Thứ hai, 30/12/2002,
Nước Pháp đau đầu vì "a còng"
Một cuộc tranh cãi dang bao trùm nước Pháp sau khi các nhà ngôn ngữ Pháp đặt cho ký tự @ rất phổ biến trên các địa chỉ thư điện tử toàn thế giới một cái tên mang dấu ấn của tiếng Pháp. Đương nhiên đó là cái tên mà những người sử dụng thư điện tử không phải bằng tiếng Pháp chưa từng nghe thấy.
Cho đến nay, người Pháp vẫn đứng ở ngã ba đường trong việc lựa chọn hoặc là một từ rất phổ thông phái sinh từ tiếng Tây Ban Nha, "arobase", với một từ có vẻ thân Anh, "at". Nhưng uỷ ban về thuật ngữ và từ mới (General Commission for Terminology and Neologisms), một cơ quan của chính phủ Pháp có nhiệm vụ chuyên đặt các tên mới trong bảng từ vựng tiếng Pháp - lại quyết định chọn từ khác để gọi ký tự @. Đó là "arrobe". Có hẳn một chỉ thị ban ra nhưng không mấy ai tin là thuật ngữ mới đó được dân chúng chấp thuận. "Sẽ không có ai sử dụng arrobe - Christine Ouvrard, nhà từ vựng học công tác ở nhà xuất bản Larouse - nơi chuyên ấn hành những cuốn từ điển bán chạy nhất - khẳng định - Người ta đã cố tình phát minh ra một từ bằng cách biến nó thành một từ Pháp. Để làm gì?".
"Arobase" đi vào từ điển Larouse vào năm 1998 ngay sau khi có dịch vụ thư điện tử. Từ này phái sinh từ từ "aroba" của Tây Ban Nha. Nghĩa của nó đề cập đến 1 phép đo cổ điển về trọng lượng. Và người ta cũng không rõ có mỗi liên hệ gì giữa một đơn vị đo cổ của Tây Ban Nha với thế giới mới của thư điện tử. Lịch sử ngôn ngữ từng chứng kiến sự ra đời của một từ để chỉ một sự kiện hay một sự vật một cách rất kỳ quái, chẳng có một giải thích logic gì. Nhưng dù không làm sáng tỏ được nguyên do sử dụng từ mà dân Pháp đang dùng phổ biến hiện nay "arobase", bà Ouvrad vẫn quả quyết sẽ không đưa từ "arobe" do chính phủ "phát minh" vào từ điển Larouse cho đến khi bản thân nó được sử dụng rộng rãi. "Bộ máy quan liêu có thể ban hành sắc lệnh này nọ - Bà nói - nhưng trong từ điển, chúng tôi chỉ phản ánh những gì mà công chúng đang sử dụng mà thôi".
Nguyên do sâu xa của cuộc tiêu phí tiền của để nghĩ ra một từ đặc Pháp xuất phát từ "cuộc chiến" âm ỉ của các nhà ngôn ngữ bảo thủ Pháp chống lại sự "xâm lăng" của tiếng Anh vào lĩnh vực công nghệ. Bằng sức ép của chính quyền, người ta từng thành công trong việc giữ gìn danh dự tiếng Pháp bằng việc phổ biến một số từ như "ordinateur" dùng cho máy tính, "logiciel" dùng cho phần mềm, và "internaute" cho người dùng internet, cũng như "informatique" cho tin học. Cũng có một vài thành công đáng nể tưởng chừng không thể vượt qua nổi như cụm từ FAQ (viết tắt của Frequently Asked Questions - Những vấn đề hay được hỏi). Cụm từ viết tắt đo được chuyển sang tiếng Pháp một cách thông minh là Foire Aux Questions (thị trường câu hỏi).
Tuy nhiên, những thành công "vang dội" như vậy như sao buổi sớm. Nhìn chung, các cơ quan ngôn ngữ Pháp đều bất lực trước làn sóng áp đảo trong việc sử dụng tiếng Anh trong công nghệ mà điển hình là cụm từ "e-mail" (thư điện tử). Họ cũng không làm sao thay được từ tiếng Pháp "jeunes pousses" cho cụm từ tiếng Anh "young sprouts" (những mầm non) khi muốn ám chỉ những người mới bắt đầu lao vào lĩnh vực internet.
Trong ngôn ngữ các nước, từ @ được dịch rất rõ nghĩa. Chẳng hạn, người Tây Ban Nha gọi là "aroba". Người Đức gọi nó là "at". Trong số các dịch nghĩa, đáng chú ý có nghĩa dịch từ các tiếng như Czech là zavinac (có nghĩa "cá trích muối"), sobachka từ tiếng Nga nghĩa là "chó con", Chiocciola tiếng Italia nghĩa là "cái đinh nhỏ", và strudel trong tiếng Do Thái nghĩa là "Một cái bánh của người Phổ". Còn tiếng Việt, @ được dịch là "a còng". Mặc dù chưa kịp đi vào từ điển tiếng Việt và cũng chưa được cơ quan ngôn ngữ nào của Việt Nam chấp nhận chính thức, công chúng đều đã dùng từ đó một cách phổ biến. Thậm chí nó còn được nhanh chóng "xã hội hoá" khi ai đó muốn ám chỉ 1 chiếc xe máy thuộc hàng xịn bằng cách nói đó là "con a còng".
theo netnam.com
Báo Việt Báo phát giải Viết Về Nước Mỹ,
Vinh Danh Tác Giả Trùng Quang, 92 Tuổi
LITTLE SAIGON.- "Với số lượng độc giả chưa từng thấy, Giải thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ đã phá vỡ bức tường thành ngăn cách giữa người viết và người đọc." Nhà thơ Du Tử Lê phát biểu như trên, trước hơn 400 quan khách Việt Mỹ họp mặt với giải thưởng Việt Báo.
Sinh hoạt ra mắt sách, trao tặng các giải thưởng Viết Về Nước Mỹ 2002 đã liên tục sôi nổi suốt 4 giờ đồng hồ tối thứ sáu 27-12, tại nhà hàng Seafood World, với phần phát biểu của nhà thơ Du Tử Lê, nhà báo Đỗ Ngọc Yến và tác giả Bùi Thanh Liêm, tức Tiến sĩ Bruce Thanh Vu, khoa học gia được NASA vinh danh trong năm 2002.
Khai mạc cuộc họp mặt, nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh đã đặc biệt chào mừng các tác giả viết về nước Mỹ và giải thích với quan khách Hoa Kỳ "Đây là những trang sử về 27 năm hội nhập và trưởng thành của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, do hàng ngàn tác giả cùng viết."
Sinh hoạt cuộc họp mặt đã đặc biệt sôi nổi khi vị tác giả Viết Về Nước Mỹ cao niên nhất, bà Trùng Quang, 92 tuổi, tác giả bài "Tôi Đi Tìm Tự Do Dân Chủ" mở đầu sách "Viết Về Nước Mỹ tập III.
Bà Trùng Quang Sinh ngày 1-1- 1912 tại miền Bắc VN, bà Trùng Quang là nhà thơ, nhà hoạt động văn hoá, xã hội, giáo dục kỳ cựu của phụ nữ Việt Nam.
Tại Hà Nội, bà là hiệu trưởng sáng lập Trường Nữ Công Việt Nữ. Di cư vào Nam từ 1954, bà là hiệu trưởng trường Phương Chính, giảng dạy về Việt ngữ, sinh ngữ, nữ công. Bà cũng là người khai sáng ngành mỹ nghệ làm búp bê Việt Nam với kỹ thuật du nhập từ Nhật và Âu Châu.
Xuất hiện trên sân khấu, cạnh học trò cũ là Kiều Chinh, tác giả Trùng Quang bằng tiếng Anh lưu loát, đã nói lên đầy đủ ý nghĩa và lòng biết ơn đất nước Hoa Kỳ khi bà Viết Về Nước My.
Trong cuộc họp mặt, Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ cũng chính thức loan báo thêm bước phát triển mới: tăng ngân khoản giải thưởng từ $30,000 lên $40,000 và mở thêm phần thi viết The Wrinting on America Contest bằng Anh ngữ từ đầu năm 2003.
Dưới đây là bài viết "Tôi Đi Tìm Tự Do Dân Chủ" của lão bà bà Trùng Quang, 92 tuổi
Năm 1979, sau khi "hoàn thành xuất sắc" các đợt đổi tiền, đánh tư sản mại bản, tịch thu tài sản tài phiệt người Hoa... nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra đòn vơ vét mới: loan báo cho phép những người mang quốc tịch Trung Hoa "hồi hương". Từ lệnh này, các "cơ quan chức năng" trên cả nước mặc sức hái ra tiền bằng dịch vụ bán... quốc tịch Tầu, đăng ký và tổ chức hồi hương.
Người Việt muốn mang quốc tịch Trung Hoa phải trả từ 12 đến 15 lạng vàng một nhân xuất thì được cấp thẻ căn cước mang tên Tàu để đăng ký hồi hương.
Nghe nói đây là một chiến dịch toàn quốc, do chính Phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng nội vụ thời ấy là Phạm Hùng cầm đầu, ban lệnh cho các sở công an địa phương. Một gia đình hồi hương, trước hết là phải nạp nhà cửa, đất đai. Số vàng kể trên, nhà nước chính thức thu một phần, sản còn lại để cho các quan công an địa phương một phần và chủ tàu lo toan mọi việc và đối đãi với công an địa phương.
Sau bốn năm sống dưới quyền hành chuyên chế của XHCN, gia đình tôi như bao người khác, hiểu rõ chỉ còn cách ra đi. Đành là mất tất cả sản nghiệp để đổi lấy tự do. Chạy vạy bán đồ đạc lo đủ số vàng cho tổ chức để lấy đủ giấy tờ mang quốc tịch Tàu!
Vào một buổi sáng sớm đầu tháng Năm âm lịch, gia đình tôi gồm 5 người, em dâu, em gái, tôi và hai cháu nhỏ 6 và 5 tuổi (em trai và em rể đã di tản từ năm 1975, hiện ở Mỹ) rời bỏ căn nhà riêng và cũng là tư xưởng (tôi làm tiểu công nghệ, nhà khá rộng) ra đi lúc vừa tan giờ giới nghiêm.
Tôi đi xe gắn máy, hai em và hai cháu có bạn thân chở giúp bằng xe Vespa. Hành trang chỉ có 3 chiếc tay nải đựng vài bộ áo quần và ít thuốc cần thiết cho trẻ con. Khóa trái cửa, rồ máy xe, tôi nhìn lại căn nhà do chính tôi xây dựng, rồi cúi đầu đạp xe ra khỏi xóm.
Dù đi với diện "hồi hương", giấy tờ đầy đủ nhưng vẫn phải bí mật tuyệt đối. Khi đến bến xe đò, một người Tàu hướng dẫn nhóm tôi lên một xe vận tải sắt làm nhà, trong xe có 12 hành khách toàn là dân gốc Việt và 2 tài xế. Xe chạy đi Cà Mau.
Khi đến quận Cà Mau trình giấy, công an nói phải đợi có chuyến tàu mới đi được. Họ chỉ chúng tôi sang Hộ Phòng thuê một gian nhà tạm trú ít bữa. Cả gia đình tôi sang sông thuê một gian nhà nhỏ chờ đợi. Tại đây, chuyện công an tổ chức "hồi hương cho người Hoa" là chuyện công khai, có cả trăm gia đình ăn dầm nằm dề chờ đợi, ngày ngày phải chầu chực chờ lệnh công an.
Ba tuần trôi qua. Một tối công an đến báo ngày hôm sau được khởi hành. Sáng hôm sau, dưới trời mưa tầm tã, nhóm người Việt mang quốc tịch Tàu lên trên 3 chiếc xe đò đi Gành Hào để xuống tàu "hồi hương"!
Gành Hào lúc này đã biến thành cả một "cửa khẩu hồi hương". Nơi nơi đông chen hầu hết là khách đi diện hồi hương từ mọi tỉnh đổ đến chờ ngày khởi hành.
Tới phiên chuyến chúng tôi ra đi, buổi chiều trời vẫn mưa u ám gió lạnh.
Cả đoàn xếp hàng dài trên bờ sông để xuống thuyền. Chiếc tàu lớn 6 mã lực mang 200 người mở máy từ từ ra biển lúc xẩm tối. Hai bên bờ, đèn đã sáng trong làng xóm. Hai đứa trẻ ngây thơ nằm yên trong lòng mẹ. Em dâu và em gái tôi dưng dưng buồn bã. Còn tôi ngồi trong khoang tối nhìn ra ngoài cây, vườn, với ánh đèn thôn quê dần dần xa, lòng tan nát.
Ra tới biển, trời mưa nặng hạt, gió thổi mạnh, sóng lớn. Nhiều hành khách say sóng nằm ngổn ngang trên sàn thuyền. Bên cạnh thuyền có tàu biên phòng của công an theo sát. Bộ đội biên phòng có nhiệm vụ "bảo vệ" thuyền nhân từ bến đến hải phận quốc tế, nhưng thấy gió bão qua lớn nên đã bỏ về vào lúc nửa đêm. Trước lúc bỏ về, có lệnh cho mọi người trên tầu gom góp tiền bạc tư trang còn lại để "ta ơn các bộ đội biên phòng."BR>Sau 2 đêm 1 ngày chống chọi với bão gió, thuyền lại phải quay về Gành Hào. Hai trăm con người trở về bến cũ với hình dạng tơi tả, thảm thương. Sau khi nhà chức trách kiểm điểm, mọi người tìm những gian nhà bỏ trống tạm trú. Không ai còn 1 xu nhỏ vì tối trước trên tàu đã thu góp tất cả mang tặng bộ đội. Các nạn nhân lũ lượt vào chợ bán rẻ những chiếc nhẫn kỷ niệm, chiếc lắc khắc tên người thân, sợi dây truyền đeo ảnh Phật... để lấy tiền độ nhật. Một đôi người vì cũng quẫn quá nên buồn rầu bỏ cuộc quay về.
Một tuần sau, chúng tôi lại xuống thuyền ra đi. Cũng gió bão ngất trời rồi trong 3 ngày liên tiếp, khi thuyền qua biển Thái Lan bị cướp 4 lần. Cướp biển, mặt vẽ xanh đỏ, có súng tiểu liên, bóc lột tàn tệ mọi người. Một số thiếu nữ bị hãm hiếp dã man.
Trong thuyền tiếng khóc uất ức vang dội như át cả tiếng sóng đang gầm thét dã man. Tất cả mọi người đều đau xót căm hờn, tâm thần như bại liệt trong hoàn cảnh phũ phàng. Thực phẩm hết, nước uống hạn chế, trẻ em đói khát nằm dài, những người mẹ rỏ từng giọt nước trên môi khô héo của con...
Đêm ngày thứ năm, thủy thủ trên thuyền reo lên: "Các cô, bác, ông bà yên lòng, chúng tôi đã trông thấy ánh đèn của giàn khoan dầu rồi. Độ 2 giờ nữa sẽ tới nơi thôi" Nửa chết, nửa sống, mọi người trông về phía xa xa thấy có mờ mờ ánh sáng, đó là giàn khoan dầu ngoại quốc tại Mã Lai.
Hai cựu quân nhân VNCH gốc hải quân biết đôi chút ngoại ngữ đeo phao nhào xuống biển tìm cách liên lạc với giàn khoan dầu. Các anh trở về bằng ca nô của giàn khoan mang theo nhiều bình nước và mấy túi bánh mì và cho biết là thuyền phải rời xa giàn khoan độ nửa hải lý, sáng mai sẽ có tàu lớn đến tiếp cứu. Thế là chúng tôi có nước cầm hơi, các bà mẹ bẻ bánh mì nhúng nước lạnh bón cho các con nhỏ.
Sáng hôm sau nắng đẹp, trời xanh biếc, mặt biển vàng tươi ánh mặt trời nhưng sóng gió vẫn lớn. Độ 9 giờ, trên tàu xôn xao vui mừng vì nhìn thấy một chấm trắng từ phía xa tiến lại. Các bạn trẻ hét to: "Chuẩn bị, tàu cứu ta đã đến kia rồi". Khối trắng tiến gần, trên thuyền đã nhìn rõ lá cờ 3 sắc phấp phới "A, tàu Pháp!", họ hét vang vui vẻ. Hai thuyền nhân giỏi tiếng Pháp đeo phao vù xuống biển đến tàu liên lạc. Lát sau máy phóng thanh trên tàu gọi cho thuyền tiến đến cạnh tàu.
Trên tàu Ile de Lumière (Đảo Ánh Sang) thả dây xuống buộc thuyền chúng tôi vào mạn tàu rồi cứ một lớp sóng đưa thuyền lên cao sát mạn tàu là một số thuyền nhân được nhân viên trên tàu kéo đỡ lên khoang. Khoảng sau 2 tiếng, công việc tiếp cứu đã xong. Gần 200 người tỵ nạn đã được an bình trong chiếc thủy đỉnh rộng lớn. Tất cả mọi người tắm bằng nước biển trên tàu rồi cứ mặc nguyên quần áo ướt ngồi phơi nắng gió cho khô.
Bữa ăn trưa hôm đó, người lớn được một khúc bánh mì kèm mứt ngọt. Trẻ em thêm vài bánh quy. Tối có thêm cháo, bánh mì dòn và phó mát. Đêm đến, trên boong tàu chúng tôi nằm ngồi ngổn ngang. Vừa tảng sáng máy phóng thanh rầm rã kêu gọi mọi người lên sàn tàu nghe thông điệp của Tổng Thống Pháp.
Máy phóng thanh vang vang tuyên bố là đêm qua, Tổng Thống Pháp quốc đánh điện cho các tàu Pháp vớt 1.500 người trên biển đông, và hỏi các thuyền nhân có ưng đi Pháp không. Tiếng hoan hô vang dậ ai ai cũng đồng ý, thế là tàu trực chỉ hải cảng Singapore.
Chiều tối ngày hôm sau, tới Singpore, tàu phải đậu xa biển mấy trăm thước. Nhân viên sứ quán Pháp xuống tàu làm thủ tục nhập cảnh. Chúng tôi lần lượt được phỏng vấn: tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ tại Việt Nam... Lời khai được ghi rõ trong cuốn sổ lớn rồi mỗi người được cấp một tờ giấy nhỏ ngang dọc 15 phân tây. Đó là giấy nhập cảnh Pháp quốc của chúng tôi. Thuyền của nhóm tôi đã được cứu vớt đầu tiên nên được đặc biệt ưu đãi, miễn trả vé máy bay đi Pháp.
Các viên chức thức suốt đêm làm giấy tờ. Khi công việc vừa xong thì đã 7 giờ sáng. Tàu được cập bến ngay lúc đó. Một số người ở lại Singapore để chờ đón thân nhân.
Những người đi Pháp rời khỏi tàu lúc 9 giờ. Lên bến đi qua một lối riêng, cảnh sát xét giấy rồi ra thẳng nơi phi cơ Pháp đã đậu sẵn. Phi hành đoàn và hai bác sĩ, 2 nữ y tá đón chúng tôi ở cầu thang máy bay.
Thời gian tại Pháp
Trong phi cơ sáng trưng, sạch sẽ, thơm phức. Bọn thuyền nhân chúng tôi thì lem luốc, hôi hám, dơ bẩn, tiến vào ngồi trên nệm ghế màu xanh lợt. Nơi đuôi máy bay là phòng khám bệnh, giường nằm, bàn ghế trắng tinh, bác sĩ, y tá sẵn sàng đón tiếp bệnh nhân. Bữa ăn dọn lên. Mỗi người một khay có sữa, thịt gà quay, rau trộn, bánh ngọt, phó mát và kẹo. Thằng cháu nhỏ cầm bánh vừa ăn vừa cười tươi vui làm tôi thấy lòng bồi hồi chua sót.
Phi cơ hạ cánh tại phi trường Charles de Gaulle. Nhân viên Hồng Thập Tự chờ đón tất cả lên xe bus về trạm tiếp cư Crétail. Mỗi gia đình được một phòng.
Tối hôm đó, mọi người được tắm nước nóng. Có người đến Paris chỉ mang trên người một chiếc quần đùi. Áo quần giặt xong căng phơi trên máy sưởi, mình quấn khăn tắm vào giường nệm ấm. Sáng hôm sau mới được đưa
đi lựa quần áo cũ.
Ở Crétail một tuần, nhóm tôi được lệnh đi chuyển về Toulouse để chờ giấy phép đi Mỹ. Một buổi tối, chiếc xe bus màu vàng chở 20 người gồm tài xế, 2 người Lào, tới chở đi. Quá nửa đêm, xe đến địa điểm cư trú. Đó là một khách sạn cũ hai tầng lầu có nhiều phòng. Mỗi gia đình một phòng có đủ giường nệm, chăn gối, bàn ghế. Tầng dưới, phía bên cạnh là tửu lầu, mà cũng là phòng ăn của nhóm tị nạn.
Phòng ăn rộng chia làm hai nơi. Bên kia khách của nhà hàng, bên này là chỗ ăn của nhóm thuyền nhân. Mỗi bàn bốn người, thức ăn đầy đủ các loại thịt, cá, tôm...đặc biệt là Chủ Nhật, mục sư George Irwin đến đón đi lễ nhà thờ Tin Lành. Ông là người Mỹ, bà vợ dân Canada, đã truyền giáo tại Nha Trang bảy năm nên nói tiếng Việt rất lịch sự.
Ở khách sạn tạm cư được hai tháng, chính phủ trợ cấp 8 tháng tiền nhà, tiền ăn để dọn ra phố tự túc thuê nhà, kiếm việc làm. Em dâu tôi biết tiếng Pháp nên kiếm được việc ở tiệm ăn. Em gái ở nhà trông hai cháu nhỏ. Còn tôi vì quá suy nhược lại bị đau tê thấp nặng nên được đi dưỡng bệnh tại bệnh viện Luchon.
Luchon (Baguere de Luchon) nằm trong rặng núi Pyrénées, cách Toulouse độ 100 cây số. Đó là một vùng có thời tiết ấm áp, phong cảnh đẹp nhất miền Nam nước Pháp. Bệnh viện trang trí lịch sự, cách chăm lo bệnh nhân rất chu đáo dưới quyền điều khiển của bác sĩ danh tiếng.
Tại bệnh viện, buổi sáng, sau giờ điểm tâm, bệnh nhân tê thấp xuống hồ tắm nước nóng để y tá nắn gân cốt từng người. Buổi chiều, trước giờ ăn xoa bóp tại phòng ấm, và mỗi hai tuần ngâm bùn nóng. Bùn chứa trong thùng gỗ rộng. Bệnh nhân bỏ áo quần thường, mặc đồ riêng bằng nylon trùm từ đầu tới gót chân, ngâm trong bùn ấm 40 phút rồi bỏ bộ đồ nylon, tắm nước nóng, mặc lại áo quần, nghỉ độ nửa giờ mới được về phòng.
Tại Luchon có một ông bác sĩ gốc Việt Nam, Docteur Georges Navaro, nhưng không biết nói tiếng Việt. Bà vợ người Pháp rất dễ thương. Tôi là bệnh nhân Việt Nam duy nhất nên bác sĩ Navaro săn sóc rất tận tâm. Ông còn lái xe đưa tôi đi ngoạn cảnh các công viên, sang bờ biển Tây Ban Nha (cách Luchon 13 cây số) tới xem các người tập bay khinh khí cầu. Dù tôi không thông thạo tiếng Pháp bao nhiêu nhưng tôi rất thân thiện, quý hóa.
Tổ chức trong bệnh viện chu đáo, lịch sự. Bữa ăn thừa dinh dưỡng. Bệnh viện được coi
là nơi để dưỡng sức, nghỉ ngơi khi quá suy nhược tinh thần. Vậy nên người địa phương chỉ được phép ở tối đa là 6 tuần lễ, nhưng riêng tôi đã ở dưỡng viện Luchon gần 3 tháng. Khi được giấy nhập cảnh Mỹ tôi mới rời viện.
Được tin nhóm tôi đi Mỹ, Ông Bà mục sư Tin Lành khuyên nhủ tôi nên ở lại Pháp làm việc cho Hội Thánh và giúp bả mở trường nữ công gia chánh để truyền bá văn hóa Việt Nam cho phụ nữ tại vùng Toulouse. Nhưng làm sao tôi bỏ 2 thiếu phụ đang trên bước đường xa lạ tìm chồng, và hai cháu nhỏ thơ ngây đi tìm cha, và nhất là sau hơn 5 năm chẳng biết em trai, em rể hiện nay tình tiết ra sao nữa?
Lên Paris trước một tuần sau khi phỏng vấn, khám sức khỏe, ký giấy vay tiền hội từ thiện Công Giáo mua vé máy bay đi Mỹ, gia đình tôi đi vãn cảnh tại thủ đô Ánh Sáng: Điện Tuileries, Panthéon, nhà thờ Notre Dame de Paris, tháp Eiffel, sông Seine, Khải Hoàn Môn (Arc de Tromphe)...
Vào trung tuần tháng 3, 1980, lúc mờ sáng, gia đình tôi đón xe lửa qua Bỉ (Belgium) rồi lên phi cơ đi Mỹ. Từ biệt nước Pháp vào lúc đèn phố còn chiếu sáng, xe lửa lướt nhanh qua dẫy phố mái nhà cao thấp, tôi mênh mang nhớ lại 9 tháng trước đây được tầu Ile de Lumière vớt cứu, được Pháp quốc chu cấp tài chánh, lo xếp đặt nơi ăn, chốn ở, chữa bệnh một cách ân cần trọng đãi, coi nhóm thuyền nhân tị nạn chúng tôi như thân hữu từ xa đến du lịch. Những sự đãi ngộ quý hóa đó đã làm chúng tôi phấn khởi tinh thần và tin tưởng kính trọng thể chế Tự Do Dân Chủ. Trong thâm tâm tôi thầm ghi ân Pháp Quốc.
Phi cơ đều hòa lướt cánh, lòng tôi rối ren nửa vui sắp đến nơi chủ định, mà buồn vì mỗi phút một cách xa quê hương. Nước và mây đã đưa tôi từ Á Châu qua Âu Châu, rồi nay đến Mỹ Châu, sau 10 tháng đầy âu lo, mong đợi.
Nước Mỹ
Tháng Ba năm 1980, máy bay hạ cánh tại phi trường National Virginia vào lúc mờ tối. Em trai và em rể đã chờ đón tại đó. Sáu năm xa cách, gia đình gặp nhau biết bao là mừng mừng tủi tủi, rồi cùng lên xe về thành phố Virginia.
Bữa ăn đầu tiên tại Mỹ là thịt gà Kentucky gần nhà. Gian nhà đầu tiên tôi đến ở đường số 7, Virginia, gồm hai phòng ngủ và phòng khách, bếp. Căn chung cư cũ kỹ đó, hai em tôi vừa thuê với giá rẻ để đón gia đình. Yên lành tôi ngủ trong chiếc giường kéo ở divan ra. Đó là chiếc giường đầu tiên tại Mỹ.
Sáng hôm sau cả nhà đến quận hạt trình giấy lĩnh thẻ cư trú, thẻ y tế. Tất cả mọi người đều được phụ cấp hàng tháng. Công việc xét kiểm giấy tờ nhanh chóng. Ông tiếp viên luôn nở nụ cười thân thiện và vui vẻ nói "You are welcome".
Ngoài đường nắng đẹp, lá cây xanh tươi láng bóng. Em trai cho xe chạy một vòng rồi đưa đến chợ Mỹ. Chợ lớn rộng đầy đủ các loại thực phẩm; khách mua xếp hàng thứ tự. Cô gái Mỹ tính tiền, bấm máy thoăn thoắt, nét mặt tươi vui. Lúc nhận xong tiền, cô luôn nói "Thanh you".
Về thực phẩm, lúc đó dân địa phương không ăn da gà nên bữa cơm đầu tiên nấu tại nhà có món đặc biệt là da gà xào gừng, hành tây. Vì da gà không tốn tiền mua (free) nên dân nghèo ăn đỡ, biến chế thành món ăn rất ngon.
Mấy tháng qua đi, gia đình tôi thuần thuộc sống theo cảnh lao động Mỹ. Sáu giờ sáng, nhóm đàn ông sách hộp đồ ăn ra xe đến trường (các em đang học điện tử tại đại học), sau buổi học, cả hai đi thẳng đến một nhà hàng làm bồi bàn, 8 giờ mới về. Nhóm đàn bà đi học Anh ngữ, trẻ con đến trường mẫu giáo. Riêng tôi bệnh tê thấp và thiếu máu chưa lành nên ở nhà, mỗi tuần hai lần có xe đón đến bệnh viện chữa trị, khám bệnh, chạy điện, tiêm thuốc...
Nửa năm qua đi, tôi đã đỡ nhiều nên được một nhà nhập cảng hạt ngọc - ngọc trai, ngọc thạch - mướn xâu hạt trả công một chuỗi 3 đô. Công việc không nhiều, mỗi tháng chỉ được hơn 100 dollars nhưng tôi rất mừng vì đó là những món tiền đầu tiên tôi kiếm ra ở Mỹ.
Những ngày lễ nghỉ, các em tôi mang cả gia đình đi ngoạn cảnh thủ đô Washinton DC. Tôi đã được viếng tòa Bạch Ốc (White House), Quốc Hội (Capitol), Bảo Tàng Viện (National Gallery of Art), hồ Jefferson, xem hoa anh đào nở bên dòng sông Potomac. Ngắm anh đào gió bay cánh hoa rụng như mưa, tôi chợt nhớ đến năm xưa du lịch Nhật Bản ngồi dưới gốc anh đào đại thụ ở công viên Sinjuky và ngắm dẫy anh đào ở đường lên Niko, nhưng bây giờ nhìn hoa với tâm thần thưởng ngoạn khác ngày xưa!
Xa nữa, tôi theo các hội đoàn đi du lịch New York xem Trung tâm Thương Mại Thế Giới, vòng thuyền quanh tượng Nữ Thần Tự Do tại sông Manhattan và xa hơn, sang Canada nhìn khói nước mịt mù ở thác Niagara, du ngoạn công viên Victoria, thăm nhà thờ Saint Joseph's tại Montreal, 1000 Islands...
Hơn một năm sau, em trai, em rể tốt nghiệp kỹ sư điện tử, xin được việc làm tại miền tây. Em trai sở làm ở Bắc Cali, em rể ở Nam Cali. Tôi theo em trai về San José thuê một gian chung cư có ba phòng nhỏ, giá rẻ.
Sáng sáng, em tôi đi làm, cháu trai vào tiểu học. Tôi và em dâu thi vào Evergreen Valley College. Em học lớp trên, tôi học lớp cuối. Em có học bổng (Scholarship), còn tôi thì không, chỉ lấy có 4 units. Tôi rất ngỡ ngàng vì mỗi khóa học đều có thanh tra đến phát giấy cho học trò phê bình hạnh kiểm của cô, thầy giáo. Trong khi thanh tra đến, thầy giáo phải ra ngoài để học trò tự nhiên viết lời phê bình lên giấy. Có một câu hỏi tôi nhớ rõ: "Đối với học trò thầy cô có hòa nhã, lễ độ không?" đó là cách thực thi dân quyền, dân ý của nước dân chủ tự do. Tất cả các trường đều vậy. Ngoài việc học, mỗi chiều thứ sáu và ngày thứ Bảy, tôi phụ giúp tiệm bánh ngọt, công mỗi giờ 3 dollars.
Từ khi đến Hoa Kỳ đến nay thấm thoát đã trên hai mươi năm. Em trai, em rể đã nhiều phen chìm, nổi với nghề nghiệp, đã 4,5 lần thay đổi sở làm và cũng vài lần thất nghiệp nằm nhà đợi "Job" hàng 5,7 tháng. Em dâu cố gắng học xuốt 4 năm để lấy bằng kế toán (acounting). Em gái sau khi khá anh ngữ, học nghề phụ tá bác sĩ về răng. Suốt bao năm vần cù làm lụng, học hỏi không ngừng nên hiện giờ hai người đàn ông đã là nhân viên kỳ cựu trong ngành điện tử, và em gái, em dâu tôi đã tìm được việc làm theo khả năng chuyên môn vững chắc. Hai cháu nhỏ lúc rời nước có 6 tuổi, nay đang theo ngành y khoa.
Còn riêng tôi sau hai năm làm lao công bán bánh ngọt, cửa hàng đổi chủ, tôi đi may thuê tại tiệm may áo dài Việt Nam. Ngoài việc may, em tôi nhận "chip" điện tử về cho làm thêm vào buổi tối. Cả gia đình làm lụng cần cù nên nay các em đã có căn nhà khang trang. Phần tôi đã đến tuổi lão được lĩnh phụ cấp (SSI). Bệnh tê thấp, thiếu máu vẫn dai dẳng, lại thêm bệnh đau dạ dày (stomach Ulcer), bác sĩ khuyên nên an tĩnh tinh thần, duy trì tuổi lão...vậy nên sự du ngoạn là một vấn đề trong chương trình cuộc sống còn của tôi.
Vì thế nên sau mười mấy năm lao động cả về thể chất lẫn tinh thần nơi đất lạ, tôi đã đi thăm các thắng cảnh tại miền Tây để bảo vệ sức khỏe, và nhất là mong được hiểu biết thêm cảnh trí, nền văn hóa, cách sinh hoạt đại chúng từng địa phương với bao công trình kiến tạo đặc sắc của nước Mỹ - một hiệp chủng quốc tân tiến, trù phú, hùng cường, có nhiều sắc dân cư ngụ khắp trong 50 tiểu bang rộng lớn.
Tôi đã từng tới công Viên Yosemite, Redwood Basin, Heart Castle, cầu Golden Gate, San Mateo, Gand Canyon, Mystery Spot (Santa Cruz), Mystery (San José), Lake Tahoe, Universal Studio, Disneyland... và cả các nơi giải trí bằng cờ bạc, đỏ đen như Las Vegas, Reno...
Năm thi quốc tịch tại San Jose, khảo thí viên, một ông Mỹ trắng, hỏi tôi trên 20 câu phần chính về lịch sử từ khi lập quốc, rồi hành pháp, tư pháp, thượng viện, hạ viện, dân biểu, nghị sĩ, và hỏi tôi có bị tù không... Câu cuối cùng, ông ta hỏi: "Tại sao bà muốn làm công dân Mỹ?"
Tôi đáp: "Bởi vì nước Mỹ là nước có Tự Do, Dân Chủ". Ông khảo thí đưa bút và giấy bảo tôi viết. Ông đọc: "I love America". Khi tôi viết xong, ông ta nhìn tôi mỉm cười: "Rất tối, bà đã đỗ" (Very good. You have passed).
Sau khi ký các giấy tờ thường lệ và viết tên văn bằng công dân Mỹ, tôi chào ông và nói: "Tôi nhớ ơn Mỹ quốc, xin cảm ơn ông! (I am grateful to America. Thank you)".
theo vietbạo.com
Sài Gòn lặng lẽ
Một góc phố Sài Gòn Ảnh: VƯƠNG QUANG HUỲNH
Lạc quan: Đêm cuối năm, tôi thức rất khuya để viết cho xong bài báo này. Bởi nếu không viết ra, tôi thấy mình có lỗi với một Sài Gòn lặng lẽ. Tôi mong bài viết của mình gửi đến những ai luôn bi quan trước các thông tin hàng ngày về tội phạm, cướp giật, sự dửng dưng với đồng loại lời nhắn gửi: “Cuộc sống - Em tôi ơi, đừng tuyệt vọng -Trái ngọt đầu mùa, mật sẽ ngọt đầy môi - Trong đau khổ, em đã trồng nên cây chúc phúc”
Đằng sau một Sài Gòn phồn hoa, náo động là sự lặng lẽ của cái đẹp. Cái đẹp ấy lặn vào trong, như duyên ngầm của một người con gái, càng chịu khó nhìn, càng thêm thấy tin yêu... (?!)
Cái chân chống.-
Tôi là người hay lơ đễnh nên thường khi ra đường với chiếc xe máy quên gạt chân chống. Hẳn các bạn đều biết đến tác hại của cái chân chống khi đặt nó vào thời điểm không thích hợp. Nó từng gây ra những tai nạn trầm trọng. Chỉ cần nghiêng xe quẹo cua một chút, tức thì cái chân chống sẽ phản bội lại bạn ngay. Có lẽ chứng kiến quá nhiều tai nạn giao thông xảy ra từ “cái chân chống” mà nhân dân Sài Gòn rất quan tâm đến nhau. Tôi còn đang vô tư phăng phăng trên đại lộ thì một xe hộc tốc vượt lên, nhấn còi ầm ĩ. Liếc nhìn qua kiếng chiếu hậu, tôi thấy thằng cha rậm râu, vận đồ rất bụi lấn đường một cách thô bạo. Bất bình nhưng ngó bộ dạng thằng cha hầm hố quá, tôi đâm hoảng. Thôi thì “tránh xe chẳng xấu mặt nào”, tôi lách xe vào trong, lòng đầy ấm ức. Nhưng gã vẫn chưa chịu buông tha tôi, cho áp chiếc xe kềnh càng như một con quái vật kệch cỡm sát vào tôi, bóp còi ầm ĩ rồi gào tướng lên: “Em ơi, chân chống kìa!”. Chỉ cốt nói xong lời nhắc nhở ấy, gã rậm râu “thấy ghét, bất lịch sự” kia vọt lên, mất hút vào dòng xe cộ cuồn cuộn chảy. Tôi gạt cái chân chống, thở phào nhẹ nhõm vì thoát khỏi sự hiểm nguy luôn như cái bẫy giăng sẵn... Lần khác, một cô gái lòe loẹt son phấn, ăn mặc theo kiểu “con nhà nghèo”, áo dây hở ngực, hở rún, quần lửng, chân tay sơn tím rịm, cỡi trên chiếc xe Wave xanh lè bám riết lấy tôi. “Cái ngữ này, coi chừng giựt dây chuyền, túi xách!”. Tôi cảnh giác, sờ tay lên cổ, thấy chiếc dây chuyền còn nguyên, có phần yên tâm. Cô gái “con nhà nghèo” kia bấm còi, vượt qua tôi, gào lớn: “Chị ơi, coi chừng cái chân chống!”. “À, cám ơn”. Tôi lí nhí nói, lòng thầm hổ thẹn vì những ý nghĩ đầy “cảnh giác” của mình. Lần nữa, hộc tốc chạy theo tôi là một nữ sinh trong bộ quần áo dài trắng, đạp chiếc xe đạp. Em hào hển nhắc tôi: “Chị ơi, cái chân chống!”. Tôi vừa hổ thẹn vì sự lơ đễnh của mình vừa tràn ngập hạnh phúc vì “cái chân chống” đã giúp tôi lấy lại lòng tin về con người. Gã rậm râu hầm hố, cô gái giang hồ bụi đời hay một nữ sinh trong trắng..., tất cả đều có chung một ý muốn đẹp, không muốn bất hạnh xảy ra cho một người xa lạ trên đường. “Cái chân chống” giúp tôi nhìn thấy người Sài Gòn thật thân thiện, thật đáng tin yêu...
Nhặt của rơi.-
Cũng tại tôi là một người đãng trí nên mới sinh nhiều chuyện làm phiền lòng khách đi đường. Túi đồ nghề của một nhà văn quèn chỉ vài ba quyển sách, vài cây viết, xấp giấy, xâu chìa khóa, bóp tiền nho nhỏ. Đêm ấy tôi thức rất khuya, ráng cày cho xong bài báo để kịp hạn nộp bài. Sáng thức dậy vội vã, khoác chiếc túi đồ nghề lên vai, chạy nháo nhào ra cơ quan. Tôi máng chiếc túi vải trước giỏ xe. Chiếc túi có móc gài hẳn hoi nhưng chưa bao giờ tôi sử dụng đến chiếc móc ấy. Tôi phóng xe vun vút, miệng gào lên một bài hát quen thuộc, lòng vui sướng khấp khởi vì mới nghĩ ra một tứ thơ. Tôi phóng nhanh hơn dự định đến cơ quan, sẽ ghi lại bài thơ trong trí tưởng tượng ra giấy. Từ suy nghĩ đến hành động, biến ý tưởng trong đầu ra chữ nghĩa cụ thể trên giấy còn một khoảng cách xa lắm, có khi đi hoài chẳng tới. Tôi mỉm cười tự khen mình một chút, dù trong túi không nhiều tiền nhưng đời vui biết mấy khi ta còn sáng tạo. Lòng đầy hân hoan, tôi phóng xe càng nhanh... Chợt phía sau tôi có tiếng xe đạp lanh canh đuổi theo. Tôi đoán chắc chủ nhân của nó phải gắng sức gấp mấy lần mới đuổi kịp chiếc Angel của tôi. Vậy mà cô nữ sinh trong bộ đồng phục thể dục chạy đuổi kịp tôi. Cô bé trạc mười bốn tuổi, người như cây sào ốm nhom, một tay cầm lấy ghi đông xe, một tay giơ cao chiếc bóp lên: “Chị ơi, chị làm rơi dọc đường nè...”. Tôi giật mình bừng tỉnh. Thì ra, vì lơ đãng không cài móc túi xách, xe nhảy cà tưng mà xâu chìa khóa, bút, xấp bản thảo... rơi dọc dài trên con đường thiên lý. Tôi cho xe lên lề, dừng lại. Cô bé cũng dừng lại, thở hổn hển: “Nãy giờ em chạy theo chị quá chừng. May mà em đang tập để đua xe đạp’’. Thấy mặt tôi ngẩn ngơ, cô bé nói thêm: “Chị còn làm rơi mấy thứ, nhưng thấy không quan trọng, mấy bạn em lượm bỏ vô túi, chạy đằng sau kìa, chị chờ chút nghen”. Đằng sau tay chỉ của em là một cặp nữ sinh chở nhau bằng xe đạp. Các em mở to mắt nhìn tôi, đoán ngay ra được tôi là chủ nhân của những thứ rơi rớt dọc đường. Tôi vui mừng nhận lại từ tay các em. Cái bóp tiền giúp tôi có thêm niềm tin vào thế hệ tương lai đầy trong sáng, tự tin và hướng thiện. Nhìn những gương mặt sáng ngời, nụ cười trong trẻo của các em, tôi thấy mình được quyền lạc quan lắm!
Địu con về khuya.-
Xong việc đã hơn 10 giờ đêm. Tôi nháo nhào phóng xe đến chỗ đón con. Đêm khuya, gió lạnh, mẹ địu con trong lòng. Bé ngủ vùi trong lòng mẹ. Vậy là mẹ một tay lái xe, tay còn lại ôm con chặt vào lòng, vừa căng thần kinh tránh những ổ gà trước mặt, những chiếc xe ngược chiều chạy ẩu, tránh những “cơn bão” đua xe về đêm. Qua tấm kiếng chiếu hậu, tôi chợt phát hiện có một chiếc xe bám riết mình. Người ngồi trên xe là một bà sồn sồn ăn mặc diêm dúa, mặt đầy son phấn. Màu son tím rịm trên đôi môi bà ta khiến tôi càng thấy sợ. Tim đập thình thình, tôi không khỏi lái xe cảnh giác hơn, vừa ôm chặt con vào lòng trong tư thế sẵn sàng đương đầu. Tôi chạy nhanh, bà ta cũng chạy nhanh. Tôi chậm, bà ta cũng chậm. Tôi rẽ vào con hẻm, mụ cũng rẽ theo... Tôi cơ hồ gục xuống vì mệt, vì căng thẳng khi về được đến nhà. Đến lúc ấy, tôi đành phó mặc cho số mệnh, chấp nhận sự giúp đỡ của “nữ quái”. Bà ta vội dựng xe, đỡ lấy mẹ con tôi. Khi tôi đã đưa được xe, được con vào nhà an toàn, bà ta từ biệt tôi. Tôi cám ơn bà ta, mời vào nhà, hỏi tên tuổi. Bà ta mỉm cười nói: “Chị đừng bận tâm. Nhìn thấy chị một tay lái xe, một tay ôm bé... tôi cảm thấy thật không yên lòng nên mới bám theo xe chị, phòng khi có gì bất trắc cần tôi giúp đỡ. Giờ chị đưa bé về nhà an toàn là mừng rồi. Thôi tôi phải đi”. “Nữ quái” quay xe, đi ngược con đường về nhà tôi. Tôi ôm chặt con thơ vào lòng, nước mắt trào ra, thì thầm: “Con yêu, người Sài Gòn là như vậy đó!”.
Nghĩa khí Sài Gòn.-
Đang chạy xe chầm chậm trên vỉa hè, chợt có tiếng xe máy phân khối lớn rú lên, ép chặt hai công nhân trẻ, độ 18, 20 chở nhau trên một chiếc xe đạp vào lề đường rồi vọt lên, mất hút. Hai người thợ gào lên: “Cướp, cướp!”. Tôi ngạc nhiên thầm hỏi: ‘’Thường bọn cướp phải nhằm vào những người đeo nữ trang, sang trọng, bóng bẩy. Đằng này...”. Người Sài Gòn vốn hiếu kỳ, trong phút chốc đã vây quanh hai công nhân trẻ. Một cậu mếu máo: “Bọn cướp giật cái máy khoan em để trong giỏ xe rồi!”. À, thì ra vậy. Cái máy khoan là thứ đắt tiền, đem bán, có khi hơn cả sợi dây chuyền trên cổ các mỹ nhân. Bọn cướp này đúng là hàng cao thủ, chỉ cần loáng cái, đã phân định được đâu là hàng có chất lượng cao. Hai cậu công nhân vẫn còn ngơ ngác trước biến cố xảy ra. Chừng tỉnh lại, một cậu thảng thốt kêu lên: “Thôi chết rồi, mất máy khoan, tụi con phải đền cho ông chủ. Vậy là phải bị trừ lương cả năm...”. Cậu công nhân nghẹn ngào, không thốt nên lời... Một bà cụ móc túi, lấy ra 20.000 đồng, kêu gọi: “Bà con ơi, tội nghiệp quá, mình góp kẻ ít người nhiều cho hai cậu mua cái máy khoan trả ông chủ...”. Trong phút chốc, người đi đường “kẻ ít người nhiều” quyên góp được món tiền kha khá. Cậu công nhân cầm xấp giấy bạc trong tay mà như đang cầm vật gì nặng lắm. Gương mặt tràn ngập nỗi xúc động, cậu vòng tay lễ phép nói: “Thưa bà con, hai cháu rất cám ơn tấm lòng của bà con dành cho tụi cháu. Nhưng tụi cháu xin trả lại số tiền này. Việc rủi ro này là do lỗi của tụi cháu. Vì vậy, tụi cháu càng thấy có lỗi khi sự bất cẩn của mình trở thành gánh nặng, nỗi bận tâm của những người tốt bụng. Cháu thiết nghĩ, bà con dùng số tiền này cho những trường hợp thật sự bất hạnh sẽ có ý nghĩa hơn. Tụi cháu chịu bị trừ lương, xem như bài học cần phải nhớ”. Từ đám đông, có ai đó thốt lên: “Thằng nhỏ nói như vậy cũng phải. Công nhân Sài Gòn thiệt là nghĩa khí”...
theo nld.com