thứ sáu 21.03.2003


Nhân Quyền của Phụ nữ và Trẻ Em tại Việt Nam 

nguồn: quangio.com
  
Jackie Bông Wright

LTS: Chúng tôi đặc biệt giới thiệu bài nói chuyện của bà Jackie Bông Wright trong buổi tiếp xúc và ra mắt cuốn sách Autumn Cloud tại Brisbane ngày 8-3-2003. bà Jackie Bông Wright cựu qủa phụ của cố Giáo Sư Nguyễn Văn Bông nguyên Viện Trưởng Hoc Viện Quốc Gia Hành Chánh Saigon trước năm 1975.

 Bài nói chuyện hôm nay sẽ bàn tới các vấn đề liên quan đến việc phụ nữ và giới trẻ Việt Nam, ở thành thị cũng như tại thôn quê, đang tìm cách tiến thân về các phương diện xã hội, kinh tế cũng như chính trị trong thế kỷ thứ 21, từ việc đóng một vai trò phụ thuộc đến vị thế có thể đưa ra các quyết định quan trọng. Các vấn đề liên quan đến bình đẳng, sự đồng đều, công bình và liên hệ phái tính có thể sẽ tạo nên những giá trị xã hội quý báu và giúp cho các chương trình phát triển toàn diện nhằm đem đến phúc lợi cho phụ nữ và trẻ em Việt nam.

 
Một số câu hỏi có thể được đặt ra cho phụ nữ như liêu sự phát triển về kinh tế, và gia tăng lợi tức cá nhân sẽ có ảnh hưởng tới tỷ số sinh sản không? Người phụ nữ Việt sẽ có những liên hệ như thế nào, và so sánh được như thế nào với phụ nữ thế giớỉ Họ phải làm gì để ra khỏi cảnh nghèo túng, để phát triển các khả năng của họ, nhằm đạt tới cuộc sống sung túc.

 
Nói đến phụ nữ thì chúng ta không thễ không đề cập đến trẻ em.  Chúng tôi xin đưa những dữ kiện liên hệ đến điều kiện sinh sống và môi trường trưởng thành của giới trẻ hiện tạị  Chúng ta hãy đưa ra dữ kiện, đặt những câu hỏi, suy luận chung và thữ tìm những câu trả lời cho vấn đề nhân quyền của phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam.


Chúng tôi sẽ tuần tự đề cập đến PN với TE trong bối cãnh Bạo Hành trong Gia Đình, trên phơơng diện Bạo Hành Mãi Dâm, PN và Trẽ Em đối với Nhà Nước, PN và TE trong Nền Kinh Tế.


Kể từ năm 1975, hai tổ chức đa phương, Chương Trình Phát Triển của LHQ (UNDP) và Ngân Hàng Thế Giới, đều đã nhắc nhở đến những vấn đề này và đã mở rộng các vấn đề liên quan đến phái tính và sự phát triển qua những hoạt động của phụ nữ quốc tế. Thế kỷ của phụ nữ (1975-85) đã bắt đầu với một Hội Nghị về Thế kỷ này của Phụ nữ được tổ chức tại Nairobi vào năm 1985, rồi cuộc Hội thảo Thứ Tư về Phụ Nữ đã được tổ chức sau đó tại Bắc Kinh vào năm 1990, và các hội nghị tiếp theo về phụ nữ tại trụ sở LHQ tại Nữu Ước vào năm 2000. Trong những cuộc hội thảo này người ta đã cố đưa ra các chính sách và chiến lược cho việc đem lại sự công bằng cho phụ nữ trên thế giới.


Riêng tại Việt Nam, trên một nửa dân số là phụ nữ. Vào tháng Tư năm 1999, một cuộc kiểm tra dân số tại đây đã cho thấy trong tổng số 76 triệu 328 ngàn người, phụ nữ đã chiếm 38 triệu 810 ngàn người, và chỉ có 37 triệu 520 ngàn là nam giới – tức là cứ 100 phụ nữ thì chỉ có 96,7 người đàn ông mà thôị Có 18 triệu người sinh sống ở các thành thị tức là 23 phần trăm dân số, so sánh với 58 triệu người sinh sống trong các vùng quệ
Canh nông vẫn là nguồn kinh tế căn bản của dân tộc Việt, thu hút tới 73 phần trăm nguồn nhân lực quốc giạ Nam giới chiếm tới 53 phần trăm nguồn nhân lực này, trong khi phụ nữ chỉ chiếm có 47 phần trăm.

 
Chúng ta hãy nhìn xem dân số trẻ em.  Theo dự tính của một cơ quan thẩm quyền Mỹ trong năm 2001, trẻ em từ 0-14 tuổi chiếm 32.13%.  Có 13,266,500 trai và 12,585,00 gái, tổng cộng là 25,851,500.  Tỹ lệ phái tính là 1.07 phái nam nhiều hơn nữ.  Nhưng khi lớn lên từ 15-64 tuổi thì còn lại 0.95 nam giới, khi hơn 65 tuổi chỉ còn 0.66 nam giới.  Tổng dân số trong lứa tuổi 15-64 chiếm 62.44% mà 0.97% là nam giới.  Con số cho thấy là tỷ lệ tử vong là 30.24 người trên 1,000.  Tuổi thọ dự tính của nam giới là 67t, còn phái nữ là 72t.  Tuy kh? năng sinh sản là 2.49 cho mổi phụ nư hiện nay, có tatá cã 60% dân số dưới 25 tuổi, rất nhiều ngườiø trẽ hơn người lớn tuổi ở VN hiện tạị

Ị  Phụ Nữ và Trẻ Em trong Gia Đình
"Giá trị của những công việc làm của phụ nữ trong gia đình chưa bao giờ được công nhận cả, vì nó không là một thành phần của thị trường kinh tế. Đây là một sự thiếu sót mà trị giá lên tới 8 tỷ đô lạ" Đây là lời phát biểu của ông Robert Picciotto, tổng giám đốc Nha định giá các hoạt động thuộc Ngân Hàng thế giới.

 
 Theo như các tục lệ cổ truyền, người phụ nữ Việt Nam được coi như là người “nội tướngï". Vai trò của họ là nuôi dưỡng, giáo dục con cái, và quản trị vấn đề tài chánh của gia đình. Họ thắt lưng buộc bụng, nấu ăn, dọn dẹp và giặt giũ, đồng thời đưa ra hầu hết những quyết định quan trọng trong nhà. Nói một cách tổng quát, xã hội Việt Nam coi trọng vai trò gìn giữ sự hiền hòa và đầm ấm trong gia đình của người phụ nữ. Mặc dù vậy, người ta vẫn coi người phụ nữ Việt như chỉ đóng một vai trò phụ thuộc vào nam giớị Họ đã được trao cho những việc làm một cách không cân bằng so với phái nam, nếu không nói là quá nhiều, ở trong nhà cũng như ở ngoài xã hộị Điều này còn đúng hơn nữa đối với phụ nữ sinh sống ở các vùng quê


 Ngày nay, với lợi tức cá nhân đổ đồng trung bình hàng năm gần như thấp nhất trên thế giới (350-400 đô la một năm), cộng thêm lương thấp, tỷ số thất nghiệp và lạm phát cao, hầu hết mọi phụ nữ Việt đã phải đi làm thêm ngoài các việc nội trợ Họ đã phải đi bán hàng rong ngoài đường phố, làm việc văn phòng, hay làm trong các hãng xưởng để bổ túc thêm lợi tức để nuôi nấng gia đình bao gồm các bậc cha mẹ, ông bà và con cái nữạ Trong các vùng quê, họ còn làm việc cả ở ngoài đồng, tại các khu chợ búa, và dĩ nhiên công việc trong nhà.

A Vấn đề bạo hành trong gia đình
Nói đến bất bình đẳng và bạo hành thì luôn luôn có trong các gia đình tại Việt Nam bất kể họ ở mức lợi tức nàọ Vấn đề bạo hành trong gia đình được coi là một chuyện thường vì người đàn ông được coi là đứng đầu trong gia đình, và họ coi đó như là một phương cách để dạy dỗ vợ con. Những tập quán xã hội không tốt như vấn đề ghen tuông, cờ bạc, hay ma túy, rượu chè cũng như những sự khó khăn về tài chánh và không hòa hợp vêà tình dục đều đóng góp vào tệ nạn bạo hành trong gia đình. Ngay cả đến vóc dáng nhỏ bé của người phụ nữ và trẻ em cũng có thể đóng góp vào sự bạo hành. Khả năng tranh cãi thấp kém cũng đưa tới những hậu quả không tốt cho vấn đề an sinh của phụ nữ và trẻ em.

 
Vai trò của Liên Hiệp Quốc
Đại hội đồng LHQ nhóm họp vào năm 1993, trong bản tuyên ngôn về việc bài trừ tệ nạn bạo hành đối với phụ nữ, đã định nghiã vấn đề bạo hành là “bất cứ một hành động nào đã gây nên, hay rất có thể sẽ gây nên, những thương tích hay sự đau khổ về thể xác, tình dục hay tâm lý của người phụ nữ, kể cả những sự đe dọa về những hành động kể trên và việc bắt giữ một người nào, dù là cố tình hay vô ý, và dù nó xày ra một cách công khai hay thầm kín” (LHQ 1995:73; UNIFEM 1998). Với những bản tuyên ngôn như trên và bằng nhiều phương cách khác, các cuộc hội thảo về phụ nữ do LHQ tổ chức đã đóng góp rất nhiều vào việc tiến tới sự bình đẳng về phái tính trong hai thế kỷ qua

 
Tại Việt Nam, một bản tường trình được phổ biến rộng rãi trong nước đã giúp khơi động sự bàn tán về các vấn đề tế nhị này ở ngay trong gia đình, và nhất là về sự vũ phu của một vài người chồng đối với vợ của họ. Bản tường trình này, dựa trên các con số và kết quả của cuộc nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam trong những tháng Tư và tháng Năm năm 1999, gồm có cả các bản tin của báo chí về vấn đề nàỵ Mục đích của cuộc nghiên cứu kể trên là để xét đến sự khác biệt giữa những luật lệ hiện hành, cách dẫn giải và cách thực thi những điều luật này tại các tỉnh thành và tại các đơn vị hành chánh khác.

 
Bản tường trình cho thấy tại Việt Nam cả nam lần nữ đều nhận sự bạo hành trong gia đình được tiếp diễn và cho đó là sự "ngẫu nhiên" cũng như công nhận đây là một phần của cách đối xử thông thường giữa vợ và chồng. Biết được gốc rễ của vấn đề, người ta không ngạc nhiên khi thấy các hành động như vậy trở thành những tập tục được chấp nhận.


Mặc dầu sự bình đẳng phái tính được bảo đảm qua luật lệ, nhiều phụ nữ đã không có các quyền căn bản này để họ được tôn trọng và bảo vê.. Phụ nữ vẫn tiếp tục chịu đựng sự bạo hành trong trầm lặng, một phần là vì họ không biết rõ những quyền lợi của mình, và một phần khác nữa là vì xã hội đã không lên án những hành động bạo hành như vậỵ  Thường bạo hành đối với phụ nữ cũng bị ãnh hưỡng nhiều đến trẻ em.  Có khi cha mẹ, vì tức giận với nhau, đem con ra đánh đập là việc thường tình.


Cũng vì mọi người đều coi sự bạo hành là vấn đề tự nhiên và riêng tư, không có một lý do nào để đem vấn đề này ra xét xử một cách công cộng ngoài ánh sáng. Nhiều cuộc ly dị đã bắt nguồn từ sự bạo hành trong gia đình: 70 phần trăm trong tổng số 22 ngàn vụ ly dị trong năm 1991 thuộc vào loại nàỵ Tuy vậy, nhiều phụ nữ vẫn âm thầm chịu đựng sự đau khổ trong hôn nhân hơn là phải đối đầu với những tiếng tai không tốt của việc ly di.. Trước những cãnh tượng đó, các trẽ em còn đau khổ gắp bội nhưng không dám thổ lộ với aị

Người Ta Đã Làm Được Những Gì?
 Tại Việt Nam có Liên Đoàn Phụ nữ với những mục tiêu bao quát nhằm phổ biến quyền lợi của phụ nữ, kể cả các quyền hạn chính trị, kinh tế và sự công bằng trước pháp luật; và việc phụ nữ được bảo vệ trước những sự bạo hành trong gia đình. Liên đoàn này đã cho rằng họ có tới trên 10 triệu thành viên (UNDP 1996:15). Nhưng trên thực tế, vẫn còn rất nhiều việc phải làm, nhiều hơn cả những gì mà nhà nước có thể động tay tới

 
 Trong lúc đó, xã hội Việt Nam ngày nay cũng đang bị ảnh hưởng từ các nước ngoài.  Các tổ chức phi chính phủ cũng như các đại diện quốc tế đã có các chương trình, các kế hoạch làm việc tại Việt Nam, đã quảng bá các vấn đề bình đẳng về giới tính. Người dân Việt Nam cũng như các chính khách đã có dịp du lịch ra nước ngoài nhiều hơn trước. Và các cộng đồng người Việt tại các quốc gia tân tiến khác, đã thông cảm với nỗi đau nàỵ Điều này ít nhất đã mang các luồng tư tưởng mới vào dân chúng ở trong nước.


Làm Sao Để Tiến Tớỉ
Người ta có thể làm được những gì ở Việt Nam để người phụ nữ biết rõ được các quyền lợi của mình? Các liên đoàn và tổ chức phụ nữ hiện hữu có thể mở các chương trình giáo dục và mở rộng tầm hiểu biết, xử dụng các phương thức thảo luận từng nhóm với mục đích rõ ràng. Các chuyên gia về luật pháp, các thành viên của các ủy ban nhân dân địa phương, cảnh sát, các y sĩ, và các tổ chức xã hội có thể tận dụng các biện pháp cứng rắn hơn để đối phó với những sự vi phạm về bạo hành. Ủy ban Quốc gia cho sự Thăng tiến của Phụ nữ, một tổ chức khác của nhà cầm quyền Viê.t-Nam, có thể đặt ra các tiêu chuẩn làm việc để kiểm soát những sự vi phạm về bạo hành trên mọi bình diện tại Viêt Nam, đồng thời kêu gọi các cấp chính quyền hãy có những hành động để khám phá và dẹp tắt mọi sự bạo hành.

B. Một Loại Bạo Hành Khác: Mãi Dâm
Mãi Dâm là một hình thức bạo hành mà có thể nẩy sinh ra nhiều loại bạo hành khác. Chính quyền, báo chí và các tổ chức phi chính phủ đã cho biết là đã có sự gia tăng việc buôn bán phụ nữ tại Việt Nam, ở trong nước cũng như ra nước ngoàị Các tổ chức quy mô đã lừa gạt những thiếu nữ còn trẻ tuổi, nhà nghèo, thường từ các vùng quê, với những lời hứa suông là sẽ tìm việc làm cho họ hay giúp họ lấy chồng tốt, để rồi bắt họ làm nghề mãi dâm. Cũng có một số phụ nữ đã bị bắt cóc hay bị bán đi để làm vợ cho những người ngoại quốc. Tệ nạn mãi dâm cũng là một vấn đề có tính cách quốc tế, và các hệ thống bán dâm thường là những tổ chức tội ác quốc tế. Các nạn nhân phụ nữ cũng thường bị rơi vào cái cảnh nguy khốn hơn nữa là họ rất dễ bị bạo hành thêm như bị đánh đập, có con ngoài ý muốn, bắt phải làm việc, hay mắc phải các căn bệnh truyền nhiễm về tình dục, kể cả bị nhiễm trùng HIV/AIDS. 


 Tờ báo An Ninh Thành Thị đưa ra con số 320,000 ngư ời bán dâm trong năm 2000, nhưng thực tế có thể lên đến gấp đôi và 30% các cô nầy dưới 16 tuổị Những cô gái tơ nầy bị bán ra từ $500 đến $5,000 làm vợ cho những người ngoại quốc hay cho các ổ mãi dâm. Thương mại tình dục có liên hệ với những mạng lưới tội ác quốc tế từ A’ Châu đến các nước trên thế giớị Tờ Tuần Báo (Weekly News) báo cáo có 1.5 triệu trẽ em từ năm 1986 đến 1996 lâm vào cãnh áp bức nầỵ  Cơ quan Ngân Hàng Quốc Tế cho là trong năm 1997 có 45% trẽ em dưới 5 tuổi bị thiếu dinh dưỡng và tỹ số tữ vong là 55%. Trong năm 1998, cơ quan UNICEF cho là 3 triệu thiếu nhi cần được sự giúp đở đặc biệt và có 25,000 em bụi đời sống trên đường phố.  Quốc Hội VN tại Hànội chấp nhận có lối 2.3 triệu đến 2.7 triệu người thiếu ăn trên toàn quốc trong năm 2000. 


 Người phụ nữ Việt-Nam cũng bị ảnh hưởng một phần nào của tình trạng quốc tế chi phối bởi vấn đề bán dâm: di dân để tìm việc làm, nghiện ngập ma tuý, và sự gia tăng du lịch của các nhà kinh doanh phái nam và các du khách giầu có. Tất cả đều hướng tới một sự gia tăng đột ngột về mãi dâm. Kỹ nghệ tình dục, dĩ nhiên, không phải là một kỹ nghệ mới; nó đã xuất hiện ở Viê.t-Nam từ nhiều thập niên nếu không nói là nhiều thế kỷ, tuy nhiên nó đã đi đến tình trạng báo động trong những năm gần đâỵ 


 Theo như tập tục cổ truyền, những kẻ buôn lậu tình dục luôn luôn dùng tới sự dối trá, áp lực, ép bức, nợ nần, đe dọa dùng vũ lực và sự tham nhũng quyền lực. Phụ nữ và những thiếu nữ trẻ tuổi thường bị bắt cóc để bán trong thị trường nhục dục như là một món hàng cho sự thoả mãn xác thịt và đem lợi lộc về cho các tay anh chị ở ngay trong nước hay ở nước ngoàị Tuy thế, gần đây hơn nữa người ta còn có thể đặt hàng tình dục qua thơ từ, qua sự mua bán cô dâu trên liên mạng Internet, và các cuộc du lịch hưởng lạc đã đưa ra nhiều phương thức mới cho sự lợi dụng tình dục. 


 Đối với các nạn nhân, con đường đi vào thị trường mãi dâm vẫn không thay đổị Trong các trường hợp tự nguyện, người đàn bà tự mình đi vào con đường mãi dâm. Nhưng ở trong các trường hợp ngoài ý muốn, các đại lý hay các nhà chứa thường dùng đến các phương pháp giả dối hay ép bức để đưa người đàn bà vào con đường nàỵ Sau cùng, cũng có những sự dàn xếp cho những hợp đồng hai chiều, trong đó cha mẹ hay người đỡ đầu nhận tiền để đổi lấy người con gáị Mặc dầu sự giàn xếp như vậy nghe qua có vẻ nhẫn tâm và không công bằng, song cũng có các lý do liên quan đến văn hóa, gia đình, kinh tế và lịch sử ở đằng sau cái quyết định gửi con mình đi làm nô lê.. Thông thường, người ta tin tưởng rằng con cái sẽ thoả thuận và làm theo ý cha mẹ để tỏ lòng tôn kính cha mẹ dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nàọ Mãi dâm thường được coi như là một phương thức để làm trọn vẹn vai trò của một người con gái, người chăm sóc lo toan cho gia đình. Kiều, một liệt nữ trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đời đời của Việt Nam, là người con gái tiêu biểu cho vai trò nàỵ 


 Việc buôn bán phụ nữ và trẻ em cũng xẩy ra dưới các mục đích khác tùy theo từng vùng. Việc bán phụ nữ từ Bắc Việt qua vùng biên giới Trung Quốc thường là để lấy chồng. Còn nói chung, việc bán phụ nữ từ miền Nam sang tới Căm Bốt và rồi cả Thái Lan thì thường là vì lý do tình dục. Và việc bán phụ nữ đến Hồng Kông, Đài Loan, và Ma Cao cũng thường là để lấy chồng. Vì số cầu ngày càng gia tăng, nên ở Việt Nam con số các tổ chức cung cấp gái trinh để làm điếm cũng tăng theo (1).  LHQ đưa ra con số 10,000 PN & TE bi bán ra thị trường năm 1990. UNICEF nói là có 10,000 PN dưới 18 t bị đưa qua Cambốt năm 1996, và WHO năm 99 cho thấy có 70,000 PN và 20,000 TE làm nghề nầy và con số hơn nữa khi bị bán ra thị trường xứ ngoài, và đã có 100,000 người bị nhiễm vi trùng HIV/AIDS trong đó có 20,000 phụ nữ và 2,500 trẻ em


 Bề ngoài nhà cầm quyền ở Việt Nam đang hoạt động sát với các tổ chức phi chính phủ quốc tế để chấm dứt việc buôn bán phụ nữ, đồng thời hợp lực với các chính phủ khác để tăng cường sự kiểm soát. Các chiến lược gồm cả việc huấn luyện nhân viên kiểm soát, cứu thoát và khôi phục lại đời sống của nạn nhân, phổ biến các dữ kiện để nâng tầm hiểu biết của quần chúng, cung cấp các việc làm thay thế và các cơ hội có lợi tức dành cho phụ nữ và các thiếu nữ trẻ tuổi, cùng với các chương trình chỉ dẫn dành cho cha mẹ và nữ sinh tại các trường học. Nhưng thực tế cho thấy là chính nhà cầm quyền từ trung ương tới địa phương toa rập với các tổ chức tội ác đễ che chỡ họ và cộng tác làm ăn chung với họ để xuất cãng thịt ngườị  Trước 1975, dưới thời VNCH, việc xuất cãng cô dâu ra nước ngoài chưa bao giờ xẫy ra

 
 Chúng ta nên lên tiếng kêu gọi các cơ quan tài trợ đòi nhà nước VN hãy đổi mới các cơ cấu xã hội, kinh tế, thương mại và chánh trị đễ cãi tiến nhân quyền và tham nhủng.  Cacù hội PNVN ở ngoại quốc và cộng đồng VN hải ngoại có thễ giúp cộng tác về giáo dục, thông tin, và làm những công tác xã hội giúp cho gia đình bà con cô bác bạn bè mình và giới trẽ bên nhà.

IỊ  Phụ Nữ Việt Nam và Nhà Nước
Bản tường trình Vietnam Country Report của bộ ngoại giao Việt cộng ghi nhận rằng ủy ban trung ương đảng cộng sản Việt Nam là cơ quan quyết định tối cao, với bộ chính trị đảng là cơ quan đưa ra các chính sách. Các thành viên trong quốc hội, mà hầu hết đều là các đảng viên của đảng cộng sản, đã đóng một vai trò càng ngày càng tích cực ở Việt Nam trong các vấn đề đáng chú ý tại địa phương cũng như trên toàn quốc, và cũng là những nhà phê bình về tình trạng tham nhũng và làm việc không hiệu quả. 


 Luật lệ ở Việt Nam có ghi sự bình đẳng trong việc đóng góp về chính trị của phụ nữ cũng như của các nhóm thiểu số, nhưng trên thực tế họ đã không được đại diện đầy đủ. Hầu hết các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam  đều thuộc nam giớị Chỉ có một phụ nữ trong bộ chính trị đảng, và 25 phụ nữ trong số 450 thành viên của quốc hộị Một số rất ít phụ nữ đã được giữ một vài chức vụ quan trọng, kể cả các chức vụ phó chủ tịch, một vài bộ trưởng và thứ trưởng. Đại diện cho phụ nữ trong các chức vụ trung ương đảng tương đối tốt (26%), song rõ ràng là phụ nữ đã không được đại diện đầy đủ trong các cấp chính quyền địa phương. Tại các ủy ban nhân dân xã, thị trấn và các tỉnh lỵ, nữ giới chỉ chiếm các tỷ lệ từ 14 đến 21 % tổng số thành viên.

 
 Hiến pháp Việt Nam cấm chỉ sự kỳ thị vì giới tính, sắc tộc, tôn giáo hay cấp bậc trong xã hộị Luật pháp cũng ghi rõ về vấn đề bạo hành trong gia đình, tuy nhiên các cơ quan hữu trách chẳng bao giờ thực thi một cách hữu hiệu các đạo luật này cả. Tất cả các biện pháp đều cần thiết và có thể đưa đến việc giải quyết các vấn đề về công bằng và bình đẳng với sự đóng góp nhiều hơn nữa của phụ nữ trong các cuộc thảo luận, và để phụ nữ được đóng góp thêm, có tiếng nói và cả quyền lực nữạ Dường như họ nghĩ rằng các chính sách nhà nước có thể giúp lấp đi dần cái hố sâu giữa nam và nữ giớị Tuy nhiên, đoạn đường này ở Việt Nam vẫn còn dài 

 
Dân số và Khả Năng Sanh Sản
Dân số Việt Nam đã tăng lên gấp sáu lần trong thế kỷ vừa qua – từ khoảng 12 triệu vào năm 1960 lên đến 80 triệu hiện naỵ Tỷ số sanh sản hiện ở vào mức 2,49 trẻ em cho mổi phụ nữ so với 6 con trong thập niên 1960.
Vào tháng Sáu năm 1993, một đạo luật đã được thông qua ấn định việc giảm mức gia tăng dân số xuống 1,7 phần trăm đồng thời tăng tỷ số các căïp vợ chồng dùng các phương pháp ngừa thai lên tới 55% trước năm 2000. 


 Việc phá thai được luật pháp công nhận và các phương tiện cũng như dịch vụ phá thai được
cung cấp theo yêu cầụ  Từ năm 1990 đến năm 1993, tỷ lệ phá thai đã lên tới 2,5 cuộc phá thai trên một phụ nữ, một tỷ lệ cao nhất tại Á-châụ Theo như quỹ dân số của LHQ, thì 40 phần trăm tất cả các phụ nữ có bầu đã phá thai, với khoảng 1,4 triệu cuộc phá thai đã xẩy ra trong năm 1998. Nhà cầm quyền Viê.t-Nam cũng đưa ra một chính sách kế hoạch hóa gia đình theo đó các cặp vợ chồng được khuyến khích không nên có nhiều hơn 2 con. Hội kế hoạch hóa gia đình Viêt Nam cung cấp các chương trình chỉ dẫn và các dịch vụ giúp đỡ tới các cộng đồng qua các cơ sở tại địa phương. Cho tới năm 1997, các hoạt động thông tin, giáo dục và khuyến khích việc kế hoạch hóa gia đình, như việc dùng túi cao su và thuốc ngừa thai, đã được lan truyền tới 311 cộng đồng qua 914 cơ sở địa phương. Tổng số các cặp vợ chồng được giúp đỡ qua các cơ sở này lên tới 98 ngàn, trong đó 79 ngàn 500 cặp quyết định dùng các phương pháp ngừa thaị Hiện nay 79,2% các phụ nữ ở trong lứa tuổi từ 15 đến 49 tuổi đã dùng đủ các phương pháp ngừa thai 

 
Nhu cầu ngừa thai đã vượt quá xa sự cung cấp. Xưởng chế tạo bao cao su ngừa thai đã phải hoạt động 24 tiếng trên 24 – mà vẫn thiếu 14 triệu bao trong năm 1999. Vòng ống xoắn, hầu như là phương pháp ngừa thai duy nhất, đã được 67.5 % các phụ nữ xử dụng, và đa số đều đã phải đương đầu với những dị ứng của phương pháp ngừa thai nàỵ Một vài phụ nữ đã làm những người thử nghiệm trong việc dùng loại thuốc ngừa thai gọi là Quinacrine, và đã bị triệt sản. Quinacrine, mới trông có vẻ không nguy hiểm gì lắm, nhưng thật ra nó sẽ tan vào với các chất acít trong cơ thể, và đốt cháy mặt trong của dạ con tạo các vết thẹo và gây nên tình trạng triệt sản.

 
 Mặc dầu nhà cầm quyền hô hào chứ không bó buộc dân chúng phải dùng các phương pháp ngừa thai, nhưng họ có quyền ngăn chặn sự thăng cấp và tăng lương tại nơi làm việc đối với những cán bộ công nhân viên có trên 2 con. Các luật lệ địa phương cũng cho phép phạt những gia đình đông con, hay không cho họ được hưởng các phúc lợi khác. Như vậy có thể nói rằng, tại Viê.t-Nam, nhà nước đã xen vào phạm vi kế hoạch hóa của các gia đình một cách thô bạo, mà Hoa-Kỳ và các quốc gia khác không thể nào chấp nhận được.
 Tuy thế, chính sách này của nhà cầm quyền Viêt Nam đã đem lại kết quả. Cuộc thống kê thực hiện tại Viê.t-Nam trong năm 1994 đã cho thấy có một sự thay đổi lớn về tỷ lệ sanh đẻ so với các năm trước. Tỷ lệ này đã tiếp tục giảm tới mức độ khoảng ba con cho mỗi người me.. So với thập niên 1980, kiến thức về ngừa thai đã lan rộng và việc lựa chọn kế hoạch hóa gia đình đã được đa số cặp vợ chồng chấp thuận, và tỷ lệ này đã lên tới 65% trong số các phụ nữ đang có gia đình và còn ở trong lứa tuổi có thể sanh con. Số con trong gia đình vẫn tiếp tục giảm một cách trông thấy, và đã chứng tỏ rằng tỷ lệ sanh đẻ sẽ vẫn giảm trong những năm tớị

III - Phụ Nữ Viêt Nam và Sự Phát Triển Kinh Tế
Trong những thập niên qua, nền kinh tế Việt Nam đã được hưởng sự phát triển trung bình 8% một năm từ 1990 đến 1997 và như vậy đã phát triển tương tự hay nhiều hơn sự phát triển trong vùng Đông Á. Và ngay cả trong thời gian kinh tế suy thoái xẩy ra trong vùng Đông Á bắt đầu từ năm 1997, Viê.t-Nam đã tránh được các hiểm họa của sự bấp bênh cán cân chi phó, của sự khủng khoảng về tài chánh và ngân hàng đã xẩy ra hàng ngày trong vùng. Nhưng hai năm 1998 và 1999 với đà phát triển thấp – khoảng 4% – đã đem đến số thất nghiệp gia tăng. Mức lời của các công ty và số tiền thu của nhà nước cũng bị giảm sụt. Sự thăng tiến về các dịch vụ xã hội cũng giảm, các ngành sản xuất và xây cất cũng trải qua giai đoạn suy thoái. 

 
 Trong lúc đó, lại có một sự gia tăng đột ngột trong ngành xuất cảng vào năm 1999, khi số hàng xuất cảng đã tăng thêm đến 20% so với mức tăng trưởng chỉ có 2% trong năm 1998. Lý do của sự thăng trưởng này là nhờ vào lợi tức từ dầu thô, hải sản, quần áo và giầy dép, mà tỷ lệ đã chiếm đếùn 53 phần trăm tổng số hàng xuất cảng. Số tiền thu được từ hàng nhập cảng này đã xuất phát từ các thị trường Á-châu và Âu-Châụ
 Đáng lẽ xuất cảng gia tăng sẽ thu hút thêm đầu tư mới cho các công ty xuất cảng, nhưng tổng số tiền đầu tư đã sụt giảm một cách trầm trọng, từ 29% trong năm 1977 xuống 19 phần trăm trong năm 1999, chỉ vì sự suy giảm đột ngột của vốn đầu tư từ nước ngoài 

 
 Tình trạng khó khăn kinh tế tại Việt Nam lúc bấy giờ và hiện tại là cái hố ngày càng sâu giữa thành thị và thôn quệ Sự khác biêït về lương bổng không những đã xẩy ra giữa thôn quê và thành thị mà còn giữa các vùng quê với nhau nữa. Nói đến vấn đề điện lực, năng lượng điện xử dụng ở Việt Nam chỉ bằng một phần bẩy năng lượng điện dùng tại nước láng giềng Thái Lan. Tỷ lệ người dân sống ở vùng quê Việt nam là 80%, song họ chỉ dùng có 14% tổng số điện sản xuất. Nói một cách khác, dân chúng vùng quê chỉ dùng có một phần năm số điện tiêu thụ tại  các tỉnh thành, và họ phải trả tiền điện với giá cao gấp đôị Sự khác biệt giữa tỉnh thành và thôn quê có thể sẽ tạo nên những sự căng thẳng trong xã hội và đưa nền kinh tế đến chỗ trì trê..

Phụ Nữ và Nền Kinh Tế
Với những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang đi chậm lại trong thập niên 90, và với những sự căng thẳng về đời sống xã hội càng ngày càng tăng, sự tiến triển của phụ nữ trong xã hội càng ngày càng trở nên quan trọng hơn – ít nhất là khi chúng ta bắt đầu tin rằng có một hệ lụy nào đó giữa sự phát triển và sự tiến hóa của phái tính. Đây là lời đúc kết của một cuộc nghiên cứu mới, sửa soạn cho bản tường trình về cuộc nghiên cứu các chính sách về Phái Tính và sự Phát Triển của Ngân hàng Thế giớị Bản tường trình này đã cho biết rằng càng có sự bình đẳng về phái tính tại bậc trung học thì nền kinh tế càng được lợi lộc nhiều hơn.

 
 Không phải là người phụ nữ Viê.t-Nam không có mặt trong thị trường lao đô.ng. Thật ra, người phụ nữ Viê.t-Nam đóng góp rất nhiều trong sự phát triển của nền kinh tế quốc giạ Trên những cánh đồng, người phụ nữ làm hầu hết mọi việc trồng trọt, gieo tỉa, gặt hái, và cả việc chăn nuôi gia súc. Phụ nữ cũng điều hành các ngành thương mại và các dịch vụ bán chính thức, trong đủ mọi môi trường của nền kinh tế. Trong lãnh vực này thì phái nữ chiếm đến trên hai phần ba thị trường nhân du.ng.  Tuy thế, con số phụ nữ thất nghiệp lại vẫn cao hơn nam giới, tại thành thị cũng như ở các vùng quệ

Đề Nghị
Người ta có thể soạn ra một danh sách dài những điều cần được đề nghi.. Tuy vậy, bàn về sự phát triển của nữ giới, chúng tôi  đề nghị ưu tiên hàng đầu phải là một nền giáo dục căn bản cho tất cả phụ nữ, kể cả các thiếu nữ trẻ. Đây là điều cần thiết nhất. Mặc dầu tỷ số học sinh ghi tên đi học lên đến 95% số người trong lứa tuổi phải đi học, nhưng chỉ có 60% học hết lớp 5 – với nam sinh hoàn tất được 5,8 năm học, và nữ sinh chỉ có 3,4 năm học (UNICEF 1977:2). 


 Tỷ lệ người mù chữ ở Viêt Nam caọ Thống kê cho thấy 32 phần trăm nữ giới so với 20 phần trăm nam giới có trình độ học thức thấp. Thêm vào đó, nữ sinh thường chỉ chú trọng vào một vài ngành học, như giáo dục và các khoa nhân văn, không có nhiều người theo học các môn như toán và khoa học, những cái mà họ cần trang bị để tham gia vào một nền kinh tế thị trường. 


 Kết quả đã cho thấy, nếu vấn đề phát triển phái tính được coi trọng ở Viê.t-Nam, có lẽ các trường học là nơi chúng ta phải để ý tới trước nhất.

IV.  Kết Luận
Để phát triển phái tính và giảm thiểu sự nghèo túng ở Việt Nam, nhà cầm quyền, Ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ và những cơ quan tài trợ nên chú trọng vào việc soạn thảo một chương trình hành động toàn quốc nhằm thăng tiến người phụ nữ Việt Nam. Người phụ nữ cần phải được đóng góp đồng đều vào các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa và cả trong xã hội nữa. Để đạt được mục đích này, cần có nhiều ngân khoản dành cho việc giáo dục phụ nữ nói chung và các thiếu nử trẻ. Điều này nhất định là điều đòi hỏi quan trọng nhất nếu Việt Nam chịu để cho người phụ nữ tham gia vào các vai trò lãnh đạo và đưa ra những quyết đi.nh. Giáo dục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc kế hoạch hóa gia đình, tăng cường việc giữ gìn sức khoẻ, cung cấp những cơ hội đóng góp vào những hoạt động chính trị, và giúp gia tăng số người có việc làm và tăng trưởng kinh tế.


Tóm lại đầu tư vào việc giáo dục phụ nữ và trẽ em là chìa khoá cho sự thành công của mọi sự phát triển. 


 

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh: “Nếu Hoa-Kỳ Bắt Đầu Một Cuộc Chiến Tranh Nữa, Hoa Kỳ Sẽ Mang Chiến Tranh Vào Ngay Đất Nước

Nguồn: VietNest, Washington, DC
3/19/2003

“Nếu Hoa-Kỳ bắt đầu một cuộc chiến tranh nữa, Hoa Kỳ sẽ mang chiến tranh vào ngay đất nước của họ”. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã tuyên bố như vậy trong một buổi họp báo vào 18.3.2003 theo một bản tin của Korea Times loan đi. Thầy Thích Nhất Hạnh là một nhà sư và một vị lảnh đạo tinh thần Việt-Nam được nhiều người biết đến đã trầm tĩnh cảnh giác mọi người về nguy hiểm của chiến tranh.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, năm, nay 75 tuổi, nhắc lại chiến tranh Việt-Nam đã làm trên 58,000 quân nhân Hoa-Kỳ tử trận. Không hoạt động chính trị, nhưng những lời tuyên bố kêu gọi hòa bình của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh tại buổi họp báo liên hệ trực tiếp đến hai vấn đề quốc tế sôi bỏng hiện nay là chiến tranh sắp xẩy ra tại Iraq và khủng hoảng nguyên tử ở Bắc Hàn.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh nói rằng: “Nam Hàn nên bảo đảm rằng sẽ không bao giờ gây chiến với miền Bắc và giúp họ giải quyết vấn đề trong tình huynh đệ”. Là một nhà lãnh đạo Phật Giáo, ngài nhấn mạnh rằng về tầm quan trọng của phương pháp thiền để tìm giải pháp cho những cuộc xung đột. “Con người nên kiểm soát tư tưởng của mình trước để đem lại hòa bình trong vấn đề giao tế với người khác”. Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng là một trong những người lãnh đạo phong trào hòa bình, chống chiến tranh Việt-Nam.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã xuất bản cả trăm cuốn sách, phần lớn bằng tiếng Anh. Một số ít hơn bằng tiếng Việt. Cuốn đầu tiên có tựa đề: “The Living Buddha Sings of Peace”. Thầy Nhất Hạnh nổi tiếng với cuốn sách “Anger” đã bán được 700,000 bản cho tới nay. Theo thầy Nhất Hạnh, Phật Giáo nhấn mạnh về tình yêu bẩm sinh và sự chấp nhận mọi tôn giáo. Các cách biệt giữa các tôn giáo có thể hóa giải được với sự rèn luyện nội tâm. Thầy Nhất Hạnh dự trù đi thuyết giảng nhiều nơi từ nay cho đến ngày 3.4.2003.


tranh của fong@vnwomenforum

 

Chuyện hay vừa mới xảy ra ở Sài Gòn *

Ngày 8.3, trời Sài gòn nóng tới 36 độ, nhưng không gian thơm ngát bởi khắp nơi tràn ngập hoa hồng, bưu thiếp, ecard và những lời chúc tôn vinh.

 
Và Sài Gòn có lẽ chưa năm nào nữ sinh viên tận dụng ngày 8.3 để đi bán hoa kiếm chút vốn liếng học tập nhiều như năm nay. Trên những con đường trung tâm Sài Gòn, cứ vài mét lại có một cô sinh viên hoặc một nhóm thanh niên nam nữ cùng bán hoa hồng. Gia tài của họ chỉ là vài chục, vài trăm bông hồng đựng trong cái xô hàng ngày vẫn hứng nước trong ký túc xá. Một vốn có thể tới bốn lời, thu nhập một ngày 8.3 hơn cả tháng đi dạy kèm hoặc chạy bàn trong các nhà hàng để kiếm sống. Những bông hồng lay lắt mời chào vùn vụt trong dòng xe bất tận của những đôi trai gái ăn diện ngất trời cùng tuổi họ. Những đám choai choai hay gân cổ hát \" Tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề nuối tiếc\" hình như sẵn tiền mua hoa hồng hơn bất cứ ai. Còn họ, những cô sinh viên quê ở khắp mọi miền đất nước thì cố gắng bán từng bông hồng mong manh, thoáng buồn khi nghĩ đến ở quê nhà giờ này chẳng biết có ai tặng mẹ một bông hồng.

Tinh mơ hôm sau, mọi rác rưởi đã được dọn dẹp sạch sẽ bởi bàn tay của những nữ công nhân vệ sinh cần mẫn cả một đêm 8.3. Ngoài đường chẳng còn thấy một bông hoa hồng nào bày bán, như thể chưa hề có một đêm như thế. Còn những bông hoa hồng cuối cùng chưa bán được, có lẽ các cô sinh viên hôm qua đã đem về ký túc xá để tự tặng cho mình.

browndoll @hanoiconner .com

* Tựa do Gió O đặt