NHỮNG BỨC TƯỜNG LÒNG

Tưởng Năng Tiến
(nguồn: nsvietnam.com)

Khi còn bị phân chia bởi "bức tường ô nhục", người dân Ðông Ðức hay kể lén câu chuyện sau đây:" Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít lại, tíu tít hỏi thăm:

- Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không? 
- Có chứ.
- Có nhà thương và bác sĩ thú y không?
- Có luôn.
- Có đồ hộp dành riêng cho chó không?
- Có tuốt.
- Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây?
- Tại vì bên âý chúng cấm không cho ... sủa!
Năm 1989, bức tường Bá Linh bị đập đổ. Dân Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền … được sủa.

Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa - ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth - qua bài báo "Bức Tường Ô Nhục Vẫn Ngăn Chia Người Việt", như sau:

"Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Bá Linh. Những nguời được mệnh danh là Người Việt miền Tây là những người miền nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của cộng sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.

"Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia cộng sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy…"

"… Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ - từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi - hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…"

Nó "mạnh mẽ" tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng:"Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức." (" Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East - West Gap Reflects Cold War Past," San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc").

Nói như thế, nghe (tưởng) đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa "đã miệng" và… "hết ý"! Trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng - ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 - tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt -như sau:"Ils ne s’aiment pas" (Họ không ưa nhau đâu).

Cha nội Parisien nào đó đã nói một câu (mới) nghe tưởng tào lao nhưng - không chừng - dám …trúng lắm (à) nha. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Chỉ riêng với với dân Việt thì … không. Nhất định không. Người ngoại quốc có vẻ "hơi" ngạc nhiên về thái độ "rất kém thân thiện" của dân Việt đối với nhau - trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những "bức tường ô nhục" tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin.

Dù đất nước đã "thống nhất" hơn một phần tư thế kỷ, dân chúng giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân ... cưỡng bách vậy.

Theo "truyền thống", người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những "lỗ châu mai" từ những "pháo đài" của phe mình. Họ "thích" gọi nhau là "tụi này" hay "tụi nọ" (tụi Công Giáo, tụi Phật Giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ …). Gần đây, có thêm một "tụi mới" nữa xuất hiện - tụi … Bắc Cộng! Tụi này nhân danh "cách mạng" để nắm cướp đoạt hết quyền bính và tài sản quốc gia. Sau đó, chúng lập tức hành xử như "mấy chủ nhân ông da trắng thời thực dân" (Vạng Lộc, "Báo Ðộng Nạn Kỳ Thị Của Bắc Cộng," Việt Báo, 12 Sept. 2002).

Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện … kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị "tưởng" là … "tụi mọi" và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác.

Nghèo đói quá hoá "sảng" chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu. Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, " bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức" mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin.

Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện dè bỉu, đố kỵ, chia cách, phân hoá… Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện - dường như - không đại diện cho bất cứ ai và cũng không mấy ai - thực sự- cần người đại diện). Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Cũng thế, mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh!

Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, vài chục con cừu không thể biến thành một đàn cừu được. Vấn nạn của những cộng đồng người Việt hải ngoại là sự dư thừa loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là … chó dại!

"Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt " (Phan Nhật Nam, "Lời Khẩn Thiết Nhằm Chấm Dứt Hiện Tượng Phân Hoá," Nguyệt San Việt Nam, Jan. 2003: 36). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình Báo Hải Ngoại trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng Cộng Sản Hà Nội là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên.

Tôi vô cùng tiếc là đã không hoàn toàn chia sẻ được với nhà văn Phan Nhật Nam, một người mà tôi vô cùng qúi mến, về nhận định vừa nêu. Với ít nhiều chủ quan, tôi không nghĩ là Cộng Sản VN còn đủ sức để làm như thế. Cũng như cấp trên của họ ở Hà Nội, những nhân viên của Cục Tình Báo Hải Ngoại (nếu có) cũng chỉ đang lăng xăng kiếm chác và cố gắng (chối chết) để lo một chỗ ẩn thân - trước khi quá muộn! Chính phạm không đến từ bên ngoài. Tôi "nghi" là chúng nằm vùng, từ lâu, trong tâm khảm của tất cả chúng ta.

Khi còn bé, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó, qua lời kể của Schopenhauer, một câu chuyện ngụ ngôn - nội dung (đaị khái) như sau:

Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành … chờ chết!

Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng của chính mình, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự tâm mình, và mỗi người - hay nhóm người - đều nhất định "tử thủ" trong pháo đài của riêng mình thì chúng ta (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, và tan nát tanh bành - sau đó.

Tưởng Năng Tiến

BÀI HÁT BUÔNG PHAO

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG Hoàng Hải Thuỷ Viết ở Rừng Phong
(nguồn: nguoiviet.com) 

Ông Trương Tửu chủ trương ông "chỉ viết những chuyện gì chưa ai viết", tôi rất muốn viết như ông. Sáng mùa xuân năm Quí Mùi, ngày 16 Tháng Hai Tây, là ngày 16 Tháng Giêng Ta, từ nửa đêm hôm qua bão tuyết đến Virginia, Xứù Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, giờ này tuyết vẫn đang xuống, có chỗ tuyết đã dầy đến 15 inch.

Saigon ra giêng đã được 16 ngày, nhưng tôi chắc hương vị Tết vẫn chưa mất hẳn ở Sàigòn.

Hôm nay, ngày 16 Tháng Giêng Ta là ngày giỗ ông bố tôi. Giờ này các em tôi ở Sàigòn đang bận sửa soạn bàn thờ và bữa ăn giỗ họp mặt gia đình vào buổi trưa. Trâu bò được ngày phá đỗ. Con cháu được ngày giỗ Ông! Tôi nhớ ngày 16 Tháng Giêng Ta năm 1989 tôi sống trong Lầu Bát Giác Chí Hòa. Cho đến ngày hôm đó tôi đã năm năm không được ăn giỗ ông bố tôi, nôm na là cho đến ngày hôm đó tôi đã bị ViXi bỏ tù năm năm.

Hôm đó cũng là ngày tù nhân khu FG Nhà Tù Chí Hòa được nhận đồ nuôi, tôi bồi hồi khi thấy trong số thức ăn vợ con tôi gửi vào cho tôi có bịch sôi vò. chè đường. Trong mấy món ăn bà mẹ tôi làm rất ngon có món sôi vò, chè đường. Mẹ tôi vẫn nấu sôi vò, chè đường những khi nhà tôi có giỗ. Hôm ấy tôi ăn chè đường, sôi vò trong tù mà bùi ngùi tưởng tượng cảnh vợ con tôi, các em tôi gặp nhau trong nhà mẹ tôi, cảnh bàn thờ có bức hình ông bố tôi, tôi nghĩ mẹ tôi chắc ăn không ngon khi bà nhớ tới anh con đang ở trong tù.

Ngày 16 Tháng Giêng Ta năm 1989 tôi được ăn giỗ ông bố tôi trong Nhà Tù Chí Hòa, sáng sớm ngày hôm sau, ngày 17 Tháng Giêng Ta năm 1989, tôi theo anh em lên tù xa ra khỏi Chí Hòa để lên Trại Cải Tạo Z 30 A ở Xuân Lộc, Đồng Nai. Mới đấy thôi mà thời gian đã qua gần 15 mùa lá rụng..

Và hôm nay, ngày 16 Tháng Giêng Ta năm 2003, tôi liêu lạc ở xứ người, buồn viết về Thơ của một người làm thơ đang sống ở Sàigòn.

Hình như chưa có ai viết rằng Nguyễn Du không làm một bài thơ tứ tuyệt nào, hình như ta không có qua một bài thơ tứ tuyệt chữ Hán nào của Nguyễn Du? Hình như các nhà thơ xưa của ta không thích làm thơ tứ tuyệt, các vị làm thơ bát cú không à. Ta chỉ có rất ít bài thơ chữ Hán tứ tuyệt của các vị. Tôi thấy nhiều bài thơ chữ Hán tứ tuyệt là những "truyện ngắn" cực hay.

Trong bốn câu thơ ấy có cả một câu chuyện. Như chuyện này: "Ngày hôm nay năm ngoái ở trước cửa nhà này, tôi gặp nàng. Mặt nàng và hoa đào chiếu ánh hồng vào nhau. Hôm nay tôi trở lại đây, không thấy nàng đâu,
chỉ thấy hoa đào cười với gió xuân như năm ngoái. " Câu chuyện ấy ở trong bài Thơ tứ tuyệt của Thôi Hộ:

 Khứ niên, kim nhật. thử môn trung,
Nhân diện, đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Trước sau nào thấy bóng người.
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Không phải "hoa đào năm ngoái", hoa đào năm ngoái đã tàn từ cuối mùa xuân năm ngoái, mà là "hoa đào năm nay như hoa đào năm ngoái.."

Không muốn cứ kể mãi thơ của những nhà thơ Tầu, tôi chuyển sang Thơ Nguyễn Thông, nhà thơ có một số bài Thơ tứ tuyệt chữ Hán. Như bài thơ ông viết khi ông làm quan ở miền Trung ông đưa bà vợ ông trở về quê ông bà ở miền Nam:

"Mơ về mái nhà xưa ở quê hương em và anh cùng khóc.
Em buồn nên em không muốn thay cái thoa trên mái tóc xanh.
Để em một mình về quê anh sợ vì em như cánh hoa đào trôi trên mặt nước sông mùa xuân.
Mảnh trăng sáng chia đôi chúng ta, anh đứng trên bến nước nhìn theo chiếc thuyền lênh đênh đưa em trở về."

"Truyện ngắn thật ngắn" đó ở trong bài Thơ tứ tuyệt:

Mộng hồi la trướng, lệ châu san,
Lãn hoán kinh thoa liễm thúy hoàn.
Phạ kiến đào hoa xuân lãng khoát,
Nhị thiên minh nguyệt nhất chu hoàn.

Truyện ngắn này nữa cũng của Nguyễn Thông: "Sách Âm Phù đã mọt, gươm đã hoen rỉ. Khó hẹn được ngày ngựa mọc sừng, ở mãi nơi đất khách tóc mai đã bạc. Đêm qua anh mơ thấy anh về trên sông xưa hưởng món rau nhút, cá vược của quê nhà. Giấc mơ ấy của anh hôm nay theo vòng xuyến của em về quê hương trước."

Nguyên văn Thơ Tứ Tuyệt Chữ Hán của Nguyễn Thông:

Âm Phù thư đố, kiếm ngân ân.
Mã giác nan kỳ, lữ mấn ban.
Tạc dạ thuần lô giang thượng mộng,
Tiên tùy hoàn bội đáo gia san.

Những ngày cuối năm, những ngày đầu năm liêu lạc ở quê người, tôi gặp một số những "truyện ngắn thật ngắn" nằm trong những bài Thơ Chữ Hán của Ma Xuân Đạo, một văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đang sống rất cực khổ ở Sàigòn. Bánh xe lãng tử tới Mỹ Quốc được ba năm, vợ chồng Uyên Thao làm chuyến trở về thăm quê hương.

Trở sang Mỹ, Uyên Thao mang theo tập Thơ Chữ Hán "Tần Trung Tác" của Ma Xuân Đạo. "Tần Trung Tác", những bài thơ làm trong đất Tần. Thơ mà lại là Thơ Chữ Hán, Thơ Chữ Hán mà là Thơ Chữ Hán Hay, không phải Thơ Chữ Hán Pánh Pò, Pánh Tiu. Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn. Trong phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, an ninh năm chăm phần chăm, nằm đọc Thơ Chữ Hán Ma Xuân Đạo, tôi thấy có những "truyện ngắn" trong những bài thơ của anh làm tôi cảm động. Như bài thơ này:

Giáp Tuất Tân Xuân Khai Bút

Tần niên yếm thính thế nhân giao,
Cẩu tuế đương xuân luận cẩu tào.
Hoán chủ, vong cừu hà vị nghĩa,
Nghinh lang, trục hổ khởi ưng bao?
Ninh vi thử nhật thanh phi đại,
Dĩ đáo kim thời vĩ dĩ dao.
Nhục đãi, vĩ dao trường bất kiến,
Cốt dư nhất khẩu hạnh tài phao.

Dịch nghĩa Khai bút đầu năm Giáp Tuất (1994)

Nhiều năm rồi, chuyện giao tiếp giữa người đời nghe đã chán,
Năm Chó, Xuân này thử luận về bầy chó chơi.
Đổi chủ, quên thù sao gọi là nghĩa được?
Đón chó sói vào nhà và đuổi cọp ra, há đáng khen sao?
Thà rằng ngày ấy tiếng đừng lớn quá,
Để đến bây giờ đuôi dễ vẫy,
Thịt chờ, đuôi vẫy lâu rồi mà chẳng thấy gì cả,
May ra, người ta sẽ ném cho một miếng xương dư.
Thơ, cũng của Ma Xuân Đạo:
Chuyện đời nghe mãi chán tai rồi,
Năm Chó đem bàn chuyện chó chơi.
Đổi chủ, quên thù sao gọi nghĩa?
Xua hùm, rước sói chỉ mua cười.
Thà rằng thưở ấy đừng to họng,
Để đến bây giờ dễ vẫy đuôi. Đuôi vẫy, thịt chờ đâu chẳng thấy,
May ra rồi được khúc xương thôi!
 
Bài thơ làm tôi cảm động nhất trong Tần Trung Tác là bài:
 
Vĩnh Biệt Quân Tình (Tức thị Phóng Tra Hành)
Ngã cảnh khán thư quân dĩ tri,
Như hà ái niệm bất năng suy.
Quân thư nhất tự hàm thiên ý,
Tiếp vẫn quân thư ngã bảo trì.
Bạch thủ thì trung quân tín báo,
Khẩn qui Trúc xứ dĩ phùng quân.
Vị tình bất quản phiền hà sự,
Lộ phí thôn tu đáo hảo bằng.
Xa trình thử nhật diên trường ná!
Dục tốc đằng vân khả nại hà?
Tịch vũ Miếu Đà thân tẩm ấp,
Tâm tư tương ngộ cánh khai hoa.
Lộ đáo quân trang đa bất trắc,
Chứng thư dĩ khuyết cánh nang không.
Nhiệt tình niên thiếu như hồi chuyển,
Hắc ảnh kim tiêu diệc kiến hồng.
Đối diện do nghi đương mộng lý,
Bàng hoàng mê tưởng đáo Thiên Thai.
Tửu hòa tiên dượnghiêm đường chước,
Vĩnh kết duyên tình can thử bôi.
Tống khách xuất môn sơ tiếp vẫn,
Đảo điên thiên địa dữ thời gian.
Chung tiêu khách xá an năng thụy?
Chỉ đãi bình minh dĩ kiến nhan.
Minh nhật tùy quân qui Vĩnh xứ,
Chung Chu nhất bộ bất tương ly.
Vị đồng khâm chẩm nhi thân cận,
Tuyệt mỹ ngô tình sơ mộng y,
Tống tiễn não nhân xa trạm cảnh,
(Hà thời ly biệt các thương tâm)
Chuyển xa tư sát thùy tri ngã,
Hồi lộ sầu thôn ngã thức quân.
Qui lai trú sở sầu liêu lạc,
Lữ thứ cô văn tưởng mãn đường.
Thân tại Thành đô hồn Vĩnh xứ,
Ước kỳ tái ngộ điểm tinh sương.
Vấn ngã quân lai viêm nhiệt tận,
Giao thiên thì tiết ứng nhân tâm.
Địa đàng quân ngã tùy tương đáo,
Điên đảo tâm thần dữ chẩm khâm.
Nhất tiêu khâm chẩm thiên tiêu mộng,
Sổ lý xa trình vạn lý tình.
Khoảng khắc ái ân tâm đột noãn,
Hoang lương vi nhiễu hậu ly đình.
Mỗi nguyệt sổ phiên quân viễn vấn,
Chỉ do tình lụy khổ tân thôn.
Nguyện tương thân hiến như tình hiến,
Mạc phạ sàm ngôn dĩ ác ngôn.
Ngã tri trắc ẩn quân tâm động,
Nhất thế tài hoa mai một cam.
Tiện kỹ bất năng tầm dụng địa,
Phạn y hệ lụy bất năng kham.
Ân ái niên dư như nhất nhật,
Khổ tân quân thụ thán vô ngôn.
Mễ đường đề ủng tùy tương vấn,
Duy vọng nan thời tảo tự vong.
Nan sự trường lưu như bất tận,
Khanh đồ đại khiếu tuyệt vô âm.
Khởi ưng tương bão nhi yêm tử,
Tra phóng thân cam độc thụ trầm.

Dịch nghĩa:

Vĩnh Biệt Tình Em (hay là Bài Hát Buông Phao)

Cảnh ngộ của anh, xem thư, em đã biết.

Thế mà làm sao tình yêu vẫn không suy giảm.

Thư em một chữ gói ghém cả ngàn ý.

Hôn thư em, anh nâng niu giữ dìn.

Trong lúc anh chẳng có đồng nào trong tay, thì nhận được tin em báo:

Phải về Bến Tre (Xứ Trúc) ngay để gặp em.

Vì tình, anh chẳng quản chi những chuyện phiền hà,

đành nuốt thẹn chạy đến bạn tốt mượn tiền đi đường.

Đường xe hôm ấy sao dài quá!

Muốn nhanh chỉ có cách bay lên mây, nhưng làm sao bay được?

Đám mưa chiều ở Rạch Miễu làm anh ướt đẫm,

Nhưng nghĩ đến giây phút gặp em lòng anh nở hoa.

Đường đến nhà em đầy bất trắc, anh thì thiếu giấy tờ tùy thân, túi lại rỗng.

Nhiệt tình thời niên thiếu như quay trở lại, bóng tối đêm nay anh cũng thấy đượm mầu hồng.

Khi đã đối mặt nhau anh còn tưởng như mình đang ở trong giấc mộng, bàng hoàng, anh nghĩ là trong cơn mê tưởng mình đã đi lạc vào Thiên Thai.

Ba em rót ruợu, anh nghĩ đó là rượu hòa với thuốc tiên có công dụng làm bền chặt mối tình đôi lứa nên anh một hơi cạn hết ly.

Em đưa khách ra cổng, đó là dịp đầu tiên để chúng ta trao đổi với nhau cái hôn đầu tiên.

Cả không gian (đất trời) lẫn thời gian (trước sau) đều đảo lộn.

Suốt đêm hôm ấy, tại nhà trọ, làm sao anh có thể ngủ được.

Chỉ chờ đến rạng ngày để gặp lại nhau.

Sáng ngày mai, anh theo em về Vĩnh Long.

Suốt tuần ấy, một bước cũng không rời nhau.

Chưa chung chăn gối mà đã gần gũi thân mật như vậy.

Tình chúng ta thật đẹp như mộng ước buổi đầu đời.

Rồi cảnh tiễn đưa não lòng nơi bến xe,

(Thời nào cảnh biệt ly cũng đau lòng)

Xe lăn, nỗi nhớ giết người ấy ai biết cho anh?

Nhưng trên đường về phải nuốt sầu thì anh hiểu cho em.

Quay về chỗ tạm trú, anh buồn vì quạnh hiu trống rỗng.

Tại nhà trọ, anh nằm nghe nỗi thương nhớ dâng lên tràn ngập căn phòng.

Thân anh ở Đô thành mà hồn thì ở Vĩnh Long.

Nhớ đến lời hẹn ngày tái ngộ, anh đếm từng ngày.

Em đến thăm anh khi mùa viêm nhiệt đã chấm dứt.

Thời tiết lúc giao mùa đáp ứng lòng mong mỏi của con người.

Em và anh đã dìu nhau đến địa đàng, làm đảo lộn cả tâm hồn lẫn gối chăn.

Một đêm chăn gối ngàn đêm mộng, chỉ vài dặm đường xe mà cả vạn dặm tình.

Khoảnh khắc ái ân làm lòng anh chợt ấm lại.

Sau buổi chia tay, hoang lương lại vây bọc quanh anh.

Mỗi tháng vài lần, em từ xa đến thăm anh.

Chỉ vì tình lụy mà em phải nuốt đắng cay.

Nguyện hiến thân mình như đã hiến tình mình.

Không sợ những lời dèm pha và những tiếng ác.

Anh biết em đã động lòng trắc ẩn, thương cho một kiếp tài hoa mà đành phải chịu mai một.

Nghề mọn không tìm được đất dùng, sự ràng buộc của áo cơm thực không chịu nổi.

Thời gian ái ân kéo dài hơn một năm mà như chỉ mới một ngày.

Đắng cay em chịu, không một lời than vãn.

Mỗi lần đến thăm anh, em phải tay xách, nách mang đường gạo.

Và chỉ mong thời gian khó khăn sẽ sớm qua đi.

Nhưng khó khăn cứ kéo dài như bất tận.

Trong đường hầm la thật lớn vẫn không có tiếng đáp lại.

Há lẽ cứ ôm nhau để cùng chết đưối.

Anh đành buông phao. cam chịu một mình chìm.

Vĩnh Biệt Tình Em.

Thơ Ma Xuân Đạo

Qua thư em đã biết anh nghèo.

Dẫu biết, em yêu vẫn cứ yêu.

Mỗi chữ thư em ngàn ý đẹp,

Ấp thư lên mặt, anh nâng niu.

Điện em hẹn gặp đến trong ngày,

Anh chẳng đồng nào còn dính tay.

Yêu em đâu quản chi phiền lụy,

Lộ phí thôi đành đến bạn vay.

Đường xe hôm ấy sao dài quá,

Nôn nả lòng anh chỉ muốn bay.

Rạch Miễu chiều mưa mình đẫm ướt,

Mà lòng hoa nở vẫn reo vui.

Đường đến quê em đầy bất trắc,

Mà anh túi nhẹ, giấy tờ không.

Đam mê như thưở tìm chân lý,

Bóng tối đêm nay cũng đượm hồng.

Giáp mặt tưởng như là mộng ảo,

Ngất ngây hồn lạc nẻo Thiên Thai.

Ba trao ly rượu hòa tiên dược,

Trọn kiếp mong bền duyên lứa đôi.

Tiễn chân ra cổng, nụ hôn đầu,

Điên đảo đất trời lẫn trước sau.

Nhà lạ trắng đêm không chợp mắt,

Nôn nao chờ sáng để tìm nhau.

Sáng dậy theo em về xứ Vĩnh,

Suốt tuần một bước chẳng rời nhau.

Chưa chung chăn gối mà trăng mật,

Tình đẹp như trong buổi ban đầu.

Rồi cảnh não lòng nơi bến xe,

(Thời nào không nỗi hận chia ly)

Xe lăn đành nát lòng người trẩy,

Lối cũ sao đau bước kẻ về.

Trở về chốn cũ thân hiu quạnh,

Phố trọ nằm nghe nỗi nhớ đầy.

Người ở Thành đô, hồn xứ Vĩnh,

Mong ngày tái ngộ đếm từng giây.

Em đến tìm anh, trời trở lạnh,

Giao mùa thời tiết của yêu đương.

Chiếu chăn xô lệch, hồn mê mẩn,

Hai đứa đưa nhau tới địa đàng.

Một đêm chăn gối ngàn đêm mộng,

Mấy dặm đường xa vạn dặm tình.

Gần gũi phút giây lòng chợt ấm,

Em về hoang lạnh lai vây quanh.

Một tháng đôi lần em đến thăm,

Yêu anh em chẳng kể gian truân.

Cho tình cho cả đời con gái,

Chẳng sợ dèm pha miệng thế nhân.

Anh biết em thương kẻ lỡ thời,

Tài hoa một kiếp cũng đành trôi.

Đất dùng không có cho nghề mọn,

Cơm áo âu thành hệ lụy thôi.

Ân ái kéo dài hơn một năm,

Đắng cay em chịu đựng âm thầm.

Gói đường, túi gạo lần thăm viếng,

Mong sớm trôi qua thời khó khăn.

Khó khăn ngày một thêm dồn dập,

Chờ mãi đường hầm vẫn tối đen.

Chẳng lẽ ôm nhau cùng chết đuối,

Buông phao anh chịu một thân chìm.

1980

Đây là một bài Thơ Tứ Tuyệt Chữ Hán của Ma Xuân Đạo:

Huyễn Tình Địa hạ
thủy khuynh nam bả trích,
Thiên cao tình khứ mạc hồi âm.
Tích thời nhược bất trầm mê ngạn,
Kim nhật an năng thoát hoặc tân?

Tình huyễn Nước đổ xuống đất,

khó có thể nắm lại từng giọt,

Tình đã bay lên trời cao, không một tiếng vọng về.

Nếu trước kia không chìm đắm ở bờ mê,

Thì ngày nay làm sao có thể thoát khỏi bến hoặc.

Thơ của Ma Xuân Đạo:

Nước trót đổ đi khôn hốt lại,

Tình đà bay mất khó quay về.

Nếu không thưở ấy sa bờ hoặc,

Sao có giờ này thoát bến mê.

* Tôi yêu quí chữ Hán ngay từ thời tôi còn nhỏ. Năm 1957 tôi mua sách dậy tự học chữ Hán về học lần thứ nhất, năm 1960 tôi mua sách dậy tự học chữ Hánvề học lần thứ hai; cả hai lần tôi đều không học được. Năm 1967, trước Tết Mậu Thân, tôi được Giáo sư Đào Mộng Nam truyền cho bí kíp tự học chữ Hán.

Tôi học theo bí kíp của Thầy Đào và lần này nhờ Thầy tôi thành công, chỉ bốn, năm tháng sau tôi đọc được Tam Quốc Chí, Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử bằng chữ Hán; khoảng một năm sau tôi dịch, và có lời bàn, truyện Tây Du Ký bản chữ Hán đăng trên nhật báo Sóng Thần cho đến ngày ta tan hàng.

Lần cuối cùng duyệt bài tôi học, Thầy Đào nói: _ Chữ Hán sẽ không bao giờ bỏ anh. Thầy nói đúng, Chữ Hán không bỏ tôi nhưng khốn nạn cho tôi, tôi đã bỏ Chữ Hán.

Sáu năm tù từ 1984 đến 1990 tôi không được đọc chữ Hán. Trở về mái nhà xưa tôi không đọc lại chữ Hán, sang Mỹ đã tám năm tôi cũng không đọc lại chữ Hán. Như vậy là tôi đã bỏ Chữ Hán từ năm 1984.

Mèn ơi..Thấm thoắt dzậy mà đã gần 20 năm. Không đọ chữ Hán liền tù tì trong 20 năm, làm gì mà tôi chẳng quên chữ Hán. Mấy năm nay cũng có đôi lúc tôi nghĩ đến chuyện chịu khó đọc lại chữ Hán ít lâu tôi sẽ nhớ lại, nhưng mắt tôi yếu rồi, tôi không còn can đảm làm cuộc học lại bất cứ môn gì. Vì vậy tôi rất thán phục Ma Xuân Đạo khi đọc những bài Thơ Chữ Hán trong tập Tần Trung Tác của anh. Anh cũng tự học chữ Hán như tôi thôi, chắc là với nhiều công phu hơn, nhưng anh làm được Thơ Chữ Hán mà tôi thì quên hết chữ Hán.

Sau ngày 30 Tháng Tư 75 tất cả các văn nghệ sĩ Sàigòn đều khổ cực, đều bị tù đày, bị đói khổ, bị nhục mạ, bị cấm đoán, bị chết trong tủi nhục..Nhưng thời gian qua, những văn nghệ sĩ đã chết...đã chết, những người sống sót đã qua Mỹ Quốc, số văn nghệ sĩ Sàigòn Xưa, Sàigòn Trước 1975 sống ở Sàigòn hiện nay còn rất ít: Thụy Vũ, Hoàng Hương Trang, Nguyễn Thị Hoàng - tôi không biết bà Tùng Long, bà Lan Phương nay ra sao -Văn Quang, Phan Nghị, Thế Phong, Cao Nguyên Lang..Tất cả đã qua thời kỳ đói khổ, riêng Ma Xuân Đạo vẫn đói, vẫn khổ.

Uyên Thao cho biết từ bao năm nay Ma Xuân Đạo sống không hộ khẩu ở Sàigòn, không vợ, không con - nghe nói chị vợ Ma Xuân Đạo sau 1975 bỏ anh để theo một anh tài xế xe chở hàng chạy đường dài - Ma Xuân Đạo nay ngủ nhờ nhà người quen này, mai ngủ nhờ nhà người quen khác. Nhưng mới đây anh uống thuốc ngủ tự tử, bị chủ nhà phát giác đưa đi cứu, anh không chết, những người quen anh không dám cho anh ngủ nhờ nữa vì sợ anh có thể tự tử chết trong nhà họ.

Tôi nói với Uyên Thao: _ Tập Thơ này của Ma Xuân Đạo mới thật là Tiếng Quê Hương. Tiểu thuyết Văn Quang, Nguyễn Thụy Long cũng là tiếng quê hương nhưng là những tiếng quê hương đã thoát cơn sinh tử, Tiếng Quê Hương Ma Trung Đạo là Tiếng Quê Hương Đoạ Đầy Đau Thương, là một trong ngàn triệu tiếng kêu tuyệt vọng dài dằng dặc của nhân dân Sàigòn từ 1975 cho đến bây giờ... Uyên Thao nói Tủ Sách Tiếng Quê Hương sẽ ấn hành tác phẩm Thơ Chữ Hán Tần Trung Tác của Ma Xuân Đạo.

Trong Tập Thơ còn nhiều bài tôi thấy hay, tôi chờ đơi thấy tác phẩm được xuất bản, ngày đó tôi sẽ lại viết về những tiếng kêu, tiếng than, tiếng khóc của Quê Hương trong

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG Hoàng Hải Thuỷ