được chứng kiến một Tây Bắc hoang sơ với rất nhiều quạ và khỉ, xem người Thái múa xoè chưa cải biên, nghe người già kể chuyện... Cái sợ thì qua nhanh nhưng cái đẹp thì còn lại mãi rồi ngấm vào máu lúc nào không biết. Đến nỗi, khi tôi làm nhà, mẹ tôi đã nói dỗi: "Mày thì làm nhà làm gì, nhà của mày là ở bản kia mà!". Trong cảm giác thường trực của tôi, đây hình như là mảnh đất mà từ xa xưa trong kiếp trước, tôi đã từng ở đó.
´ Nghiên cứu văn hoá các dân tộc ít người Tây Bắc hẳn là một công việc có tính bước ngoặt ở chị?
- Nói "bước ngoặt" thì không hẳn vì tôi nghĩ là tôi đã "nghiên cứu" văn hoá Tây Bắc ngay từ khi... còn là đứa trẻ lên năm lên mười, ưa nằm bò ra sàn nhà ngắm xoè Thái mặc cho bụi bay vào mặt. Lớn lên một chút thì bắt đầu có thói quen ghi chép vì sợ quên. Cứ tự phát và nghiệp dư mãi như thế cho đến ngày tôi may mắn được gặp một nhà nghiên cứu. Chính người thầy đầu tiên này đã giúp vỡ ra trong tôi nhiều khái niệm cùng các thủ thức làm nghề chuyên nghiệp. Vậy là từ đó, tôi bắt đầu để ý làm nghề một cách có ý thức hơn, dù suốt một thời gian dài, với tôi, đó chỉ là nghề tay trái.
Nhà nghiên cứu của chúng ta suýt nữa thì chỉ được học hết ... lớp 7, rồi để được học tiếp bổ túc, chị đã từng phải vừa đi học vừa đi rửa bát thuê. Thời thơ ấu và thanh nữ của chị từng trôi qua cùng với kế sinh nhai lần hồi một thời của 6 mẹ con chị là bắt cua mò hến "đến tưởng vẹt cả cánh đồng Mường Thanh". Hầu như mọi phiền toái nhất đối với một gia đình đều đã không ngừng đổ như tên bay đạn lạc lên đầu chị: nghèo đói, nheo nhóc, bố bỏ nhà đi lấy vợ khác, mẹ ốm, 3 trong 4 người em đứa đi bộ đội hy sinh, đứa nghiện, đứa mắc bệnh hoang tưởng... Nhưng quãng đời mạnh mẽ nhất của Đỗ Thị Tấc chính là quãng chị quyết định thôi làm giáo viên thể dục, rồi huấn luyện viên, xuống Hà Nội học đại học để đi theo nghề báo mà hai chuyện quyết liệt nhất là chuyến đi "rụng sạch tóc" nói trên và quyết tâm làm mẹ.
- Xin cơ quan (Đài TH tỉnh Lai Châu) đi 20 ngày, cuối cùng tôi đi hơn 3 tháng, dù có bận đã phải chết đứng tim vì đụng chó sói. Để được toàn tâm với chuyến đi này, tôi thậm chí đã phải vay ngân hàng 3 triệu để mẹ và các em tôi yên tâm sống mà tôi cũng được yên. Tôi còn nhớ, lúc túi rỗng từ rừng đi ra, thèm điên cuồng một cốc càphê, đến nỗi đành nói khó với chị bán hàng: hoặc cho tôi uống chịu hoặc cho tôi uống loại càphê nước hai thôi cũng được. Vậy mà tôi thề rằng, cốc càphê nước hai, thậm chí nước ba ấy chính là cốc càphê ngon nhất trong đời tôi. Trở về trong bộ dạng tiều tụy nhất: tóc rụng hết vì sốt rét, phải nhờ chiến sĩ biên phòng khiêng máy và cáng người về, nhiều tháng sau tóc mọc lại thì trắng như lông lợn bạch, tôi còn bị khiển trách Đảng, bị đẩy xuống "đảng viên loại 2". Từng có lúc, tôi đã phải chạy lên ngọn đồi sau nhà, băm nát một thân cây to và khóc tức tưởi vì cái nỗi "thân làm tội đời" không hiểu nổi ấy ở mình. Cực chẳng đã, tôi đã có lúc bỏ xuống Hà Nội, nhờ bạn bè xin việc nhưng phút cuối cùng, lại quyết về lại.
´ Cảm giác xót xa nhất của chị lúc đó là gì?
- Tôi không ngờ có lúc chỉ vì một mái tóc mà tôi bỗng dưng thấy mình xa lạ, cô đơn đến thế. Ngày tôi còn tóc, mỗi khi tôi về, con tôi còn chạy ra ôm tôi, vén tóc tôi lên để thơm cho bằng hết má mẹ hay như khi tôi gội đầu, quay tròn tóc, con tôi thường vỗ tay cười ran, giờ thì con không làm thế nữa...
´ Vậy mà chị đâu có chừa, vì nghe đâu sau đó chị còn có một chuyến chinh phục sông Đà, ở quãng sông mà Nguyễn Tuân ngày trước chưa kịp đi hết?
- Thực ra, tôi cũng không biết ngày trước cụ Nguyễn đã đi được đến những quãng nào và cũng không hề có tham vọng thay ông hoàn thiện tiếp hành trình ấy. Khác ông (là đi thực tế để tìm cảm hứng sáng tác), tôi mang cảm hứng của một nhà nghiên cứu để đi tìm những cứ liệu sống cho mình. Vạn vật hữu linh, vì vậy, tôi đi để tìm cho được cái nguồn cội, cái hồn cốt ấy của sông Đà. Bỏ ra hơn 2 triệu đồng để thuê một người lái đò, tôi đã có bốn ngày kỳ diệu trên sông Đà - nơi cho tôi cảm giác bỗng dưng được lạc vào một xứ sở tuồng như hoang sơ nhất của loài người bởi những cảnh, những chuyện lần đầu thấy, lần đầu nghe. Toàn bộ những câu chuyện kỳ thú đó, tôi định sẽ viết trong một tập sách có tên "Câu chuyện về dòng sông".
´ Bị Tây Bắc hút hồn đầu tiên là bằng văn hoá Thái, vì sao về sau chị lại nặng lòng với văn hoá Lự?
- Vì đó là một trong năm dân tộc mà ở VN chỉ duy nhất có ở Lai Châu và do họ có ít người (chưa đầy 5 nghìn người), lại sống nơi hẻo lánh nên ít được để mắt. Nếu như tài liệu về người Thái, người Mông... có thể tìm được rất nhiều thì về người Lự, hầu như rất khó. ở VN, Lự bị hiểu là một dân tộc không có chữ viết nhưng khi tôi sang Lào - một trong ba quốc gia nằm trong vệt thiên di của người Lự, lại thấy người ta đang dịch một cuốn sách cổ bằng chữ Lự. Nhiều tập tục ở người Lự cũng chứng minh dân tộc này từng có chữ viết. Trong kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Lự, có một chi tiết nhỏ trên mái được gọi là "mạy con én" (có nghĩa là "cây nâng chân chim én") - điều riêng có ở dân tộc này, cho thấy người Lự rất nâng niu và giao hoà với vạn vật thiên nhiên... Những giá trị tinh thần đó làm tôi thấy xúc động. "Chân dung dân tộc Lự" vì vậy là công trình nghiên cứu tiếp theo mà tôi sắp hoàn thành.
´ Đi nhiều, thấy nhiều, điều làm chị trăn trở nhất là gì?
- Tôi thấy buồn cho những cái gọi là nhà văn hoá tại các vùng dân tộc ít người: tại sao lại cứ phải y khuôn nhau một kiểu nhà "ngói hoá" mà không phải là những kiểu nhà truyền thống của chính dân tộc đó: vừa đỡ tốn kém lại giúp giữ lại dáng xưa...
Chị không lấy chồng, từng nhận đỡ đầu cho ba đứa con nuôi trước và sau khi có con đẻ. Cái duyên, cái phận bắt chị phải chọn một người đàn ông ở xa mà chị yêu nhưng không có được. Khi con lớn lên, chị nói với cháu về người vắng mặt: "Bố đã có mẹ và các con của bố, chúng mình đừng làm phiền bố nữa!". Tấc nói với tôi: chị sợ cái gọi là "nghiệp chướng có tính thế hệ" trong gia đình chị - cái "gia đình của những người đàn bà (đến con chó, con mèo trong nhà cũng toàn sinh con cái)" nên lâu lâu, chị lại đi lễ chùa để cầu phúc cho con.
Tôi toan hỏi chị Tấc là chị có thích bài hát "Chị tôi" của Trần Tiến không vì nghe ra, đời chị giống cái "người chưa lấy chồng" kia quá. Nhưng rồi thấy không đành. Bởi chiếm lĩnh tôi, khi vỡ chuyện, đã không phải là cảm giác thương chị mà là phục chị. Phục đến xót lòng người phụ nữ có cái tên mà khi viết bằng chữ Nho thì "trông như một cái dùi để cắm vào đâu cũng được" và như trong bài thơ "Viết cho ngày sinh" chị viết: "Cha mồ côi - Mẹ mồ côi - Lấy nhau mơ "tấc đất cắm dùi" - Uớc mơ - Vận vào tên tôi - Đất làng chật chội - Cha mẹ mang dùi lên cắm núi - Mọc rễ - Thành cây"...DUỖI CHÂN DUỖI TAY
Cả tuần lao động hăng say
Cuối tuần ta duỗi chân tay cùng cười
Phụ nữ là...
* Phép trừ của túi tiền, phép chia của trái tim, phép nhân của nhân loại và phép cộng của mọi điều rắc rối. (V.Gớt)
* Người khám phá ra chiếc áo lông thú sau khi đàn ông khám phá ra việc săn bắn.
* Người nghĩ ra cách làm muôn vàn món ăn ngon để rồi sau đó... ăn kiêng!
* Người luôn biết giữ bí mật của... bản thân.
* Người thích chồng làm ra tiền nhưng không thích chồng tiêu tiền.
* Người thích đàn ông có chí tang bồng, nhưng sau khi cưới lại giữ rịt anh ta ở nhà.
* Người yêu động vật: Nói "dai như đỉa"; yêu "hiền như nai"; quát chồng như "cọp gầm"; kiểm tra ví chồng "nhanh như cắt"...Nữ xe thồ... xuyên biên giới
(Theo Tuổi Trẻ)
Những chiếc xe thồ siêu hạng chở hàng Việt đến các chợ Campuchia. Chợ Xuân Tô, khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, An Giang một thời tràn ngập hàng ngoại nhập. Nhưng nay chợ có nhiều hàng Việt Nam, nhộn nhịp những tốp xe thồ gắn máy người Campuchia chở hàng xuyên biên giới.
Một nữ tài xế xe thồ tên Mao, 21 tuổi, sạm đen duyên dáng, cho biết, nhà cô ở Phum Thum - Đưng gần cửa khẩu Tịnh Biên, chưa chồng con nhưng đã 9 năm hành nghề thồ hàng. Mỗi lần cô có thể chở tới 2-3 tạ hàng như cái siêu thị di động. “Có gì đâu. Mỗi chuyến từ Xuân Tô qua cửa khẩu đến Tà Lập dài 14 km, kiếm 40.000 đồng. Khá hơn nghề bán than. Ngày trước chị em vào rừng lấy củi, thồ than qua chợ Việt bán mà thành đen như bây giờ”, Mao nói.
Từ khi hàng Việt Nam chất lượng cao nổi lên, các cô mới đi thồ hàng ngược, nghĩa là chở hàng từ Việt Nam sang Campuchia bỏ mối. Cũng kể từ đó Mao sớm đi tối về, có chút tiền dư nhét trần nhà tiết kiệm. Cuối năm 2002, Mao đem sắm luôn chiếc gắn máy MD thay chiếc xe đạp cà tàng cổ lỗ.
Cùng với Mao, trong phum PumchRây còn có Chol, Thi, bà Cà Chập, Cà Chi... chuyển đổi từ nghề thồ than, thồ hàng ngoại nhập lậu sang chở hàng Việt Nam. Tại chợ Xuân Tô này còn rất nhiều tài xế xe thồ khăn rằn quấn cổ hành nghề. “Đơn giản thôi vì chị em giỏi tính toán lại chịu thương, chịu khó nên mua bán thuận thảo, không ế ẩm như mấy ông chồng hay có bệnh sĩ, bệnh tự ái mắc cỡ không chịu đôi co mặc cả dài dòng”, chủ vựa buôn trái cây chợ Xuân Tô - Trương Út giải thích.
Trải qua chặng đường 150 km đất đá, qua 5-6 cái chợ ở đất chùa tháp. Đến quá trưa, chiếc xe máy sơn đỏ MD 70 phân khối của cô Chol không còn chỗ nào để chằng móc hàng nữa, hai cái sề to sau yên xe đã khít rịt hàng hóa. Chỗ ngồi của bà bầu cũng bị mấy bọc sữa Vinamilk, mì tôm Topa, kẹo Pico cấn ép. Chìa cuốn sổ ra, Chol thé giọng bảo: “Thế mới đủ một chuyến trên 20 món hàng gồm bột, bánh, bì, thuốc, xà bông, bột ngọt, gia dụng, ôi thôi không thể kể xiết...”. Nhà Chol neo đơn, chồng đổ bệnh nên cô cáng đáng nuôi cả gia đình.
Xe Chol vừa mất dạng thì xe của vợ chồng bà bầu Thi bình bịch vào bến. Chồng Thi - anh Oanh Thol, 38 tuổi, kể sự tích vào nghề thồ: “Ngày trước tôi đã bị máy suốt lúa nghiền nát cánh tay trái. Tưởng đâu tàn phế, nhưng khi thấy vợ có bầu mà vẫn chạy chợ đường xa nên... lái xe làm thay cho vợ”. Chiếc xe mà trước đó vợ chồng anh tích cóp hai năm trời mới đủ số tiền 1.300 USD mua làm xe thồ. Thùng xe như cái rơmooc có bánh xe hơi, nhíp xe tải, chở mỗi chuyến trên 3 tấn hàng, nhiều gấp chục lần xe gắn máy MD của chị Mao, Chol.
Đến nay ở chợ Xuân Tô, xe kéo rơmooc tự phát như của vợ chồng Thi đã có chục chiếc, chưa kể xe MD trên 40 chiếc nữa đã thồ trên 50 tấn hàng hóa các loại qua biên giới mỗi ngày.
Phan Thị Huyền Thư chọn và giới thiệuThơ trong ngày của mẹnguồn: laodong
Nếu như với Lãng Thanh, mẹ là một "thư pháp" siêu pháp thì Ly Hoàng Ly lại thấy dáng dấp mẹ siêu hình trong im lặng bằng những lấm tấm trắng giọt mồ hôi trên gương mặt ngay cả khi đang cười.
Nếu như Vi Thuỳ Linh nói với đứa con chưa có hình hài trong tâm tưởng của mình về những khát khao một ngày sẽ được đón nhận thiên chức làm mẹ thì Thuý Nga lại muốn kể cho con gái mình về người mẹ của mình, về bà ngoại chưa bao giờ được biết mặt cháu. Còn Hoàng Ngọc Châu cần đến mẹ như đứa con lạc lõng cần nơi ẩn náu giữa cuộc đời hối hả với "những của rơi nhặt được không trả". Riêng Bảo Trân lại muốn nhắn nhủ với chính mình bằng lời dạy của mẹ: biết tha thứ cho người đàn ông làm cho mình khổ đau. Và, nếu như Bế Kiến Quốc nhận thấy mẹ trong "nỗi đau di truyền" là nỗi đau... tim thì Nguyễn Khắc Thạch lại thấy nỗi đau ấy của mẹ như san hô dưới thẳm sâu lòng biển...
Mỗi người một giọng, mỗi người một sắc thái, mỗi người một điểm nhìn và mỗi người một phản xạ riêng với tình mẫu tử , nhưng họ vẫn gặp nhau trong một trang thơ viết dành cho mẹ, trong ngày của mẹ. Họ gặp nhau khi họ đã cùng trở về một điểm xuất phát đầu tiên của mỗi con người... Trong số những nhà thơ này, có hai người là Bế Kiến Quốc và Lãng Thanh đã không còn nữa.Bế Kiến Quốc
Nhớ mẹBuồn hay vui, con cũng đã quay về
Đi lẫn vào dòng người vừa tan tầm Máy Dệt
Những hạt bông trên áo quần, trên tóc
Ai thì không nhận ra, con thì con nhận ra
Vì ngày xưa khi tan tầm về nhà
Mẹ cũng có những hạt bông như thế
Và thời gian - khi con còn bé
được chia theo thời gian của mẹ, thành ca sáng, ca chiều, ca đêm
Và căn bệnh đầu tiên mà con biết, là từ mẹ: bệnh tim
Vì thế, khi thấy con làm thơ, mẹ buồn nhưng chẳng nóiGiữa nghề dệt ngôn từ với nghề dệt vải
Mẹ biết, chọn nghề gì con cũng gặp gian nan
Giờ thì muộn rồi. Ca sáng vừa tan
Những người thợ ra về - những hạt bông trên áo quần, trên tóc...
Bốn mươi năm... ngỡ có gì đâu khác?
Chỉ mẹ đã không còn. Và con lại bệnh tim...
Lãng Thanh
Thư phápMẹ ơi! Ngòi bút của con mềm dịu như gió
Con phiêu lãng cùng non tận thuỷ,
Nhưng những đoá hoa đánh con đau quá,
Con trở về băng vết máu đầy tay.
Ngòi bút của con điên cuồng như gió:
"Vị ái danh hoa để tử cuồng"
Mẹ ơi! Khóc sau lưng mẹ!
Con hái trộm nhiều hoa Chămpa thả trôi sông xanh
Nhưng con muốn tên dòng sông chảy về cửa bể
Con đổ cả nghiên mực rồi, cùng giỏ hoa Chămpa buổi mai
ơi những cánh hoa bé bỏng!
"Bất tận Trường Giang cổn cổn lai"
Mẹ nói đi, không phải mẹ buồn vì cha của con đâu,
mẹ khóc vì con làm vỡ chiếc bình thuỷ tinh...
Xưa những ngày đói ăn con đâu biết quê mình nghèo quá,
Con ngỡ mẹ độc ác giấu bánh của con, cặp sách của con...
con căm ghét mẹ...
"En L'envol fou des mots"
Trái tim con nghiêng giấc ngủ về phía mặt trời
Đất mẹ ơi, có nhận ra con đang say sưa hát
theo khúc ca của Rabindranath Tagore
Con yêu những khúc ca phương Đông
"Nhật mộ hương quan hà xứ thị"
Buổi sớm mai trở dậy tim con mọc ở đằng Đông
Nét cuồng thảo vọt như máu, ngưng như lệ
Sóng bút điên cuồng nương theo áng thơ
Cánh tay dịu dàng của thơ bao la như biển mẹ
Điên cuồng chữ bay, điên cuồng chữ bay, điên cuồng chữ bay...
Chữ phương mô ngậm hồn trong bóng nguyệt:
"Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân".Bảo Trân
Lời mẹ dặnChỉ mong ngày lớn khôn
con biết bằng lòng với vầng mặt trời mẹ đã thắp cho con
sau cơn mưa ngày trước
Bàn tay bé bỏng này sẽ biết nấu cơm, sẽ đan áo ấm cho người đàn ông con yêu
Con đừng đánh rơi ánh mắt đắm đuối của mình xuống sông sâu
không vớt lên được đâu chỉ toàn rong rêu tan nát
Nếu con đã chạy chân trần trên cát
thì đừng sợ lấm
hãy để cát an ủi bàn chân con
đừng ngoái lại tiếc ngôi sao lấp lánh như hạt kim cương
của chiếc nhẫn đính hôn thần thoại
không giữ được đâu cái hạnh phúc mơ hồ ấy
Ai đó đã từng đánh rơi, đã từng vấp ngã
đã giấu vào bình minh
một ngôi sao Mai - giọt nước mắt cuối cùng
Chỉ mong ngày lớn khôn
nắng sẽ lau khô nước mắt trên má con
Con biết tha thứ cho người đàn ông nào làm con đau khổ.
Vi Thuỳ Linh
Đôi cánh của mẹ
Cho những đứa bé năm 2005.Mẹ nghĩ
Con có thể kiêu hãnh về mẹ và cha
Từ lúc còn nằm trong cha và mẹ
Mẹ viết đến tiều tụy
Dù vì thế, mẹ phải sớm lìa đời
Những gì mẹ làm sẽ cho mẹ sống
Những người thân của chúng ta liên miên đau ốm
Mẹ thì không khoẻ
Nhưng
Hercule không phải thần tượng của chúng ta
Tình yêu mạnh hơn thần quyền, vô hiệu hoá những áp đặt
Mẹ triệt tiêu nỗi khổ nhọc bằng sự dữ dội ẩn nhẫn
Bằng khao khát con, chế ngự tâm hồn.
Con,
Ước mơ vĩ đại, dẫu cho ngày tuyệt diệt
Giữa những ước mơ hỗn độn và giả tạo đầy rẫy xung quanh
Cánh tay mệt lả của mẹ vẫn là đôi cánh bền vững
Hãy bay cao từ khi đôi bàn chân bé nhỏ của con bấm vào ngực mẹ.
Hoàng Ngọc Châu
Bài thơ tặng mẹĐùm cho con một chút tình thương mẹ ơi
Người đời mà ngoắt ngoay
Con sẽ dụ họ vay tình thương nặng lãi
Cho con nhiều balô tình yêu mẹ ơi
Năm năm chiến trường bố nhầm báo tử
Giờ balô ấy nhiều người chỉ đeo có một ngày hay một giờ
San cho con một dúm niềm tin mẹ ơi
Kháng chiến xưa ba ngày hay ba ngàn ngày nhỉ
Con tãi ra đời
Triệu người nhặt của rơi
Không trả
Gói ghém cho con hành trang ngày mai mẹ ơi
Con lên đường, mình mẹ yêu ở lại
Tình thương, niềm tin, lạc quan hay khờ dại
Con của mẹ giàu rồi chắc sẽ tới ngày mai.
Nguyễn Khắc Thạch
Ký ức của mẹ
Mẹ vẫn chờ con trong từng hơi thở
Hai chục năm dư chẳng đứa nào về
Mọi cánh cửa đều khi cài khi mở
Riêng lối con về mẹ mở cả trong mơ
Ký ức như lòng biển hoá san hô
Những đứa con mang hình hài nỗi nhớ
(Những người lính không bao giờ về nữa)
Mẹ vẫn chờ trên trống rỗng niềm tin
Mẹ đã chờ xanh lại xác thời gian
Mẹ ngỡ con còn chơi trốn tìm đâu đó
Những đứa con mang hình hài nỗi nhớ
Ký ức mẹ là lòng biển hoá san hô...
Tuyết Nga
Nói với con về bà ngoại
Con sẽ như giọt nắng
trước hiên bà mùa đông.
Giọt nắng tìm kim
giọt nắng quét nhà
giọt nắng sún răng lò cò quanh cửa
giọt nắng ỷ eo theo bà đi chợ
lễ mễ khiêng cả chiếc bánh đa tròn.
Con sẽ như chú mèo nhỏ cuối vườn
đánh đổ ông trăng xuống nơi đáy nước
trán sưng u và áo quần lấm láp
rón rén leo lên ôm gối ngủ vờ.
Con sẽ như...
như chú cún còi
ăn một bát cơm hết ba chuyện cổ
hạt dẻ, thảm bay, đèn thần, chổi quỷ
thế giới thần tiên nấp phía lưng bà.
"Bà yêu con không?"
"Con sẽ là gì?"
đôi mắt thỏ nâu suốt ngày hỏi mẹ.
Dù con sinh, bà đã không còn nữa
nhưng bà yêu con từ xửa từ xưa
bà gửi cho con hoa trái mùa thu
đàn ong tháng 3
ông trăng tháng 6
bà gửi cho con
mẹ
và câu hát...
mai con lớn rồi vẫn đủ yêu thương.
Ly Hoàng Ly
Cây ngà voi và mẹ
Kính yêu tặng bố mẹCây ngà voi đâm tua tủa vào góc căn phòng
Đâm lên bức tranh người đàn ông say rượu
Tôi hớt hải đi tìm điều đã mất
Tôi đâm vào chính tôi
Tường đã rạn nứt
Xà nhà mọt ăn gần hết
Còn gì!
Mẹ tôi tưới hoa đầu nhà
Những cánh hồng-hồng tê tái
Mẹ tôi rỏ giọt cánh hoa
Mồ hôi,
Lấm tấm trắng mặt
Tôi đi tìm người yêu tôi
Đã mất - người tôi yêu
Nắng soi vào ký ức
Có những cành ngà voi xanh thẫm
Đâm vào chén rượu
Người đàn ông say đỏ gục mãi đầu.
Người ơi,
Có mối tình nào bền lâu
Bằng tình yêu của mẹ
Ra đầu nhà
Cùng mẹ tưới hoa
Ngắt đi những nhành hồng đã chết
Nghe nắng soi ấm nụ non
Vươn mình dậy
Hồng tươi
Người đàn ông say không còn thức dậy trong tôi
Cây ngà voi đâm thẳng vào hư vô
Bật khóc
Mẹ mỉm cười
Lấm tấm trắng mồ hôi.