Thứ sáu, 16/08/2002,

Kỳ này trang Ảo Ngôn của Gió O thu lượm được ba bài viết trên Net.

Bài thứ 1: Đạo Đức Người Viết do tờ Nhân Dân nói về chuyện một người muốn thành nhà văn đã "đạo văn" một tác giả ngoại quốc về nộp thi giải văn chương trong nước . Đến khi bài đoạt giải hạng nhất, thì người ta mới khám phá ra đây là một sáng tác ăn trộm của một tác giả Trung Quốc.

Bài 2: Về một mẫu tin nhà văn nữ Việt gốc Hoa Chợ Lớn, Lý Lan chụp hình với "Ý Trung Nhân" là một ông Mỹ to tổ bố được tờ Lao Động đưa lên Net :-) , với một câu tuyên bố rất hợp khúc với thời "Phụ Nữ Ra Đời" "Tôi nghiệm từ bản thân mình và các bạn viết nữ khác, thì thấy cái duy nhất mà nghề viết có thể lấy đi ở một người phụ nữ là sự im lặng. Khi phụ nữ mất đi sự im lặng cam chịu nhẫn nhịn, họ sẽ thay đổi thế gian này"

Bài 3: Từ vnexpress có một bài dịch lại một bài viết cũ của ông ký giả Pháp, Jean-Claude Pomonti, phóng viên tờ Le Monde, viết về Sài Gòn vào năm 1971. Bài viết thiên tả của ông ký giả này vẽ ra một chân dung Sài Gòn vào năm 1971. Giờ đọc lại, sao thấy rờn rợn gần giống chân dung Hà Nội ... năm 2002... đó là một thế giới bấp bênh và bế tắc.... Một Hà Nội mà có lần một tác giả Việt Kiều đã mô tả trên tờ Diễn Đàn ở Pháp rằng, người ta nói ở Hà Nội bây giờ (năm 2002) một nhà giàu thì được định nghĩa là có khả năng nuôi được hai người nghiện hút ma túy .

Gió O

Ðạo đức người viết

Lâu lắm mới có một cuộc thi văn học xảy ra chuyện ồn ào về tính xác thực của người được nhận giải. Mà lại là giải cao nhất! Ðó là cuộc thi truyện ngắn mini và thơ tứ tuyệt"Tài Hoa Trẻ (2000 - 2002) do tạp chíTài Hoa Trẻ tổ chức. "Sự cố" của cuộc thi xảy ra xung quanh tác phẩm "Bướm vàng đậu vai ai "của tác giả Nguyễn Tiến Cử (Hà Nội) được ban giám khảo nhất trí xếp giải nhất.

Tuy nhiên vào cùng thời điểm kết quả của cuộc thi được công bố rộng rãi trên mặt báo thì một truyện dịch có nội dung "y chang" với nhan đề "Trên đôi vai bạn có cánh bướm nào không?" của dịch giả Vũ Thị Minh Tân đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam, mục Những chuyện muôn thuở của tình yêu. Theo dịch giả Vũ Thị Minh Tân, truyện dịch này được lấy từ báo Ðộc giả của Trung Quốc.

Ðây là chuyện rất hiếm khi xảy ra bởi lẽ: nếu có hiện tượng "đạo văn" thì ngay khi tác phẩm được đăng báo sẽ có người phát hiện ra. Do đó việc lọt vào chung khảo đã là khó chứ đừng nói đến đạt giải cao. Song điều lạ lùng là sự trùng hợp giữa hai tác phẩm được phát hiện khi giải thưởng đã công bố và chuyện thực hư thế nào vẫn còn đang làm đau đầu ban tổ chức. Và đương nhiên số tiền thưởng vẫn còn để treo.


Những mối ngờ vực...

Xin trích ra đây đoạn mở đầu của hai tác phẩm trên để cho thấy sự giống nhau đến kỳ lạ của chúng:

"Ðó là một thị trấn nhỏ nhưng thơ mộng. Cũng ở đó có một đôi tình nhân đang trong thời đắm đuối yêu nhau. Có những lúc buổi sáng, tay trong tay, họ đi dọc bờ sông ngắm nhìn mặt trời lên hoặc có những buổi chiều, hai người cùng nhau lên núi tiễn đưa ánh tà dương chìm dần trong thung lũng phía xa xa..." "Bướm vàng đậu vai ai".

"ở thị trấn nhỏ êm đềm và thơ mộng kia có đôi nam nữ rất yêu nhau. Họ thường tựa vào nhau trên đỉnh núi cùng ngắm cảnh bình minh và cũng tiễn những ánh chiều trên biển...". "Trên đôi vai bạn có cánh bướm nào không?"

Câu chuyện được kể tiếp như sau: chàng trai đột nhiên bị ốm nặng. Cô gái khóc hết nước mắt và ra sức cầu nguyện. Tình yêu của cô khiến các vị thánh thần cảm động. Họ hứa sẽ cứu giúp chàng trai nhưng với một điều kiện cô gái phải biến thành bướm trong vòng ba năm. Cô gái chấp nhận. Sau khi chàng trai khỏi bệnh, sự biến mất của người yêu khiến chàng rất buồn. Nhưng nỗi buồn của chàng chóng qua. Chàng yêu và kết hôn với cô bác sĩ - người đã chăm bệnh khi chàng bị ốm. Quá đau khổ, cô gái - bướm vàng - xin không trở lại kiếp người. Cả hai tác phẩm đều khép lại bằng một câu hỏi, đại ý: mấy ai biết được trên vai mình có cánh bướm nào không?

Mặc dù có những sự giống nhau như trên, nhưng xét trong mạch văn của hai tác phẩm có khá nhiều điểm "vênh nhau" buộc người đọc phải suy nghĩ. Ví như, khi diễn tả thời khắc giao mùa, tác phẩm "Trên đôi vai..." viết: "Mùa hè qua đi, những cơn gió mùa thu mát mẻ thổi rơi những chiếc lá, cô gái phải rời khỏi nơi này".

Còn trong truyện "Bướm vàng..." viết: "Mùa hè đã qua, gió thu đã về, lá vàng cứ từng chiếc từng chiếc rơi xuống, khiến cho bướm vàng không thể ở lại cùng chàng". Rõ ràng nếu so với câu văn trên, đây là câu tối ý; bởi lẽ câu trên thông báo: mùa thu là lúc cô gái phải ra đi thì câu dưới lại có nghĩa: vì lá vàng rơi khiến cô gái phải ra đi. Theo dõi phần triển khai tiếp theo của hai tác phẩm thì nghĩa đúng phải là: vì mùa thu cô gái phải ra đi. Khi mùa xuân đến, cô gái vội vã bay về với người yêu.

Xin phân tích tiếp một ví dụ khác: cô gái quay về tìm người yêu, nhưng bên cạnh anh bây giờ là một cô gái xinh đẹp. Tác phẩm "Trên đôi vai..." diễn tả cảm xúc của cô gái: "Cô khựng lại, dường như đang rơi từ lưng chừng trời xuống" - thể hiện sự hẫng hụt, bàng hoàng trước sự thật trớ trêu.

Trong tác phẩm "Bướm vàng..." tác giả viết: "Không thể tin vào mắt mình, và chỉ suýt nữa thôi bướm vàng đã rơi từ lưng chừng trời xuống đất". Câu này rất dễ dẫn đến lối suy diễn: suýt rơi chứ chưa bị rơi từ lưng chừng trời xuống đất. Ðiều đó chứng tỏ cô gái vẫn còn đủ bình tĩnh để không rơi vào trạng thái hụt hẫng, đổ vỡ. Như vậy câu văn trên có sức thuyết phục hơn, cảm động hơn.

Xét trên tổng thể, truyện "Trên đôi vai bạn có cánh bướm nào không?" - tuy là truyện dịch nhưng hành văn trong sáng, giản dị, gọn gàng.


... và ba "nghi án"...

Trong khi nội vụ chưa rõ ràng, ba khả năng đã được đặt ra cho sự cố trên. Một là: ông Nguyễn Tiến Cử phóng tác hoặc dịch lại truyện của nước ngoài. Do đó tác phẩm "Bướm vàng đậu vai ai" không phải là sáng tác của ông. Hai là: một cá nhân nào đó đã lấy truyện của tác giả Nguyễn Tiến Cử rồi sửa chữa, làm biến dạng tác phẩm thành "truyện dịch" (từ tiếng ta sang tiếng Việt???) và gửi đăng báo. Ba là truyện "Bướm vàng đậu vai ai" đích thực là của tác giả Nguyễn Tiến Cử. Khi truyện đăng báo, đã được độc giả đưa lên mạng Internet, rất có thể báo Trung Quốc dịch đăng và dịch giả Vũ Thị Minh Tân đã dịch ngược lại từ báo bạn.

Ngày trao giải vẫn diễn ra vào ngày 01/08/2002, theo đúng kế hoạch của ban tổ chức, tuy nhiên tác phẩm đạt giải nhất vẫn tạm thời bị "treo" vì lý do: những khúc mắc xung quanh tác phẩm này chưa được làm rõ. Ðầu mối giải quyết sự cố văn chương này chỉ có thể nhờ vào hai nhân vật: tác giả Nguyễn Tiến Cử và dịch giả Vũ Thị Minh Tân.

Rất mong đây thực sự là tác phẩm của tác giả Nguyễn Tiến Cử được báo Trung Quốc dịch đăng và dịch giả Vũ Thị Minh Tân dịch ngược lại. Trường hợp này đạo đức và danh dự của các bên vẫn được bảo toàn!!! Song rất có thể đây là một vụ "đạo văn" và cần được làm rõ vì là vấn đề đạo đức của người viết.

Theo Nhân Dân

Nhà văn Lý Lan: "Khi phụ nữ mất đi sự im lặng cam chịu..."


Bên chồng mới cưới

Trở về sau một năm theo học khoá cao học viết văn (2001 -2003) ở Mỹ, nhà văn Lý Lan hiện có một kỳ nghỉ hè thật đặc biệt trong đời, bên cạnh "ý trung nhân" mà chị vừa kết duyên ở Mỹ. Ngoài tin vui riêng, chị còn dành cho chúng tôi một cuộc trò chuyện về thời sự, văn chương, cuộc đời và nước Mỹ...

- Tôi có nhiều cơ hội để tham dự các hội nghị, hội thảo khác nhau. Nhưng có hai cuộc hội thảo khiến tôi suy nghĩ nhất. Một là hội thảo của sinh viên ngoại quốc đang du học ở Mỹ trong chương trình Fulbright 2002, tổ chức tại Seattle. Đề tài cuộc hội thảo này là: "Đặc tính và các giá trị Mỹ trong thời gian nan của đất nước: Các quyền tự do công dân, sự dung chấp, bổn phận tham gia của công dân". Cuộc hội thảo thứ hai có tên: "Tái tạo giới tính ở Việt Nam hiện thời và những chốn tha hương", được tổ chức tại trường đại học California (Los Angeles). Tại đây, nhiều học giả Âu, Mỹ và Việt Nam đã trình bày và tranh luận những nghiên cứu của họ về Việt Nam. Gây ấn tượng mạnh hơn cả đối với tôi là cách nhìn độc lập và cấp tiến từ những học giả trẻ người Mỹ gốc Việt, những người trên dưới tuổi ba mươi đang giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học Mỹ.

- "Lớp cao học văn chương" mà chị theo học có giúp chị một phát hiện nào về cái nhìn của người Mỹ với văn học Việt Nam không?

- Không có một chương trình nhất định. Tôi chọn học những gì tôi thích. Các lớp tôi tham dự gồm nhiều chuyên đề. Đề tài mà tôi nghiên cứu trong hè này là tác phẩm bằng tiếng Anh của người Việt ở Mỹ/ Mỹ gốc Việt. Tôi chọn đề tài luận văn: "Tự do trong sáng tác văn học của phụ nữ". Tôi nhận thấy văn học Việt Nam ở Mỹ chưa có công chúng rộng rãi. Phần lớn những người quan tâm là những người có chuyên môn hay nghề nghiệp liên quan đến Việt Nam, như giảng dạy, nghiên cứu về Việt Nam hay chiến tranh chẳng hạn.

- Vị trí mới, môi trường lạ - điều đó có tác động gì đến nhịp điệu sáng tác của chị?

- Tôi cố gắng viết cả hai thứ Anh, Việt để giữ cân bằng cho mình. Những lúc loay hoay tắc tỵ giữa bài luận văn vì vướng víu ngữ pháp và từ vựng tiếng Anh, tôi bỗng thấy nhu cầu "xì" ra được một bài thơ hay đoạn văn bằng tiếng Việt thiệt là đã! Ngày 20.8 này, trước khi nhập học trở lại, tôi đang có ý định cùng ông xã băng ngang nước Mỹ bằng đường bộ. "Tham vọng" của tôi là viết được một cuốn sách về chuyến đi này.

- Hiếm hoi để có được một nhà văn nữ Việt Nam thông thạo tiếng Anh như chị. Chị có cho rằng đó là một lợi thế của mình khi cầm bút viết văn giữa bối cảnh "toàn cầu hoá" lúc này?

- Dĩ nhiên thông thạo ngoại ngữ có lợi. Nhưng tôi nghĩ lợi thế nổi bật nhất của một nhà văn vẫn là được sống trong môi trường ngôn ngữ mẹ đẻ hay ngôn ngữ sáng tác của mình.

- Nhưng với một người chồng Mỹ, liệu chị có dám chắc là mình sẽ không phải có lúc xa rời môi trường ngôn ngữ sáng tác ấy của mình không?

- Đương nhiên là khi khoá học kết thúc tôi vẫn sẽ trở về chứ! Tôi làm sao có thể rời xa môi trường sáng tác tốt nhất của mình được. Tuy nhiên, thi thoảng hai chúng tôi cũng sẽ cố gắng đi qua đi lại sao đó để vợ chồng khỏi xa nhau.

- Ngoài những cái "được" trong nghề, liệu chị có bao giờ lưu tâm đến những cái "mất" mà nghề viết có thể lấy đi ở một người phụ nữ?

- Tôi nghiệm từ bản thân mình và các bạn viết nữ khác, thì thấy cái duy nhất mà nghề viết có thể lấy đi ở một người phụ nữ là sự im lặng. Khi phụ nữ mất đi sự im lặng cam chịu nhẫn nhịn, họ sẽ thay đổi thế gian này.

Theo Lao Động

1971 - Sài Gòn trong mắt một nhà báo Pháp

Đường phố Sài Gòn năm 1971.
Đường phố Sài Gòn năm 1971.

Tháng 2/1971. Mỹ bắt đầu rút quân khỏi miền nam Việt Nam. Trong ấn tượng của Jean-Claude Pomonti, phóng viên tờ Le Monde, Sài Gòn lúc đó là một thế giới bấp bênh và bế tắc. Bài báo dưới đây của ông vừa được Le Monde đánh giá là một trong 12 phóng sự hay nhất giai đoạn 1955-1980.

Qua cầu Trương Minh Giảng, ở quận 3, ven lối ngõ nhỏ mà ta phải đi hết một khúc quanh dài mới tới nơi, là một ngôi đền nhỏ thờ đạo Khổng, xây theo kiểu Trung Hoa, khiêm tốn và có phần mục nát. Bên trong, trước bàn thờ đặt chính giữa - nơi đồ cúng được xếp trên những chiếc đĩa, giữa những cây nến và nhiều thứ tô điểm khác - một người phụ nữ, không già không trẻ, đeo đồ trang sức sáng lấp lánh, đang ngồi xổm. Có lúc trông bà ta như là đang cầu khấn.

Bà ta uống rượu liên tục, hút những điếu thuốc lá tẩm thuốc phiện, giương cái tai lơ đễnh nghe lời to nhỏ "thưa thầy". Những phụ nữ ngồi xung quanh cố vấn và giúp việc cho bà trong một ngày. Bà làm bộ mỉm cười khinh khỉnh, ra lệnh phát tiền và quà cho những ai có mặt, buồn rầu, nổi nóng, rỏ vài giọt lệ để hưởng cái thú được thiên hạ an ủi, đổi cái áo lễ đẹp của mình lấy một cái áo lễ còn đẹp hơn, ngả người, đứng dậy, múa may, múa may... Cách đó mấy bước chân, trên cái chiếu trải ngay giữa nền đất, 3 nhạc công, dáng như dân nghiện, không ngừng rỉ ra thứ nhạc nỉ non não nề.

Người phụ nữ bỗng nhiên nhảy múa dữ dội và nhục cảm hơn, tiếng nhạc đỡ lấy, bao bọc, dìu dắt cho đến lúc bà mệt lử và trở lại ngồi xổm trước bàn thờ, có bàn tay giúp đỡ của đám hầu cận. Họ lại rì rầm những lời tán tụng, và bà đáp lại bằng cái dẩu môi coi thường. Họ xui bà ra những cử chỉ hào hiệp mới, và bà lại nhượng bộ, phát cho chung quanh ít tiền lẻ và hoa quả bằng một vẻ đầy nghĩa khí. Những người nhận thì đón lấy, trân trọng đến mức giả tạo.

Lần này, người phụ nữ hóa thân thành tướng Trần Hưng Đạo, vị anh hùng huyền thoại từng đánh bại quân xâm lược Trung Hoa (chính xác là quân Nguyên Mông - TS). Người khách nước ngoài ghé qua kia hẳn là đại sứ của phương Tây, ông ta cũng được phát quà kìa. Khuôn mặt xấu xí ngời sáng. Người phụ nữ trở nên gần như là xinh đẹp. Một lần trong đời, bà đã gạt bỏ được những rào cản xã hội, quên đi thân phận phụ nữ nhỏ bé để đạt lấy vinh quang, chút hào nhoáng quyền lực, giành được những gì mà bà chưa bao giờ có. Sau vài giờ mệt nhoài, bà cảm thấy hài lòng.

“Lên đồng” - người Việt Nam nói như vậy về việc các linh hồn nhập vào bà đồng. Nhưng ở đây, bà đồng, “thầy”, bận chiếc áo lễ đen, là một nhân vật đáng kinh ngạc. Bà chuẩn bị trang phục vừa rất chu đáo, vừa trang nghiêm vừa khác thường. Toàn bộ quá trình chỉ kéo dài vài giờ đồng hồ, nhưng việc sửa soạn thì phải mất nhiều tháng ròng. Bà đã đặt hàng lụa ở Hong Kong, cho cắt thành độ hai chục chiếc áo lễ và mũ. Từ Đà Nẵng, nơi bà cư ngụ, bà đã lên đây mấy lần để thu xếp những chi tiết nhỏ nhặt nhất, một công việc đòi hỏi thời gian và hàng trăm nghìn tờ bạc. Trong một xã hội gò bó, người ta cũng cần có một ngày duy nhất để cuộc đời thăng hoa.

Những người Sài Gòn, không trông đợi gì từ bất kỳ ai, sống qua ngày nhờ những mối bận lo như vậy. Tại một quán nước khốn khổ, cuối con đường Võ Di Nguy, người mẹ đang chờ để gửi con sang Pháp, một cậu bé lai Âu không biết nói lấy một từ tiếng Pháp. Người mẹ đã có nó với một binh lính thuộc đạo quân viễn chinh Pháp, và từ bấy đến nay cô chưa có lấy một mẩu tin nào về anh ta. Có gì quan trọng đâu, cần phải cho đứa trẻ theo con đường của cha nó, để cho nó được học hành như cha nó, nếu không thì mọi việc sẽ không đúng lẽ. Điều này đã trở thành một nỗi ám ảnh.

Chi Mai, 20 tuổi, vừa từ một trường đại học trở về, xinh tươi hơn bao giờ hết. Cha cô nghèo, làm việc quần quật. Ông là một nhân viên ngân hàng quèn, có một chiếc xe máy và ngụ cư tại một căn nhà ở cái khu căn hộ khiêm tốn xây hồi năm ngoái, bên kia kênh Khánh Hội. Chi Mai được dạy dỗ đến nơi đến chốn: Cô nói thạo tiếng Pháp, làm bánh trái ngon tuyệt, luôn tỏ ra ý nhị và kính cẩn. Những chàng trai mà cô quen biết chỉ là anh em họ cô, họ vẫn đến đây ăn mỗi dịp cúng giỗ. Chừng 2 hay 3 năm nữa, mẹ và các dì cô sẽ tính chuyện tìm cho cô một anh chồng giàu có, nhất là nếu hòa bình quay trở lại. Bằng không, có lẽ gia đình sẽ đợi thêm ít lâu nữa. Chi Mai không nghĩ đến một cuộc sống nào khác, cô chưa từng rời khỏi Sài Gòn.

Hồi tháng 2/1968, trường đua Phú Thọ là một trong những nơi bị giành giật trong cuộc chiến ở Sài Gòn. Sau đó, chính quyền biến nó thành một trung tâm đón tiếp tạm thời, hàng nghìn người chạy loạn tập trung ở đây. Ngày nay, nó lại trở thành điểm hẹn của hàng nghìn tay đặt cược đến xem những con ngựa đua, cưỡi trên lưng chúng là các nài ngựa tuổi chừng 15.

Trong khi cánh đàn ông lao vào thú tiêu khiển ưa thích - đặt cược hay đánh bạc - thì cánh phụ nữ, nhất là các bà già, tụ tập với nhau, để tổ chức một đám cưới, vạch một kế hoạch mới, tranh cãi một vấn đề hay đơn giản là bình phẩm về một vở cải lương vừa ra lò. Có khi, họ đi xem bói, lễ chùa, thế rồi tin chắc vào một quyết định đã được đưa ra từ lâu, hết người này đến người khác tranh cãi, dằn dỗi, la hét, cứ như thế cho đến khi nào chán thì thôi.

Chẳng phải người ta cũng từng chứng kiến cảnh tượng đó hay sao? Hồi tháng 5/1970, trong phiên xử dân biểu Trần Ngọc Châu, một trong các luật sư, bà Đài, đứng biện hộ hàng giờ đồng hồ, cho tới khi vị chủ tịch tòa án binh, điềm tĩnh và nghiêm khắc là thế, lần đầu tiên phát khùng, và không thể chịu đựng hơn nữa, hoãn phiên tòa lại đến ngày hôm sau. Sài Gòn là vậy: Đàn ông mua vé số, đàn bà cai quản.

Có nhiều ví dụ về một thứ trật tự cứ xuất hiện, mỗi khi người ta sợ cuộc sống sẽ trở lại bình thường. Thành phố có 250.000 thanh thiếu niên hư, nhưng đa số chỉ do ngẫu nhiên. Xã hội đen không thu hút được nhiều người. Một Sài Gòn thích ứng được với hiện tại nhưng lại không chấp nhận và hòa nhập với nó. Ông Hoàng, một viên chức già, mỗi năm lại lùi tuổi về hưu, hy vọng có ngày ông sẽ chuộc lại được miếng đất nhỏ ở vùng châu thổ, ven rìa tỉnh Bến Tre. Một đồng nghiệp của ông, còn đương đi làm, vẫn bằng lòng đi chiếc xe Lambretta 3 bánh tập thể tới cơ quan và hy vọng những điều tốt đẹp hơn ngày mai sẽ đến. Sự chờ đợi, luôn luôn là sự chờ đợi, với một số người là kèm theo nợ nần, với những người khác là tham những.

Vậy ai cai quản thành phố? Những người ăn không ngồi rồi hay những kẻ hành khất? Những binh lính hay những người áo cổ cồn? Hoặc những tay “cao bồi”, những kẻ sa đọa cứ làm như mình có quyền lực trong xã hội? “Khi tướng Kỳ còn làm thủ tướng (chính xác là chủ tịch uỷ ban hành pháp trung ương - TS)”, một người Việt nhớ lại, “ông chủ Sài Gòn là những thầy cẩm, những cảnh sát trưởng. Không phải một thiết chế cảnh sát, mà đích thân các cảnh sát làm ra luật. Giờ đây, đó là những người trốn lính”.

Ở miền Nam Việt Nam, không có những người trốn lính theo đúng nghĩa. Chỉ có hàng trăm cách để tránh hay lùi lại việc bị gọi nhập ngũ, để được tiếng đi lính nhưng lại không phải đi, hay để được bổ nhiệm giả vờ hoặc vào chỗ ít nguy hiểm, nếu người ta chịu chi từ 800 đến 4.000 franc. Đại đa số thanh niên mà ta vẫn thấy đi lững lờ trên phố kia có giấy tờ hoàn toàn hợp pháp. Còn đối với những người trong tình trạng phi pháp, Sài Gòn sẽ cung cấp nơi trú ẩn tốt nhất và những cơ hội tìm việc làm béo bở nhất. Ngoài ra, một người "trốn lính" vẫn có thể được phân vào làm những công việc thấp kém, chuyện đó tốn cũng ít thôi.

Trong thời kỳ này, xuất hiện một tiểu thế giới vừa nửa mờ ám vừa tứ xứ, một thế giới của chợ đen, của hoạt động buôn bán tại những cửa hàng bán đồ Mỹ miễn thuế, của những hàng hóa bị đánh cắp từ các kho của quân đội. Kèm theo là những người môi giới Philippines, từ lâu đã là dân buôn mát tay nhất, những thương gia Ấn Độ, từng len lỏi tới những xứ sở khác ở Đông Nam Á nơi họ có tiền để đó, một dúm lính đào ngũ Mỹ và những người nội ứng cho họ trong quân đội (cứ mỗi tháng trung bình có chừng trăm người trong tất cả bị bắt).

Những kẻ tống tiền và những tên bợm biết cách bám víu vào các thương binh, cựu chiến binh, quân đội và cảnh sát, tất cả những người nhàn rỗi khốn khổ. Trong vòng một năm, chi phí sinh hoạt đã tăng 40%. Dân tình nguyện làm các công việc vặt không thiếu. Những cậu bé chuyển đồ từ các cửa hàng quân sự Mỹ và được giao nhiệm vụ bán lại hàng trên vỉa hè. Cũng chính chúng đứng bên lề đường, bán xăng đựng trong chai - thứ xăng ăn cắp của quân đội, rất dễ nhận vì có màu. Và lúc nào cũng có một bà nào đó, đứng cách chúng không xa là bao, để cai quản đội quân tí hon.

Cái thế giới sống bên bờ của sự hợp pháp này đôi khi cũng có nhiều sự phân nhánh phức tạp. Những "người trốn lính" hình thành tầng lớp lơ lửng giữa thượng lưu và tầm thường. Có hơn 30.000 gái quán bar và gái điếm ở Sài Gòn. Rất ít mạng lưới con phe lớn. Một khi tồn tại, họ có ô dù rất chắc chắn, và lạm phát tiếp tục cho họ phương tiện phục vụ bản thân. Nhưng ở Việt Nam, xã hội chủ yếu bao gồm những người thợ thủ công tự lực cánh sinh. Giới trẻ đa số làm ngay tại quầy hàng của một ông bác hay một người họ hàng.

Ở Gia Định, gần sân bay Tân Sơn Nhứt, có con hẻm mang một biệt danh đáng buồn: "Đường một trăm đồng bạc". Người ta có thể tìm thấy ở đây tất cả những thứ gì người ta muốn: ma túy, thuốc phiện, đàn bà..., nhưng tốt hơn là không nên mạo hiểm ra đấy một mình, nhất là vào ban đêm. Điều hành thứ "Prisunic" (tên một siêu thị ở Pháp - TS) này là những người trốn lính và các cựu chiến binh. Có lần, trong lúc truy quét, cảnh sát phát hiện ở đây một anh lính Mỹ trẻ vừa trốn khỏi nhà tù quân sự Long Bình, lần khác là chục người Mỹ - lại lính Mỹ bỏ trốn - cùng số chiến lợi phẩm nho nhỏ: 31 khí giới, 190 livre (tức 95 kg) marijuana, 7 quả lựu đạn, các giấy tờ tùy thân giả, 44 thùng rượu, 87 thùng bia, 212 tút thuốc lá, 75 lệnh bay để trống cùng 15 giấy cho nghỉ phép cũng để trống nốt, tất thảy đều bị lấy cắp tại các căn cứ Mỹ.

Cùng với việc lính Mỹ thì giảm, khó khăn kinh tế thì chồng chất, các quan chức ở đây lo sợ xã hội nửa mờ ám này sẽ lan rộng. Các chiến dịch làm trong sạch xã hội những tháng gần đây chỉ xác nhận mối nguy hiểm đó. Cũng giống như hồi 1953-1954, nhưng ở mức độ cao hơn, hôm nay có hai Sài Gòn cùng chung sống, Sài Gòn này khiếp sợ Sài Gòn kia và phải chịu đựng nó, tuy không thừa nhận. Ta có thể tìm thấy ở đây dấu vết bất ổn từng làm nền cho lịch sử thành phố. Mặt khác, chứng kiến những gì đã xảy ra, ta cũng có thể tự hỏi, đâu sẽ là lối thoát cho cuộc tranh cãi đã được khơi mào? Đáng ngạc nhiên sao khi mà những thứ này lại kéo dài lâu đến thế.  

(Hiện Jean-Claude Pomonti làm phóng viên ở khu vực Nam Á).

Minh Châu dịch