Mai Thanh Truyết
Arsenic: Một Hóa chất độc hại âm thầm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam
nguồn: khoahoc.net
Viễn ảnh ô nhiễm arsenic trong nguồn nước sinh hoạt ở Việt Nam, đặc biệt là vùng ĐBSCL đang là một thực tế cần phải đối phó. Vấn đề hiện nay là phải cố tìm một phương cách giải quyết để cứu nguy những người nông dân chất phác trước khi vấn nạn nầy biến thành nguy cơ trầm trọng ảnh hưởng đến hàng triệu người dân như trường hợp ở Bangladesh. Là một chuyên viên trong việc quản lý và xử lý môi trường tại Hoa kỳ trên 20 năm, chúng tôi đã hằng lưu tâm đến những vấn đề môi sinh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí. Nhưng từ khi Hội nghị Thượng đỉnh về Toàn cầu hóa tại Rio de Janeiro năm 1992 tại Ba Tây, vấn đề Việt Nam trở thành ưu tiên hàng đầu của chúng tôi trong nghiên cứu.
Năm 1997, chúng tôi đã đọc bài tham luận về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở thành phố Hồ chí Minh trong ngày Đại hội của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VAST) tại khách sạn Hyatt, Garden Grove. Tiếp theo đó, trong năm 1998, chúng tôi đã cảnh báo vấn nạn DDT và nitrate hiện diện trong nguồn nước ở ĐBSCL. Và sau cùng, ô nhiễm arsenic trong nguồn nước trở thành trọng tâm của chúng tôi sau khi vấn đề arsenic ở Bangladesh và Tây Aán độ đã được thế giới xem như là một thảm nạn của thế kỷ. Thảm nạn nầy ảnh hưởng lên hơn 50 triệu người sống trong vùng sau hơn 25 năm được UNICEF tài trợ, khoan đào hơn 4 triệu giếng với mục đích để cho người dân có nguồn “nước sạch”.
Qua kinh nghiệm ở Bangladesh, arsenic đã nằm yên trong trầm tích cho đến khoảng 1960. Vì muốn tránh cho người dân bị nhiễm do vi trùng dịch tả, thương hàn, kiết lỵ, các cơ quan viện trợ quốc tế qua UNICEF đã khích lệ việc dùng nước giếng để giải quyết vấn nạn do các bệnh tật gây ra. Nhưng từ đó, hệ lụy trước mắt là thảm nạn arsenic bộc phát vào những năm 90 tại nơi nầy.
Nguyên nhân ô nhiễm arsenic
Sông Hằng hà (Ganges) bắt nguồn từ rặng Hy Mã Lạp sơn mang phù sa xuống đồng bằng hạ lưu là Bangladesh; hiện tượng nầy cũng tương tự như sông Cửu Long, phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, và ĐBSCL là hạ lưu sau cùng của dòng sông trước khi chảy vào biển Thái Bình. Cấu trúc của hai cao nguyên ở vào niên đại đệ tứ. Phù sa có màu rỉ sắt quen thuộc ở miền Nam Việt Nam, đó chính là arseno-pyrite với công thức hóa học là As-FeS2. Chất nầy mang nguồn arsenic trong thiên nhiên và không hòa tan trong nước. Chính vì lý do tương tự sau khi so sánh hai dòng sông khiến cho chúng tôi lưu tâm đến vấn đề nhiễm độc arsenic tại Viêt Nam. Từ xa xưa, người dân ĐBSCL có thói quen đánh phèn bằng hàn the (borax) hay phèn chua trước khi dùng. Theo năm tháng phù sa tích tụ ở trong lòng đất sâu. Trong khi đào giếng, arseno-pyrite tiếp xúc với oxy trong không khí và qua phản ứng oxyd hóa và khử, arsenic được phóng thích, hòa tan trong nước dưới dạng arsenite và arseniate, chính chất sau cùng là nguyên nhân làm nhiễm độc nguồn nước.
Với mục đích truy tìm thêm thông tin, chúng tôi, qua email, đã hội ý với giáo sư Chappel, thuộc viện đại học Colorado ở Denver, và là Điều tra viên chính (Chief Investigator) của Hoa kỳ về điều tra và xử lý ô nhiễm tại Bangladesh. Chúng tôi cũng nhiều lần trao đổi với giáo sư qua Hội nghị Quốc tế về Arsenic tổ chức hàng năm tại San Diego. Mãi đến đầu năm 1999, chúng tôi mới có điều kiện trực tiếp đặt vấn đề với cơ quan UNICEF có trụ sở đặt tại Hà Nội qua một tài liệu nghiên cứu ban đầu do chúng tôi soạn thảo. Nhưng UNICEF vẫn giữ thái độ im lặng. Trong lúc đó, UNICEF tiếp tục khuyến khích và thúc đẩy công cuộc đào giếng, đặc biệt là vùng ĐBSCL. Tính đến nay, có thể ước lượng được trên 300.000 giếng khoan hoặc đào cho vùng nầy, nơi mà người dân có thói quen xử dụng nguồn “nước mặt” và đánh phèn trước khi dùng.
Thu thập dữ kiện và phân tích các mẫu nước
Với những trao đổi trực tiếp và qua các tài liệu tham khảo về nguy cơ ô nhiễm arsenic trên thế giới, chúng tôi bắt đầu thu thập dữ kiện. Qua bạn bè và thân nhân có dịp về thăm quê hương, chúng tôi chuẩn bị sẳn các chai lọ đặc biệt để chứa mẫu nước và nhờ họ đi lấy mẫu ở tất cả những nơi đã thăm viếng. Các mẫu nước được thu thập từ Hà Nội đến tận vùng ĐBSCL và được phân tích tại Hoa kỳ.
Kết quả đã được công bố trong ngày Hội thảo do HKHKTVN tổ chức tại đại học Santa Ana vào tháng 11, 2000. Tuy là kết quả ban đầu và cần phải phân tích thêm nhiều mẫu nữa, nhưng chúng tôi có thể kết luận rằng nguồn nước ở nhiều vùng tại ĐBSCL đã bắt đầu bị nhiễm độc arsenic. Các mẫu nước thu thập đã được phân tích tại phòng thí nghiệm ở California do chính chúng tôi phụ trách về an toàn sản phảm và kiểm soát chất lượng. Có tất cả 22 kim loại, 70 hợp chất hữu cơ, và 7 anions đã được phân tích cho mỗi mẫu. Mục đích của các cuộc phân tích nầy là để truy tìm sự hiện diện của arsenic, cùng các hợp chất hữu cơ trong nước. Chúng tôi đã phân tích các mẫu nước ở nhiều nơi trong những tỉnh ở miền Nam sau đây: Biên Hòa, Sàigòn, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Châu Đốc, Sóc Trăng, Sa Đéc và Tân Châu. Hiện tại ở nhiều nơi, nồng độ arsenic đã đạt đến mức giới hạn của tiêu chuẩn an toàn do Liên Hiệp Quốc quy định là 10 ug/L (ppb - phần tỷ).
Ngoài sự hiện diện của arsenic dưới dạng phù sa arseno-pyrite như đã nói trên, các cuộc nghiên cứu năm 1999 do TS Gustafson (Thụy Điển) tại ĐBSCL cho thấy hàm lượng của arsenic trong đất ở vùng nầy khá cao từ 20 - 130 mg/Kg so với mức trung bình trong thiên nhiên là 4 mg/Kg. Thêm nữa, việc xử dụng quá tải các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cũng có thể là một nguồn cung cấp arsenic trong nguồn nước và lòng đất vì arsenic là một trong những tác nhân chính trong việc điều chế các loại thuốc kễ trên.
Ảnh hưởng của Arsenic lên con người
Đây là một ảnh hưởng dài hạn. Trường hợp xảy ra ở Bangladesh cho chúng ta rõ nét về di hại do sự hiện diện của arsenic trong nguồn nước. Tùy theo mức độ xâm nhập vào cơ thể con người, những hội chứng do sự nhiễm độc arsenic thay đổi theo thời gian. Từ việc da ở lòng bàn tay, bàn chân cho đến vùng da ở trước ngực trở thành đen xậm do việc arsenic tích tụ trong cơ thể từ 5 đến 10 năm. Đó là một trong những chứng bịnh có tên là arsenicosis. Sau hơn 15 năm bị nhiễm độc, các bộ phận trong cơ thể như gan, thận, lá lách bị sưng to, hệ thống thần kinh, đường hô hấp bị suy thoái. Sau hơn 20 năm trở đi, các chứng ung thư gan, lá lách, bàng quan, thận bắt đầu xuất hiện. Hàng năm số tử vong ở Bangladesh vì arsenic lên đến hàng trăm ngàn người. Như vậy, phải cần một thời gian dài mới cảm nhận được mức nhiễm độc của arsenic; và việc giải thích cho người dân hiểu được nguy cơ ô nhiễm trên quả thật rất khó khăn.
Arsenic và Việt Nam
Hàng năm tại Việt Nam, nhà cầm quyền đều có tổ chức hội thảo về tình trạng môi trường ở Việt Nam. Theo chỗ chúng tôi được biết, đúc kết của hội thảo chỉ nhắm trọng tâm vào các vấn đề ô nhiễm chung trong không khí, nguồn nước, và lòng đất. Đại loại là để cảnh báo tình trạng môi trường xuống cấp mà thôi.
Vào tháng 8 năm 2000 có một cuộc hội thảo về ô nhiễm arsenic tại Hà Nội. Nơi đây, các cuộc điều tra về ô nhiễm arsenic đã được các khoa học gia Việt Nam thực hiện. Như Tiến sĩ Đỗ Trọng Sự cảnh báo từ năm 1997. Sang năm 1999, có hơn 1.200 mẫu nước giếng ở vùng Hà Nội đã được phân tích và 12.5% trong số đó có hàm lượng arsenic cao hơn 50 ug/L (báo Lao Động ngày 6/3/2002). Trong năm 2000, Viện Địa lý thực hiện 498 mẫu và tìm thấy 27% số mẫu có hàm lượng arsenic cao hơn 50ug/L. Đăc biệt hơn nữa là, tiến sĩ Ngô Ngọc Các thuộc Viện Địa lý Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia đã công bố kết quả điều tra và kết luận là nước giếng khoan ở Hà Nội bị nhiễm rất nặng (517 mẫu trên 925 mẫu có hàm lượng cao hơn 50 ug/L). Quả thật chúng tôi hoàn toàn không hiểu vơí những khám phá vừa kễ trên đã có trước khi hội thảo, mà không thấy ai đề cập đến vấn đề nầy? Tại sao để mãi đến năm 2002, Việt Nam mới cho dư luận trong nước biết đến vấn nạn nầy?
Vào cuối tháng 8/2002, Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường tỉnh Hà Nam có báo cáo là trên 50% mẫu phân tích (29/56 mẫu) có hàm lượng arsenic cao hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam trước đây là 0,05 mg/L. (Tiêu chuẩn mới của Việt Nam hiện tại là 0,01 mg/L, phù hợp với tiêu chuẩn của LHQ).
Ở Hà Nội, theo kết quả nghiên cứu của UNICEF vào năm 2000 và 2001 thì vào mùa khô có 35% giếng bị ô nhiễm arsenic, và vào mùa mưa, 18%. Cũng theo UNICEF, tỉnh Ninh Bình có 10% số mẫu đã vượt quá 0,05 mg/L, Nam Định 9%; tương tự như ở Sơn La, Phú Thọ, Hải Phòng, Bắc Giang, và Thanh Hóa.
Tại Hoa Kỳ, trong ngày Hội thảo năm 2000 tại đại học Santa Ana, các bài phát biểu bằng Anh ngữ và Việt ngữ đã được các báo chí tại hải ngoại đăng tải. Tuy nhiên chúng tôi không ghi nhận được phản ứng nào của chính quyền Việt Nam trong thời gian nầy.
Mãi cho đến ngày 03/01/2002, nhật báo Orange County Register cho đăng tải bài phỏng vấn chúng tôi và kỹ sư Nguyễn Minh Quang về tình trạng môi trường và các vấn nạn ô nhiễm hóa chất ở Việt Nam, họ mới có phản ứng rất tiêu cực hướng về phía chúng tôi. Phản ứng đầu tiên là phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Việt Nam lúc bấy giờ đã kết án chúng tôi là “loan tin không có cơ sở và có dụng ý xấu”.
Tuy nhiên, gần đây chính thủ tướngViệt Nam hiện tại Phan văn Khải đã nhìn nhận vấn đề ô nhiễm sẽ là một thảm trạng lớn của Việt Nam. Sau khi báo Lao Động đăng tải các kết quả đo đạc của các khoa học gia chúng tôi vừa nói trên, có một sự kiện cần phải nêu ra là, vào cuối tháng tư năm 2002, thủ tướng Phan Văn Khải của chính quyền hiện tại đã công bố chính thức rằng nạn ô nhiễm arsenic trong nguồn nước có thể là một thảm nạn trong tương lai cho Việt Nam cũng như đã chỉ thị cho Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phải lập phương án, điều tra và nghiên cứu vấn đề nầy. Khi nghe được tin nầy, chúng tôi không nghĩ rằng họ đã nghe được những lời cảnh báo của chúng tôi mà thi hành biện pháp kễ trên; tuy nhiên chúng tôi cũng cố gắng có một suy nghĩ tích cực là ước mong cho chỉ thị trên trở thành hiện thực!
Và cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn không rõ có những bước tiến bộ nào trong việc thẩm tra và nghiên cứu sự hiện diện của arsenic trong nguồn nước ở Việt Nam.
Arsenic và ĐBSCL
Có nhiều nguyên nhân làm cho chúng tôi chú trọng đến vùng ĐBSCL. Thứ nhất là các liên hệ tương tự về địa chất và dòng chảy của hai dòng sông Hằng Hà và Cửu Long, cũng như thảm nạn ở Bangladesh đả xảy ra do nguyên nhân mà UNICEF đang cổ súy ở Việt Nam qua việc khoan giếng. Thứ hai, kết quả phân tích của chúng tôi đã cho phép chúng tôi kết luận là arsenic đã hiện diện trong nguồn nước ở ĐBSCL. Thứ ba và quan trọng hơn hết là theo các cuộc nghiên cứu, vùng ĐBSCL là vùng đất phèn, bị nhiễm mặn thường xuyên, và nhiều nơi có độ pH thấp hơn 2 (acid) (pH trung hòa là 7). Chính ba yếu tố trên là những tác nhân kích thích sự phóng thích arsenic vào nguồn nước có thể với vận tốc nhanh hơn như đã xảy ra ở Bangladesh (khoảng 25 năm). Do đó chúng tôi tự thấy có trách nhiệm cần phải đẩy mạnh cuộc khảo sát ở vùng nầy vì đây là quê hương của hơn 20 triệu người dân chất phác ở miền Nam Việt Nam.
Hướng giải quyết ô nhiễm arsenic
Trước khi trình bày các biện pháp giải quyết tình trạng nhiễm độc arsenic, thiết nghĩ việc truy tìm sự hiện diện của nguyên tố nầy là một việc làm ưu tiên và cần thiết. Có rất nhiều cá nhân hay cơ quan trên thế giới đang tập trung trí tuệ để cố gắng tìm ra một hệ thống thử nghiệm tại hiện trường (field test kit) dựa trên các tác dụng hóa học và vật lý. Tùy theo điều kiện thí nghiệm, các phương pháp nầy cho thấy mức độ chính xác tương đối, cho phép chúng ta ước lượng ban đầu tình trạng nhiễm độc ở những vùng khảo sát.
Theo ông Đặng Dương Bình, thuộc Sở KH, CN và Môi trường Hà Nội cho biết, thành phố đã chỉ đạo việc tuyên truyền cho người dân về vấn đề nầy, phổ biến những thiết bị xử lý đơn giản, và đẩy nhanh việc gọi thầu để xử lý những khu ô nhiễm cao vào tháng 2/2003. Thành phố cũng đầu tư 1 tỷ đồng cho công tác nghiên cứu địa hóa môi trường Việt Nam cũng như công tác nghiên cứu công nghệ xử lý arsenic ở quy mô công nghiệp cho các nhà máy cấp nước. Ngoài ra, UNICEF cũng đã đàm phán với Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sĩ (SDC) để chuẩn bị một dự án nghiên cứu 3 năm ở đồng bằng sông Hồng và sau đó ở ĐBSCL.
Hiện tại, Việt Nam chỉ sản xuất những hệ thống lọc arsenic cho các đơn vị gia cư và chưa có công nghệ nào có quy mô công nghiệp lớn cả. Và các hệ thống xử lý nói trên dựa theo phương pháp cơ, lý học, thiết nghĩ khó có thể tách rời được arsenic đã hòa tan trong nguồn nước.
Chúng tôi qua Hội KH&KT Việt Nam đã có hướng xử lý những vùng nước bị nhiễm độc, với mục tiêu là cố truy tìm những phương thức rẽ tiền thích ứng với điều kiện Việt Nam, mặc dù trên thế giới đã có quá nhiều biện pháp để giải quyết hữu hiệu bằng các phương pháp hóa học, vật lý như: dùng hydroxid sắt III, phương pháp thẩm thấu nghịch (reverse osmosis), trao đổi ion v. v.. .. Những phương pháp nầy đòi hỏi thiết bị tối tân và chi phí cao, không thể thực hiện được trong điều kiện Việt Nam hiện tại.
Do đó, chúng tôi nghiên về các phương pháp thiên nhiên như việc dùng thực vật để khử arsenic. Qua tham khảo chúng tôi được biết tiến sĩ Leno Ho, thuộc đại học Florida đã khám phá và chứng minh được rằng một loại cây thuộc họ dương xỉ (fern) có tên là Pteris Vittata có khả năng hấp thụ 755mg/Kg arsenic trong vòng 2 tuần lễ. Và theo kỹ sư Nguyễn Minh Quang, cũng như đã kiểm chứng lại với quyển tự điển Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ, cây nầy chính là cây rau Rán, mọc dọc theo các bờ kinh hay sông rạch ở vùng Tân An, quê của anh. Tuy không tìm được cây dương xỉ trên, chúng tôi đã tìm được một loại tương tự, cây Nephrolepis Oblitera, có bán tại các tiệm bán hoa để làm thí nghiệm bằng cách cho thêm dung dịch có chứa nồng độ arsenic cao vào trong đất. Đất và lá cây được phân tích arsenic trước và sau hai tuần lễ. Kết quả tuy không đạt được như khám phá của tiến sĩ Ho, nhưng phương pháp nầy là một khích lệ cho việc khử arsenic trong nguồn nước. Cuộc nghiên cứu vẫn còn đang tiếp tục. Và mới đây nhất (3/2005), trong một báo cáo khoa học của TS Parvez Haris, thuộc VĐH Leicester, Anh Quốc đã chứng minh việc dùng rễ cây lục bình (water hyacinth, tên khoa học là Eichhornia Crassipe) để khử arsenic. Rễ cây khô được xay nhuyễn có khả năng hấp thụ As trong một dung dịch có nồng độ 200 phần tỷ trong vòng 60 phút. Và phương pháp nầy đang dudợc áp dụng ở Bangla Desh.
Trong hiện tại, người dân chất phác ĐBSCL chưa ý thức được vấn nạn nầy. Do đó, trách nhiệm cấp bách của nhà cầm quyền là phải cảnh báo cho ngưới dân biết. Một lần nữa, qua các cuộc thăm dò, điều tra từ hơn 5 năm nay, chúng tôi chắc chắn rằng nạn ô nhiễm arsenic trong nguồn nước, đặc biệt ở vùng ĐBSCL là một thực tế, một sự thật không cần phải chứng minh thêm nữa. Do đó, việc làm cấp bách trong hiện tại là phải tìm những phương cách để chế ngự nhiễm độc, song hành với việc truy tìm những phương sách khác để cung cấp nguồn nước an toàn cho người dân ĐBSCL
Việc xử dụng nguồn nước mặt sau khi đánh phèn là một thói quen mà người dân vùng ĐBSCL đã áp dụng từ ngàn xưa, hiện nay vẫn còn giá trị không những về mặt tập tục mà vẫn bàng bạc tính khoa học trong phương cách đối phó vơi thiên nhiên. Thêm nữa, vũ lượng hàng năm ở ĐBSCL hơn 2000 mm; điều nầy sẽ giúp người dân có đủ lượng nước sạch tiêu dùng cho nhu cầu ăn uống cả năm nếu người dân có phương tiện trử nước trong mùa mưa.
Thêm nữa, việc lạm dụng nguồn nước hiện có qua các giếng đào để đẩy mạnh nông nghiệp và chăn nuôi đã và đang gây ra hậu quả không lường được là môi trường bị ô nhiễm qua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tệ hại hơn nữa là mạch nước ngầm đã bị sụt giảm. Tính đến năm 2003, mạch nước ngầm của tỉnh Trà Vinh giảm từ 2 đến 2,5 m do sự hiện hữu của hơn 50.000 giếng đào tại đây. Điều nầy sẽ giúp cho nước mặn có cơ hội tiến sâu vào đất liền trong mùa khô, và làm giảm diện tích đất canh tác. Chúng tôi mong rằng các nông dân vùng ĐBSCL lưu ý vấn đề nầy.
Vừa qua có một cuộc hội thảo vể ô nhiễm arsenic đã diễn ra tại Hà Nội do Viện Y học Lao động tổ chức ngày 8/12/2004, chúng tôi đã theo dõi và được biết là trong cuộc hội thảo nầy, kết luận của Viện Công nghệ Môi trường là:”Các tỉnh đồng bằng sông Hồng đang có hiện tượng ô nhiễm arsenic trong nước ngầm vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và Tổ chức Y tế thế giới là 10 ug/L”. Kết quả cho thấy trên toàn quốc, ước tính khoảng 13,5% dân số đang xử dụng giếng khoan có nguy cơ bị nhiễm arsenic cao. Về ĐBSCL, TS Nguyễn thị Phương Thảo cảnh báo rằng tỉnh Đồng Tháp, An Giang có dấu hiệu bị ô nhiễm. Và sau cùng TS Nguyễn Khắc Hải đã công bố một nghiên cứu về 11 gia đình đã xử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, và tỷ lệ người bị mắc bịnh sơ cứng ngoài da, khô da, dày da quá cao. Đây là giai đoạn đầu (khoảng 5 năm) của việc nhiễm độc arsenic dài hạn. Từ đó sẽ dẫn đến giai đoạn ung thư sau khoảng 20 năm bị tiếp nhiễm.
Trong khuôn khổ quốc gia và đứng về phía chính quyền hiện tại, chúng tôi nghĩ, họ cần yêu cầu UNICEF chấm dứt việc khuyến khích và tài trợ công tác đào và khoan giếng, và thay thế bằng việc tài trợ cho việc lấp đặt hồ chứa công cộng và thiết lập hệ thống khử trùng bằng tia cực tím cho người dân ĐBSCL như việc họ đã tài trợ các hồ chứa nước mưa cho cư dân vùng chiến khu Lê Hồng Phong cũ là Bàu Cá ở Ninh Thuận vào năm 2003. Cũng cần nói thêm là vào ngày 22 và 23 tháng 4,2005 vừa qua, Hội nghị Môi trường tòan quốc đã diễn ra tại Hà Nội. Trong 204 đề tài công bố chúng tôi thấy có hai đề tài nói về việc xử lý arsenic bằng phương pháp hóa học qua giải pháp oxid đồng kết tủa (oxidation co-precipitation) do Nguyễn Thế Đồng và giải pháp dùng quặng mangan dioxit (quặng pyzoluzite) để tách loại arsenic trong nước ngầm của Nguyễn Thị Hà. Đây là hai phương pháp hóa học không thể áp dụng để xử lý As trong nguồn nước sinh hoạt được vì không hiệu quả kinh tế và không thực tế.
Thêm nữa, Việt Nam cũng cần phải có kế hoạch và nhân sự giải thích cho người dân hiểu được nguy cơ nhiễm độc arsenic và mức độ nguy hiểm cùng cách xử dụng đúng đắn các lọai thuốc bảo vệ thực vật để tránh những vụ ngộ độc hoặc tai nạn cho người dân như đã xảy ra thường xuyên, vì thông tin và giáo dục người dân là biện pháp phòng bị hay nhất trước các vấn nạn môi trường đang xảy ra ở Việt Nam.
Mai Thanh Truyết
VAST 5/2005
Chữ Nghĩa của Bùi Bảo Trúc
nguồn:geocities.com.tgbt
QUÍ VỊ
Quí là tiếng gọi tôn người mà chúng ta đang nói chuyện, đang đối thoại.
Thí dụ quí hữu, quí quốc, quí quyến.
Vị là tiếng gọi người một cách kính trọng. Thí dụ quí vị, liệt quí vị, vị thẩm phán, vị tổng thống...
Những chữ này thường là để gọi tôn người khác. Nhưng chính người ấy thì không gọi mình là “vị” bao giờ vì một chút khiêm tốn tối thiểu.
Quí vị là những tiếng để nói tôn người chúng ta đang đối thoại.
Mấy người, tụi bay, chúng bay là những cách gọi xách mé thiếu tôn kính.
Khi đã dùng hai chữ “quí vị” thì cách nói và những tiếng đi kèm cũng phải cho thấy sự tôn kính.
Mấy hôm gần tới Ngày Của Mẹ, người ta nghe thấy những quảng cáo chào hàng kêu gọi thính giả đưa các bà mẹ đi dùng bữa ở ngoài đường để mừng ngày Mother’s Day. Có những quảng cáo nghe thấy những chữ rụng rời tay chân: "Hãy đưa mẹ quí vị đi ăn ở ...”
Đã quí vị rồi thì cũng nên dùng những chũ bớt thông tục đi một chút chứ nghe “mẹ quí vị” thì kỳ quá.
Ít ra thì cũng phải nói “quí vị hãy mời các cụ / quí thân mẫu đi dùng bữa ở ...”
Chứ “mẹ quí vị” mà còn gằn giọng một chút thì có khác gì chửi mẹ quí vị không nào?
LAME DUCK PRESIDENT
Tổng thống Bsh đang ở nhiệm kỳ thứ hai. Ông sẽ không còn có thể ra tranh cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Danh từ chính trị Hoa kỳ gọi ông là một con vịt què, tổng thống vịt què, lame duck president.
Tại sao?
Những con vịt trời khi bay luôn luôn nhoai cổ ra phía trước, hai chân duỗi thẳng ra phía sau để không bị gió cản. Con vịt què thì không duỗi thẳng chân ra được nên bay chậm, không bắt kịp những con khoẻ mạnh trong đàn. Từ đó, hai chữ lame duck được dùng để chỉ một nhân vật chính trị sắp mãn nhiệm kỳ và không còn có thể phục vụ thêm một nhiệm kỳ nữa.Lame duck bắt đầu được dùng từ những năm 1920 trong các sinh hoạt chính trị Hoa kỳ, nhưng gốc của nó là ở nước Anh từ những năm 1830 để chỉ một doanh nhân bị phá sản, không còn làm ăn buôn bán được nữa.
Cũng từ con vịt, còn có các thành ngữ khác như sitting duck nghĩa là dễ bị tấn công mà không chống đỡ tự vệ đưọc; queer duck là kỳ cục; dead duck là rồi đời, tới số.
ILEGALES
Ilegales là danh từ tiếng Tây Ban Nha nghĩa là những người bất hợp pháp, mà hầu như luôn luôn là những di dân bất hợp pháp.
Nhưng rồi gọi như thế thì ... thật quá, đau lòng chiến sĩ quá nên người ta dùng những uyển ngữ để gọi cho đỡ huỵch toẹt và xúc phạm danh dự của các vị này.
Lúc đầu, vì có nhiều người Mễ lội sông Rio Grande sang đất Mỹ, lên đến bờ, lưng áo còn ướt sũng, nên những nguời này được tặng cho cái tên nghe đầy nhục mạ: wet backs, mấy anh lưng áo còn ướt nhẹp, vừa lóp ngóp leo lên bờ.
Thấy chữ đó không tiện, người ta dùng chữ noncitizens. Nhưng chữ đó lại còn nặng hơn: coi người ta không đưọc bằng công dân hạng nhì, không bằng phó thường dân nên một chữ mới được đem ra thay thế: undocumented persons, những người không có giấy.
Thế là hỏi giấy không có giấy, hỏi carte không có carte, hỏi carte xanh (green card) không có carte xanh, hỏi carte đỏ không có carte đỏ ... chỉ có ông Mễ Carlos (?) mà thôi.
Đoạn này mà đọc có accent Tầu thì hay tuyệt!
LATIN
Trả lời một thiùnh giả ở Sugarland, Texas:
Latin (La Tinh) là tiếng nói của cổ La Mã. Ngày nay La Tinh chỉ còn đưọc dùng là ngôn ngữ của tòa thánh Vatican, trong kinh sách đạo Thiên Chúa. La Tinh cũng là ngôn ngữ quốc tế của khoa học.
La Tinh ngày nay không còn là một sinh ngữ nữa, mà là một tử ngữ, hay đúng hơn là một cổ ngữ với việc sử dụng rất hạn chế.
Từ tiếng La Tinh, nhiều ngôn ngữ của Âu châu đã được cấu thành như tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha, nên các ngôn ngữ ấy có rất nhiều nét giống nhau.
Latin trong tiếng Anh nghĩa là một dân tộc nói ngôn ngữ bắt nguồn từ tiếng La Tinh.
Latin America , Mỹ châu La Tinh là các quốc gia nói ngôn ngữ có gốc là tiếng La Tinh. Đó là các nước từ biên giới phía nam của Hoa kỳ trở xuống, các nước nói tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha .
Latina là một phụ nữ ở Mỹ châu La Tinh.
Latino là một ngưòi đàn ông Nam Mỹ, nguyên từ tiếng Tây Ban Nha: latino americano.
Hispanic là người Mỹ châu La Tinh. Hispanic là do danh từ Hispania, tiếng La Tinh để gọi bán đảo Iberia ở phía nam nước Pháp gồm hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Chicano là danh từ gốc Mễ: mexicano americano biến thành chicano nghĩa là một người Mễ.
Pig Latin là một hình thức nói lái của trẻ em, thí dụ eakspay igpay atinlay là speak pig Latin.
Spoonerism là nói lái do một mục sư người Anh tên là Spooner (1844-1930) nghĩ ra, như a crushing blow thành a blushing crow; kitchen thành chicken; lemon thành melon vân vân.
PUT ONE’S MONEY WHERE ONE’S MOUTH IS
Cô đào Jane Fonda tuần trước, khi xuất hiện trong chương trình của Jay Leno, khi được hỏi về người chồng cũ, Ted Turner, chủ nhân của hệ thống truyền hình tin tức CNN, đã nói rằng Ted là người rất đại lượng.
Và để nói rõ thêm về sự hào phóng, rộng rãi đó, Jane Fonda cho biết Ted vừa tặng một tổ chức tranh đấu chống tệ nạn female circumcision (cắt bỏ clitoris, một bộ phận ở phía ngoài cơ quan sinh dục phụ nữ) ở một số quốc gia Hồi giáo 10 triệu Mỹ kim. Nói xong, Jane Fonda thêm rằng Ted Turner luôn luôn chứng tỏ là người giữ lời hứa, luôn luôn chứng minh lời nói bằng việc làm của mình, cũng như lòng thành thật bằng việc làm, và nói nguyên văn như sau : “Ted always puts his money where his mouth is.”
Thành ngữ put one’s money where one’s mouth is thì đúng có nghĩa là chứng minh lời nói bằng việc làm của mình. Nhưng trong trường hợp này, Ted tặng tiền cho tổ chức đấu tranh bênh vực phụ nữ, chống hủ tục cắt một phần của bộ phận sinh dục phụ nũ thì hơi kỳ.
Và đểu.
Nói Ted đặt tiền vào chỗ cái miệng của chàng là quá đểu. Nhất là hai người vừa ly dị nhau xong.
Thư Gửi Bạn Ta của Bùi Bảo Trúc
Ngày 10 tháng 5 năm 2005
Bạn ta,
Thứ tư tuần trước, tại San Francisco đã khai giảng một lớp học khá đặc biệt dành cho khoảng 25 sinh viên nam nữ, nhưng hầu hết là các nữ sinh viên.
Gọi họ là sinh viên vì khóa học do một đại học (college) tổ chức chứ không phải chỉ là một trường dậy nghề vớ vẩn vẫn thấy quảng cáo đầy trên báo (*).
Giảng viên Kimberlee Cline cho biết môn cô giảng dậy vẫn còn bị coi là bất hợp pháp ở hầu hết các tiểu bang Hoa kỳ. Bản tin coi môn học cũng như các sinh viên là những điều mới lạ lắm, vì các đại học khác ở Hoa kỳ không một trường nào có dậy môn học này mà cũng không có những người ghi danh học kỳ lạ như thế. Thực ra thì không hề có bất cứ một đại học nào trên thế giới giảng dậy môn đó.
Mà nếu có dậy, thì những điều được đem ra dậy cũng thường không ở trong không gian của những bức tường của các giảng đường đại học.
Khung cảnh nơi diễn ra khóa học không giống như ở San Francisco , nơi khóa học khai diễn tuần trước, là một bảo tàng viện, trang nghiêm hơn nơi dậy dỗ các bài bản cho người phụ nữ trẻ họ Vương hồi Gia Tĩnh triều Minh mà một tác phẩm văn học Việt Nam có đề cập tới.
Người dậy những bài học này diện mạo nhờn nhợt mầu da, thân xác to lớn không biết nhờ ăn uống những thứ gì.
Những điều người đàn bà này dậy cho người phụ nữ họ Vương gồm có 15 thứ mà bà muốn người phụ nữ trẻ phải thuộc lấy làm lòng để áp dụng ở "vành ngoài" và "vành trong" như chữ của bà.
Như vậy, lớp học ở San Francisco không phải là chuyện mới lạ cho lắm. Bài học ngày xưa, thời thế kỷ 15 đã chia rõ làm bẩy chữ và tám nghề.
Bẩy chữ ấy là khấp, tiễn, thích, thiêu, giá, tẩu và tử.
Khấp là khóc lóc để cho khách thương sót.
Tiễn là cắt tóc thề bồi với khách cho khách tin.
Thích là khắc tên của khách vào cánh tay của mình để cho khách thương yêu.
Thiêu là đốt hương lên thề nguyền với khách.
Giá là hẹn hò với khách.
Tẩu là rủ khách đi trốn.
Tử là giả bộ liều chết để khách thương mà cứu.
Nghe qua cứ tưởng là những kỹ thuật chiều khách để giữ khách của chương trình học MBA không bằng.
Còn tám nghề là kích cổ thôi hoa, kim liên song toả, đại xiển kỳ cổ, mạn đả khinh khao, khẩn thuyên tam trật, tả trì hữu trì, tỏa tâm truy hồn và nhiếp thần nhiệm tỏa để áp dụng với những người khách nhỏ bé, to béo, nóng tính, chậm chạp, chưa biết gì, thạo đời, si tình hay lạnh lùng.
Nhưng tiếc là tất cả những nghề trên, sách của các cụ Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Lê Văn Hoè, đều không chịu giải thích cặn kẽ vì theo cụ Trần Trọng Kim những chuyện đó đều quá tục tĩu. Cụ Vân Hạc Lê Văn Hoè thì nói là không thể giải thích được. Những cuốn sách chú giải truyện Kiều của các cụ đều thiếu sót ở đó khiến cho những đứa học sinh lớp đệ tứ trung học Việt Nam thời ấy phải đi tra tự điển Hán Việt gần chết mà vẫn không hiểu đánh trống dục hoa nở, sen vàng ép lại, mở cờ trống ra cho lớn, nưng niêu ôm bóp, ràng rịt ba lần, chống chỏi hai bên, xiêu lòng lạc dạ, mê man khăng khít (**) là gì...
Khóa học ở San Francisco chắc sẽ giải thích kỹ những điều khó hiểu kể trên để các học viên bồi dưỡng nghiệp vụ và có thể sẽ giải thích rõ ràng hơn cho những người còn thắc mắc về đoạn Kiều đó.
Đọc đoạn tin của Associated Press thì thấy khóa học không thấy dậy ở các trường đại học là phải.
Chắc còn phải dậy thêm một bài nữa, đó là bài vén váy cho các sinh viên trong lớp.
Trường dậy có tên là Whore College như bản tin của AP cho biết. Như thế, có dậy thêm môn vén váy là phải.
Dậy đĩ vén váy mà.
Nhưng tốt nghiệp xong, trường có giúp kiếm việc làm cho không? Hay lại đẩy cho mấy ông ma cô thì việc gì phải dậy làm gì cho mệt xác?
(*) Whore College Offers Hands-On Training / Lisa Leff, Associated Press May, 6th 2005
(**) Chú thích của Phạm Kim Chi, Nguyễn Thành Điểm xuất bản tại Sài Gòn năm 1917, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa in lại năm 1972
--------------------------------------------------------------------------------
Ngày 9 tháng 5 năm 2005Bạn ta,
Sáng nay, tại Tokyo, hệ thống xe điện ngầm của thủ đô nước Nhật bắt đầu dành riêng một số toa cho phụ nữ trong những giờ cao điểm, khi số hành khách sử dụng xe điện đông đảo nhất.
Các toa xe này có bảng ghi rõ dành riêng cho nữ hành khách. Đàn ông không được lên, và nhân viên an ninh được bố trí ở mỗi cửa toa để chặn không cho các nam hành khách lẻn lên xe.
Lý do là vì từ mấy năm nay, nhiều nữ hành khách đã than phiền là bị làm phiền bởi những bàn tay lang thang của một số nam hành khách. Cuối cùng, các công ty xe điện đã phải có biện pháp quyết liệt của cụ Khổng: nam nữ không được cho đi chung xe điện ngầm. Những trò cọ quẹt phải chấm dứt.
Đọc Charles Dickens thì cứ đọc. Tại sao đổi cái tựa tiểu thuyết David Copperfield của ông già này thành ra ... cop a feel để bàn tay năm ngón ... một cái?
Theo một cuộc thăm dò ở Tokyo hồi năm ngoái thì gần 2/3 các phụ nữ từ 20 đến 40 tuổi cho biết là đã bị các "thư ký tòa soạng" hành nghề trên xe điện làm phiền. Như vậy là một con số quá lớn và càng ngày càng lớn. So với năm 1996, thì con số những vụ như vậy của năm 2004 đã tăng gấp ba lần.
Như vậy hóa ra, các ông Nhật trông ngoài đàng hoàng tử tế lịch sự lắm, động một chút là cúi gập người lại để xin lỗi lại chính là những người không tử tế chút nào. Cứ xe đông "... giời ơi chen ... " như cảnh đi chùa Hương của cô bé 15 tuổi Nguyễn Nhược Pháp vẽ lại, là tay chân các chàng quậy lung tung.
Các "salarymen" tan sở ghé mấy cái karaoke bar hát vài bài, uống mấy chai sake là lên xe cho tay đi chơi khắp nơi.
Các nam hành khách ở Tokyo sáng nay đã phản đối dữ dội. Bản tin Reuters cho biết các chàng bực bội vì nghĩ là các chàng bị kỳ thị. Các chàng cho rằng việc dành riêng một số toa xe cho phụ nữ là một hình thức kỳ thị nhắm vào các chàng.
Làm sao để giải quyết chuyện này?
Bị tố kỳ thị là chuyện không thể coi nhẹ được. Ở Mỹ là có thể bị kiện nát xương.
Nhưng giải quyết thì cũng không khó lắm.
Thay vì treo bảng nói là các toa xe đó dành riêng cho phụ nữ để các chàng có lý do kiện, thì tại sao không treo những tấm bảng ghi: Cấm phụ nữ lên các toa xe này!
Vậy là chỉ cấm phụ nữ, chỉ kỳ thị các phụ nữ thôi chứ có kỳ thị các ông đâu mà than với chả phiền.
Nhưng sau khi nam nữ không ... đi chung được như tử vi nam nữ xem chung (đều sai hết) thì cũng buồn.
Cảnh như Yasunari Kawabata viết trong một truyện ngắn của ông khi nhân vật chính, một ông già trên một chuyến xe lửa ngồi trước một phụ nữ trẻ sẽ không thể có được. Kawabata tả khuôn mặt của cô gái, chút phấn thoa trên mặt dường như không dính được vào làn da mà ông nghi là làn da mặt của một phụ nữ vừa sinh con, khi những lỗ chân lông còn mở rộng. Ông tả cái mùi thơm nhẹ và ấm của người nữ hành khách tỏa sang chỗ ông ngồi. Những nhận xét tinh tế như thế làm sao có được nếu nam nữ thụ thụ bất thân, hai người phải đi xe riêng, nàng tại toa đầu, chàng tại toa cuối, cùng đi xe điện Tokyo, cùng xuống ga Ginza, cùng lên ga Shinjuku mà không bao giờ thấy nhau.
Tất cả chỉ vì trò chơi mọi rợ của mấy anh đàn ông bậy bạ ở Tokyo.
Tại sao không dám công khai như những người đàn ông đa tình của Ý? Tại sao không dám đứng góc phố, hay hùng dũng lên xe bus và ngang nhiên cấu đít phụ nữ như những người đàn ông Ý đã làm từ bao nhiêu năm nay khiến nhiều phụ nữ Mỹ năm nào cũng phải sang Rome chơi để về nhà khoe những vết bầm tím trên mông?
Để bây giờ xe điện phải mỗi người mỗi ngả, hai bờ đất nước nhớ thương nhau.
Nhưng có điều bây giờ có pha tiếng Tây khi nói lên đầu "toi" đái thì phải cẩn thận một chút kẻo lên đầu "toa" xe điện mà đái thì phiền lắm.
Bùi Bảo Trúc
Tin thêm về việc Nhật Bản phải mở riêng toa xe lửa cho phụ nữ vì phụ nữ bị sờ mó trên xe lửa nhiều qúa
Theo Tuổi trẻ online
![]()
TTO - Việc xuất hiện những toa tàu này được coi là một trong những giải pháp nhằm hạn chế nạn quấy rối tình dục nơi công cộng "chikan" đang gia tăng.
Hôm qua 9-5-2005, chín công ty xe điện ở Nhật đã đồng loạt mở một toa tàu đặc biệt - toa tàu chỉ dành riêng cho phụ nữ.
Trước đó, ngày 4-4, công ty tàu hỏa Đông Nhật Bản đã giới thiệu toa tàu "chỉ dành cho phụ nữ" đầu tiên trên tuyến Saikyo, chuyến tàu nối Tokyo và tỉnh lân cận Saitama - một trong những chuyến tàu mà hiện tượng quấy rối phụ nữ diễn ra trầm trọng nhất.
Cũng theo sự thống kê của Cục Cảnh sát Nhật Bản, hiện tượng quấy rối phụ nữ đang gia tăng mạnh trong những năm gần đây, và có đến 2.201 vụ được thống kê tại Tokyo vào năm ngoái. Cảnh sát đã buộc phải yêu cầu các công ty xe điện dành riêng những toa tàu cho phụ nữ nhằm kiểm soát tình trạng này.
Thông thường, giờ làm việc ở Nhật bắt đầu vào lúc khoảng từ 9g đến 9g30, do đó, các chuyến tàu thường đông người nhất vào khoảng từ 7g45 đến 9g. Trong khoảng thời gian một tiếng tính từ 7g45, sẽ có những toa tàu trở thành "toa tàu chỉ dành cho phụ nữ".
Tuy nhiên, việc xuất hiện những toa tàu kiểu này cũng gây những phản ứng trái ngược trong dân chúng Nhật. "Tôi muốn lên toa tàu này một lần để xem nó thế nào" - một sinh viên nữ 19 tuổi nói khi lần đầu tiên lên toa tàu kiểu này - "Tôi cảm thấy an toàn vì sẽ không còn hiện tượng quấy rối nữa". "Tôi sẽ luôn luôn sử dụng toa tàu này vì tôi cảm thấy thoải mái khi sử dụng nó" - một phụ nữ 28 tuổi nói.
Trong khi đó, một phụ nữ 40 tuổi tại quận Nerima lại có một suy nghĩ hơi khác: "Toa tàu tôi thường xuyên ngồi vào nay trở thành toa tàu "chỉ dành cho phụ nữ". Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng việc xuất hiện các toa tàu này sẽ làm triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng chikan. Ngược lại, đôi lúc tôi cảm thấy có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ".
Bắt đầu từ 9-5 đến 20-5, cảnh sát sẽ cùng phối hợp với các công ty xe điện của Nhật để tổ chức các chiến dịch ra quân nhằm hạn chế hiện tượng quấy rối phụ nữ cũng như chụp ảnh lén. Khoảng 100 cảnh sát sẽ được bố trí trong các chuyến tàu và tại các nhà ga trên một số tuyến.