Thứ sáu, 13.9.2002,
Lần đầu tiên nữ sinh viên thành phố Vinh mặc áo dài đi học

Trong khi SV nhiều trường đang mặc quần ngố, váy, quần bò, áo phông...đến giảng đường thì ở Đại Học Vinh, áo dài đã trở thành trang phục thân quen của các nữ sinh.. Tà áo dài và nắng gió quay quắt miền Trung.
Sông xuống phố
Thành phố Vinh một buổi chiều tháng 6, nắng xối vào người, rát bỏng như bếp than. Gió quần quật, đánh đố sức chịu đựng của con người. Một nhóm nữ sinh mặc áo dài trắng, xanh nhạt vẫn đạp những chiếc xe mini màu mận, dưới những tán bàng. Nắng và gió như chợt vợi đi. Những bóng áo dài như dải sông buông mềm xuống miền nắng nóng.
Trường Vinh đã chọn cho nữ sinh bộ đồng phục truyền thống với nét đẹp dịu dàng, kín đáo. Nữ sinh trường Vinh như xinh hơn, hiền hơn, duyên dáng hơn khi mang trên mình bộ áo dài. Lê Hằng, 40A1 Văn, quê Thanh Hóa, trước khi là SV trường Vinh, đã từng '' khoác áo tơi'' lam lũ trên những cánh đồng vào mùa, nhỏ nhẹ: ''Nếu không đỗ đại học, không biết bao giờ tôi mới được may và mặc áo dài. Mỗi khi mặc áo dài tự nhiên thấy mình đi đứng nhẹ nhàng, ăn nói cũng nhỏ nhẹ hơn''. Văn Thông, chàng trai lớp 42A2 Toán vốn rất ''ngố'' và ''chẳng biết gì ngoài những con số'' cũng phải thốt lên: ''Các bạn nớ (ý nói các bạn nữ) mặc áo dài đẹp thật ! ai mà không ''nghiện''đám áo dài!''.
Các thầy trường Vinh có lý khi ra quyết định về việc mặc đồng phục áo dài cho SV, khơi dậy ý thức về sống đẹp. Mặc trên mình bộ áo dài truyền thống, lẽ nào các bạn lại nói tục chửi bậy, đi đứng ngông nghênh, phóng xe vù vù ? Rồi nữa, mặc áo dài mà quay cóp, gian lận trong thi cử thì ''coi răng được''. Chuyện mặc áo dài không chỉ là chuyện ''hình thức chủ nghĩa''. Với nữ sinh trường Vinh, sau khi ra trường, phần lớn họ sẽ là cô giáo, kinh nghiệm mặc áo dài sẽ góp ích cho họ khi mà các trường phổ thông đều khuyến khích giáo viên mặc áo dài.
Chuyện đồng phục ở trường Vinh như một câu chuyện dài kỳ. Mới đầu, nhiều SV vì những lý do khác nhau, không chấp hành việc mặc áo dài, nhà trường phải đề ra hình thức ''giám sát'' và ''xử phạt''. Ban thanh tra, chuyên viên đào tạo, đoàn trường, đội cờ đỏ đã phải tốn không ít công sức ''canh chừng''ở các cổng, ai mà không mặc đồng phục thì phải nghỉ tiết đầu, rồi bị ghi sổ, rồi tuỳ mức độ ''phạm luật'' mà trừ học bổng. Dần dà, việc mặc đồng phục thành nếp. Giờ SV trường Vinh coi chuyện mặc đồng phục vào ngày đầu tuần, ngày lễ, ngày thi là chuyện bình thường, thậm chí ''lỡ trời mưa lâu lâu, không được mặc áo dài, em cảm thấy nhơ nhớ, cứ thỉnh thoảng lại lấy áo ra ngắm một tí chị ạ!''(Vân, 41BVăn). SV trường Vinh đi thực tập ở các trường, giữ được thói quen mặc áo dài, giáo viên các trường rất mến, có những trường giáo viên ở đó chưa thực hiện mặc đồng phục, thấy SV thực tập mặc áo dài, họ cũng mặc theo. Từ ảnh hưởng của trường ĐH Vinh, một số trường như Cđ Sư phạm Nghệ An, trường VHNT tỉnh cũng thực hiện việc mặc đồng phục áo dài.
Mặc áo dài có nhiều lợi thế cho SV nữ. Tiền may một bộ áo dài với chất liệu vải truyền thống: gấm, tơ tằm, lụa...ở hiệu may Thiên Nga (Cầu Thông, Bến Thuỷ) khoảng từ 150.000-200.000 đồng/bộ. Trong khi một bộ đồ bình thường ít nhất cũng phải mất 100.000đồng, mà laị phải thay đổi luôn luôn. Đồng phục áo dài giúp SV trường Vinh ít phải bận tâm hơn về những chuyện đại loại: Hôm nay đến trường phải mặc gì đây? áo này thì nên mặc với quần nào ? Biết đâu, đấy cũng là một cái lợi trong mùa thi căng thẳng. Hơn nữa, sự đua đòi thiếu lành mạnh không có cơ hội lan tràn.
Thương lắm, áo dài miền Trung
Thế nhưng vẫn còn không ít điều cấn cái trong câu chuyện áo dài này. SV ĐH Vinh đến từ 3 tỉnh Thanh- Nghệ- Tĩnh, những vùng đất còn nhiều khó khăn, lam lũ. Đối với những gia đình khá giả thì không sao, nhưng với những gia đình nghèo tiền may cho con vài bộ áo dài bên cạnh bao chi phí khác là một chuyện không đơn giản. Đinh Thị V, lớp 41B1 Văn, đã khóc khi được mẹ trao cho mảnh vải màu hồng ngày xuống Vinh nhập học, bởi biết rằng, mẹ đã phải bán đi một đàn gà chưa kịp lớn. Không chỉ có V, nhiều bạn khác nữa, gia đình vẫn còn rất khó khăn, để may áo dài cho con, bố mẹ cũng phải suy đi tính lại. Bởi thế, trong ngày học bình thường vẫn còn xuất hiện trên giảng đuờng những tà áo cũ, bạc màu.
Nữ sinh trường Vinh phải mặc áo dài trong tất cả các buổi thi. Đi thi mà mặc áo dài kể ra cũng không ít ''khổ''. Kiều Ng, 40BVăn, mồ hôi ướt đẫm, bước chân ra khỏi phòng thi, than thở: ''Nóng lẵm! Khó thở!''. Ng vừa nói vừa cố gắng mở chiếc cúc bấm sát cổ rồi xắn cao hai ống tay áo. Có ngồi liên tục 3 tiếng đồng hồ trong phòng thi với bộ áo dài mới biết rằng cái đẹp và sự tiện lợi của áo dài được thử thách với nắng nóng như thế nào.
Ấy là chưa kể mỗi tháng có mấy ngày ''khó mặc áo dài'', khiến nữ SV dù có ''một mình mình biết'' thì cũng hết dám vận động nhiều như thường ngày. Kể ra, mỗi tuần chỉ nên quy định một vài ngày mặc áo dài thì có lẽ hay hơn. Thời tiết ở Vinh khắc nghiệt không thuận lợi cho việc mặc áo dài. Mùa đông, mặc áo dài thì lạnh quá, khoác thêm chiếc áo ngoài thì chẳng thấy áo dài đẹp ở đâu mà lạnh thì vẫn lạnh. Mùa hè nắng như thiêu như đốt, mặc áo dài như đi đầu trần. Nữ sinh trường Vinh mặc áo dài nhưng không đội nón như Sinh Viên Huế, có lẽ đội nón gió Lào sẽ đánh phăng đi mất. Họ đội mũ vải sát đầu, bịt khăn kín mặt, tay đeo găng chống nắng, chống nóng, chống bụi. áo dài Vinh vì thế mà đẹp hơn, thương hơn.
(Theo Sinh Viên Việt Nam )
Hiện Tượng sáng tạo của Nguyễn Cẩm Lũy ở Sài Gòn
Thời gian gần đây, ở thành phố Sài Gòn , xuất hiện một cái tên : Nguyễn Cẩm Luỹ, Ông là ai mà lại được người ta nhắc nhiều đến vậy???
Thực ra thì ông đã nổi tiếng từ năm 99, khi ông di dời và nâng cao thành công móng của 1 ngôi nhà 3 tầng. Theo ý kiến của các chuyên gia thì ông là người đầu tiên làm được công việc này trong khi đó VN ta chưa có một ai có thể( tất nhiên là ngoài ông). Với hàng loạt các công cụ đơn giản như : kích ô tô, con lăn ống nước, tời kéo... tất nhiên là kèm theo cả những bí quyết riêng, ông đã gây được tiếng vang rất lớn.
Tuy nhiên, một điều rất lạ là ông chỉ mới tốt nghiệp lớp 4 trường làng, và hầu hết các bản vẽ của ông chỉ có ông và vài người thân tín mới hiểu, chứ không hề theo bất kỳ một sự đào tạo chuyên nghiệp nào.
Ngoài ra, ông còn di dời vô số các công trình khác với trọng lượng lên tới hàng nghìn tấn và gần đây Dự án di dời 3 cây cầu của thành phố thành cầu vượt mà được phê duyệt và có khả thi thì không biết ông còn có thể di dời được những công trình nào nữa???
Tác giả bản nhạc nổi tiếng "Hà Nội Mùa Này Vắng Những Cơn Mưa" Trương Qúy Hải lột tiền cứu Mưa Miền Trung 1999
Kiểm điểm các sai phạm tài chính ở Thành đoàn Hà Nội
Ủy ban kiểm tra Trung ương Đoàn vừa có kết luận về những đơn thư tố cáo sai phạm trong quản lý, thu chi tài chính của một số cá nhân, tập thể thuộc Thành đoàn Hà Nội. Theo đó, 13 đơn vị, cá nhân sẽ phải kiểm điểm.
Theo kết luận, các sai phạm đã diễn ra trong thời gian dài, làm thất thoát hơn 90 triệu đồng. Như trong đợt quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung lũ lụt năm 1999, có 8 trường đại học, cao đẳng nộp hơn 43 triệu đồng nhưng không được ghi trong sổ hội sinh viên. Những cá nhân trực tiếp thu tiền “không nhớ rõ” đã chi vào việc gì. Đợt quyên góp xây dựng trung tâm hoạt động và giáo dục trẻ em đặc biệt Hà Nội, Ban thiếu nhi Thành đoàn thu hơn 520 triệu đồng, nhưng chỉ nộp tài khoản 382 triệu đồng và chi đúng mục đích 90 triệu đồng. Còn lại hơn 48 triệu đồng không được nộp vào tài khoản của Thành đoàn và có dấu hiệu tham ô...
Với những sai phạm này, Ủy ban kiểm tra Trung ương Đoàn kiến nghị Ban bí thư Trung ương Đoàn, Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội chỉ đạo kiểm điểm, xử lý theo điều lệ Đoàn, Đảng với 4 tập thể, gồm thường trực, ban thường vụ Thành đoàn, thường trực Hội đồng Đội và thường trực Hội sinh viên; kiểm điểm 9 cá nhân: Phạm Xuân Cảnh (nguyên bí thư Thành đoàn), Trần Quang Dũng (nguyên bí thư Thành đoàn, chủ tịch Hội sinh viên, trưởng Ban Thanh niên trường học Thành đoàn), Trương Quý Hải (phó chủ tịch Hội sinh viên, tác giả "Hà Nội Mùa Này Vắng Những Cơn Mưa"), Đặng Trần Mùi (phó chủ tịch Hội đồng Đội thành phố), Đào Minh Đức (trưởng Ban Thiếu nhi Thành đoàn), Đặng Tiến Dũng (phó Ban Thanh niên trường học), Phạm Công Bằng, Nguyễn Thu Hiền, Ngô Hồng Liên (các chuyên viên Ban Thanh niên trường học).
Ủy ban kiểm tra đề nghị thu hồi số tiền mà Đào Minh Đức (48,5 triệu đồng), Phạm Công Bằng (6,2 triệu đồng), Nguyễn Thu Hiền (13,8 triệu đồng), Ngô Hồng Liên (14,9 triệu đồng) đã sử dụng trái phép.
Trong đợt xử lý này, 5 cá nhân khác cũng phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
(Theo Tuổi Trẻ)
Lời cảnh báo từ biên giới
Lan Hùng Đúng chuyện người Mông Ở xã Chiềng Sơn dưới Mộc Châu, nhiều bản người Mông cũng có băng, đĩa hình như thế này nên từ người già đến trẻ em ai cũng xem. Điều đáng ngạc nhiên là không chỉ những bản Mông ở gần đường hay gần trung tâm huyện mà ngay cả các bản heo hút ở sát biên giới muốn tới phải đi bộ từ xã lên cũng mất cả ngày leo dốc, ở đó cũng có băng, đĩa hình để xem. Bản nhiều thì năm, bảy bộ, ít thì một, hai bộ video hoặc VCD, còn băng đĩa hình không hiếm. Ông Kiều Liên - Chủ tịch UBND xã Chiềng Sơn cho tôi biết thêm, ngay cả những bản không có điện lưới, chưa xem được truyền hình cũng có video để xem. Điện ư? Đã có máy phát điện chạy bằng nước suối, cứ có suối thì có điện, mà suối ở vùng cao không bao giờ cạn.
Phải nói rằng, những năm gần đây đời sống đồng bào miền núi, nhất là đồng bào Mông đã được cải thiện rõ rệt, vì vậy mua sắm một số hàng hoá như đầu video, VCD cũng không phải khó khăn lắm đối với một số hộ gia đình, nhưng một điều dễ nhận thấy đó là do có nhiều băng, đĩa hình ở biên giới nên mới xuất hiện nhu cầu mua đầu video, VCD, tất nhiên đó là băng, đĩa hình tiếng Mông, chẳng thế mà từ người già đến trẻ em ở những bản tôi đi qua hầu như đều kể lại được những câu chuyện phim mà họ đã xem. Khi tôi hỏi họ phim có hay không thì người Mông ở Thuận Châu, Sông Mã hay Mai Sơn đều nói là phim hay lắm, do "người Mông mình làm đấy". Quả thật chất lượng hình ảnh của đĩa VCD, băng video tiếng Mông khá cao, âm thanh rõ nét. Băng, đĩa hình lưu hành trong các bản người Mông ở biên giới, có nhiều loại từ phim truyện như: Câu chuyện tình giữa chàng Plai và nàng Dợ, vợ chồng Páo Ly, lịch sử người Mông, những phim tâm lý đề cập đến mẹ chồng, nàng dâu; vợ lẽ, vợ cả; số phận con người và phim làm theo những câu chuyện cổ tích của người Mông. Có cả phim ca nhạc, phim dạy cách trồng cây, chăn nuôi. Điều đặc biệt là rất đúng tâm lý, tình cảm của dân tộc Mông, chẳng thế mà ông Và A Chông - trưởng bản Cau Cói đã nói với tôi: "Vì nó làm đúng chuyện người Mông ta". Dân vui vẻ nộp băng xấu, nhưng... Ở chợ huyện Sông Mã, tôi vào vài cửa hàng băng, đĩa hình hỏi mua nhưng đều nhận được câu trả lời: "Không có đâu". Trò chuyện một lúc, tôi đột ngột hỏi người bán hàng: Phim truyện Mông hộp hai đĩa giá bao nhiêu? Người bán hàng trả lời ngay "năm, sáu mươi nghìn tuỳ từng phim". Sang bên kia đường, tôi vào cửa hàng bán đồ điện tử đúng lúc có hai thanh niên Mông đang mua bộ video, thấy hai băng video có dán miếng giấy nhỏ ghi dòng chữ "Ca nhạc Mông", tôi buột miệng: "Bán cả băng à?". Người bán hàng giải thích: "Băng khuyến mãi đấy mà. Thử máy xong cho họ luôn họ mới thích". Có lẽ thấy anh bạn công tác tại đài truyền thanh - truyền hình huyện cùng đi với tôi là người quen nên người bán hàng tỏ ra niềm nở: "Anh hỏi mua băng tiếng Mông thì họ không bán đâu, phải người Mông hỏi mua cơ". Tôi hỏi người bán hàng: "Thế nguồn băng, đĩa ở đâu?". Anh không ngần ngại nói ngay là từ biên giới đưa về. Rồi anh tiếp: "Một vài băng, đĩa giấu đâu chẳng được mà tịch thu, với lại dân ở biên giới thiếu gì băng, đĩa mà xuống đây mua, chỉ những người ở bản gần trong này mới xuống chợ mua thôi, ở dưới này phần nhiều là băng in lại từ đĩa". Đúng là người bán hàng khá thành thật bởi ở Mộc Châu, Mai Sơn, tôi cũng được nghe như vậy và cũng những người bán băng, đĩa hình cho biết thì chủ yếu là những băng phim tâm lý, tình cảm, không có phim chưởng hay phim "sex" bằng tiếng Mông. Một điều chắc chắn là những băng đĩa hình hiện đang lưu hành trong các bản người Mông ở khu vực biên giới đều được sản xuất ở nước ngoài như Mỹ, Thái Lan.
Nhu cầu văn hoá, văn nghệ của đồng bào dân tộc là một nhu cầu chính đáng được Nhà nước quan tâm. Trả lời cho những băn khoăn của tôi, ông Hờ May - Phó Chủ tịch huyện khẳng định: "Băng xấu thì phải cấm, nhưng không trách người Mông được, họ có gì xem đâu. Truyền hình à? Mỗi tuần phát hai lần băng tiếng Mông của đài tỉnh gửi cho có 20 phút thôi, dân cũng thích còn chương trình khác bằng tiếng phổ thông dân không hiểu, mà có phải bản nào cũng xem được truyền hình đâu". Ông Trần Nghị - Chủ tịch Hội đồng Nhân dân xã Chiềng Sơn cho biết hàng tháng xã có tổ công tác gồm công an, biên phòng, cán bộ xã đi tới các bản kiểm tra. Nói theo thành phố là "băng ngoài luồng phải tịch thu, dân họ cũng vui vẻ nộp không hề giấu giếm, nhưng hôm sau họ lại có".
Băng video, VCD hiện đang lưu hành ở các bản làng người Mông không chỉ có ở Sơn La, Lai Châu mà còn xuất hiện trong khu vực biên giới ở Nghệ An, Thanh Hoá, chúng ta chưa kiểm soát được. Cũng có thể ban đầu chỉ là những phim dựa vào truyện cổ tích của dân tộc Mông, những phim tâm lý phù hợp với nếp sống, cách nghĩ của đồng bào, sau đó mới xuất hiện những phim xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta theo đúng kịch bản diễn biến hoà bình của các thế lực phản động. Trong một số phim đã có những đoạn mở đầu như: "Nếu người Mông mình để mất văn hoá thì sẽ thành người Mông chín. Người Mông dù ở quốc gia nào cũng phải là người Mông sống, đừng là người Mông chín". Và biết đâu, trong những cuốn băng video, VCD sau đó có những chi tiết, những câu kích động hận thù gây chia rẽ dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết của chúng ta.
Có thể nói những băng, đĩa hình phim tiếng Mông hiện nay ở khu vực biên giới phía tây tiềm ẩn một lời cảnh báo, nếu chúng ta mất cảnh giác. Phải chăng đã đến lúc các cấp, các ngành có liên quan cần nghiên cứu, xem xét vấn đề này để có những biện pháp ngăn chặn kịp thời, tránh xảy ra những sự việc đáng tiếc như đã từng xảy ra ở một vài tỉnh Tây Nguyên. Lời cảnh báo từ biên giới nhắc chúng ta đừng để "cái nảy sẩy cái ung".
Có những phim mở đầu rằng: "Nếu người Mông mình để mất văn hoá thì sẽ thành người Mông chín. Người Mông ta dù sống ở quốc gia nào cũng phải là người Mông sống, đừng là người Mông chín...". Nhưng ai biết đâu nội dung trong những băng video, VCD sau đó...
Bản Hợp Tiến xã Huổi Một cách huyện lỵ Sông Mã (Sơn La) không xa lắm nhưng đường rất khó đi. Cả bản người Mông này chỉ có 60 hộ mà đã có 7 bộ video và VCD, bình quân 8 hộ có một bộ. Bản nằm cheo leo ven sườn núi thế này lấy đâu ra cửa hàng cho thuê băng, đĩa hình? Tôi hỏi ông trưởng bản điều đó. Ông trưởng bản Hồ Giống Của chỉ cho tôi thấy một chồng băng video và đĩa VCD ngay sát bộ đầu máy VCD. Với một giọng không giấu được niềm vui, ông nói "của người Mông mình đấy". Rồi ông lấy một đĩa VCD và bật máy cho tôi xem. Đây là một phim truyện, bối cảnh trong phim hoàn toàn là cảnh bản làng người Mông. Từ nhà, vườn cây trong phim không khác gì với những căn nhà, vườn cây ở những bản người Mông mà tôi đã đi qua, còn nhân vật trong phim nói gì thì tôi không hiểu vì nói bằng tiếng Mông và ăn mặc như người Mông. Thấy tôi chăm chú xem nhưng có vẻ không hiểu, cô gái người Mông đứng bên cạnh giải thích cho tôi bằng tiếng Kinh chưa thạo lắm: "Có một đôi trai gái yêu nhau, cô gái là người đẹp nhất bản. Khi đời thích thì con ma cũng thích - rồi cô cười - nhiều lắm, không kể hết được".
Băng, đĩa hình tiếng Mông, người Mông mua ở đâu, do đâu sản xuất? Trong một buổi chiều tôi vào cửa hàng bán và cho thuê băng, đĩa hình ở phố huyện Mộc Châu, như một khách hàng tìm mua băng. Chủ quán là một cô gái còn trẻ, đang bán hàng cho mấy thanh niên mà tôi chắc là người cùng phố vì họ gọi tên nhau. Thấy tôi hỏi mua băng phim tiếng Mông, cô trả lời vui vẻ "nhà em vừa hết, một hai hôm nữa mới có". Cô nói tiếp "hình ảnh của "nó" đẹp hơn của mình và phim của "nó" cũng hay". Rồi cô kể cho tôi một phim mà cô không nhớ tên, đại để là có một đôi trai gái yêu nhau nhưng bố mẹ cô gái không đồng ý nên mỗi lần đến chơi, anh chàng người yêu đều bị đuổi, trong khi đó có những chàng trai khác cũng yêu cô gái này. Kể xong, cô cười "em xem nhiều nên đoán thế thôi chứ phim toàn nói tiếng Mông, em cũng không hiểu".
Tháng 8.2002