TRƯỜNG HỢP THỤY KHUÊ: GIỌNG CA SAI NHỊP VÀ TRẬT SOL-FE

(Trích PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH)

Trần Nghi Hoàng

Bài này, tôi viết về một nhà phê bình : Thụy Khuệ Và ba nhà thơ: Lê Đạt, Nguyễn Đức Liêm, Tô Thùy Yên. Cả bốn người tôi đều không quen, nhưng có biết. Biết Thụy Khuê từ một số bài viết, đặc biệt là hai bài về thơ Lê Đạt. Biết Lê Đạt và Nguyễn Đức Liêm qua thi cạ Riêng Tô Thùy Yên, tôi biết qua... lời đồn. Tôi chỉ nhắc tới nhà-thơđân-tộc Tô Thùy Yên, nhân làm một so sánh về số lượng thơ với Lê Đạt. Nhưng tại sao Thụy Khuê, Lê Đạt lại có Nguyễn Đức Liêm can dự vàỏ Hẳn là nhiều người đọc tới đây đang đặt câu hỏi nàỵ Câu hỏi sẽ được tôi trả lời một cách nghiêm túc. Trước khi vào chính đề, tôi cần bàn sơ qua về một vài hội chứng Việt Nam, đây là một cần thiết. Tôi sẽ “bàn sơ về một vài”, vì tôi sẽ có một bài khác “bàn kỹ về những” hội chứng Việt Nam.

 A/ HỘI CHỨNG CÁCH MẠNG: Việt Nam là một trong vài dân tộc làm cách mạng (xin hiểu “cách mạng” thuần trong nghĩa “đổi mới") nhiều nhất thế giớị Cách mạng trên đẻ mọi bình diện. Từ lịch sử, chính trị, xã hội, tình cảm, văn chương, thi ca v.v... Nguyên do là vì tinh-thần-cách-mạng được sản sinh từ tinh-thần-nhươ.c-tiểụ Những dân tộc thiếu... tinh-thần-nhươ.c-tiểu, chẳng thể nào có tinh-thần-cách-ma.ng. Những dân tộc không có tinh-thần-cách-mạng này chỉ biết luôn nỗ lực vào sự tiến bộ và vững mạnh của quốc gia mình.

 Chú thích (1): Cứ đổi mới là được, là xong. Không cần biết sau khi đổi mới, sẽ “tốt hơn” hay “tệ hơn”. Thí dụ: Có một nhà thơ nào đó tôi quên tên, trên tạp chí Thơ đã kêu gào đại loại: “Thà làm thơ kiểu mới dở ẹt, hơn làm thơ kiểu cũ hay”! Lý thuyết này được một nhà phê bình khác là Nguyễn Hưng Quốc nhiệt liệt hưởng ứng và bảo vê..

 Chú thích (2): Tôi rất cổ võ những đổi mới (cách mạng?) trong văn học, nhưng phải đổi mới cùng lúc với tiến bộ, tức là phải hay hơn cái cũ. Lối thơ cắt dán chữ hình (tôi gọi là Thơ Thẻ Công) hoặc đánh computer một số chữ lớn chữ nhỏ khác size nhau, ngang dọc không cần nghĩa (Như Hạnh Nguyễn Tự Cường, đặt tên là loại thơ Khỉ Đánh Computer. Thật ra nhiều thi sĩ Mỹ đã mầy mò từ lâu... cho đỡ buồn, những lúc bế tắt trong sáng tạọ Chưa thấy một thi sĩ nào của Mỹ hoặc Âu Châu hay Phi Châu nổi tiếng và tồn tại nhờ mấy loại thơ nàỵ

 B/ HỘI CHỨNG CẤP TIẾN: Hơn một thập niên qua, văn học Việt Nam hải ngoại đã hồ hỡi mở rộng vòng tay với văn học Việt Nam trong nước. Một số người cầm bút trong nước cũng đã tỏ ra thân thiện, dễ dãi hơn với một số người cầm bút hải ngoạị Điều này, trên một khía cạnh nào đó, là dấu hiệu đáng mừng. Nhưng trên nhiều khía cạnh khác, lại rất đáng ngạị Đáng ngại cho cái gọi là văn-ho.c-hải-ngoại của Việt Nam.

 Bởi, sự dễ dãi, thân thiện hơn của giới cầm bút trong nước cũng chỉ nằm trong một khuôn mức, giới hạn rất qui đi.nh. Trong khi, một số trong giới cầm bút hải ngoại thì lại hết sức tận tụy trong việc khoa trương sự am hiểu của mình về những khám phá, cách tân của văn học trong nước. Cùng lúc với sự tận tụy này, là cơ hội để họ khoa trương thái độ cởi mở, kiến thức và sự thông thái trong việc thẩm định văn học của mình. Theo tôi, đây là một căn bệnh chung của khá đông trí thức miền Nam trước 75 đã được mang theo trên đường tha phương và được bảo tồn, phát triển ngày càng vững mạnh ở hải ngoạị Căn bệnh này tôi đặt tên là hô.i-chứng-cấp-tiến. Những người mang hô.i-chứng-cấp-tiến rất dễ dãi, bao dung và có khi hết sức tôn sùng “phía bên kia”. Trước năm 75, những trí thức mang hô.i-chứng-cấp-tiến gồm nhiều nhà hoạt động chính trị hay văn hóa sống ở miền Nam, nhưng khoái ca ngợi miền Bắc (đừng cho rằng tôi chụp mũ họ là cộng sản, tôi không có ý này). Sau 75, những người mang hô.i-chứng-cấp-tiến ở hải ngoại luôn chứng tỏ sự hiểu biết và đồng cảm của mình về những biến động chính trị hoặc văn hóa xảy ra trong nước. Ngược lại, họ rất vô tình, lãnh đạm với những gì ở hải ngoạị Và họ hân hoan tự ca ngợi mình là những trí-thức-thờiđdại đúng nghĩạ Thậm chí, lắm khi họ còn có thái độ phẻ nhận những tài năng cùng đang sống ngoài Việt Nam như ho.. Thụy Khuê cũng lại là một đại biểu sáng giá cho những người bị hô.i-chứng-cấp-tiến.

 **

 THỤY KHUÊ: GIỌNG CA SAI NHỊP VÀ TRẬT SOL-FE

 Viết về tập thơ Bóng Chữ của Lê Đạt, Thụy Khuê mở đầu: “Tập thơ Bóng Chữ của Lê Đạt do nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 1994 gồm 138 bài thơ, sáng tác trong khoaœng thời gian trên 30 năm. Tác phẩm cuœa một đời người và người đọc cũng không thể một sớm một chiều hiểu hết được."1

 Thứ nhất, thi ca là để cảm nhận chứ không phải để hiểụ Và hiểu hay không hiểu thơ của Lê Đạt, thì cũng đâu có đi tới cái thế giới nào khấm khá hơn trái đất này! Thứ hai, 30 năm tận lực lao động, sáng chế ra 138 bài thơ, thì quả tài năng Lê Đạt cũng chẳng hơn được nhà-thơđân-tộc Tô Thùy Yên miền Nam là bao nhiêụ Tô Thùy Yên làm thơ gần 40 năm, tuyển tới tuyển lui được 37 bàị (Nói là Thơ Tuyển, nhưng dường như ngoài 37 bài trong tập, cam đoan ngay tác giả cũng không thể nhớ mình có làm được bài nào khác từ thứ 38 trở lên?) Tuy nhiên, nếu tính từng bài thì, trung bình mỗi bài thơ của nhà-thơđân-tộc có dài hơn mỗi bài của nhà-thơ-cách-mạng về số lượng câu và chữ.

 **

 Nhưng cuối cùng, tôi phát hiện ra vài sự thật đáng giá, chứng minh rằng về số lượng, thơ Lê Đạt hơn thơ Tô Thùy Yên rất nhiềụ

 Trong bài Đỗ Kh. phỏng vấn Lê Đạt2, Lê Đạt nói “Bóng Chữ là một cố gắng lần mò trong gần 20 năm.”

 Thụy Khuê nhất định tăng hơn 10 năm để cho công phu tác giả và trọng lượng tập thơ thêm phần vĩ đại!

 Gần 20 năm để sáng tác 138 bài thơ! Điều này như có gì không ổn. Tài năng một kiện tướng Nhân Văn Giai Phẩm chỉ vậy thôi saỏ Trong Nhà Văn Hiện Đại, do Hội Nhà Văn Việt Nam ấn hành năm 1992 (có hình ảnh từng nhà văn kèm theo cẩn thận), tôi đọc thấy tiểu sử một ông Lê Đạt: “Tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10-9-1929. Quê ở Á Lữ, Bắc Giang. Công tác ơœ Hội (tức Hội Nhà Văn) từ 1952-1962. Hiện sống ở Hà Nộị

 Đã xuất bản: Bài Thơ Trên Ghế Đá (in chung với Vĩnh Mai - 1958), 36 Bài Thơ Tình (in chung với Dương Tường 1990), Thơ Lê Đạt Sao Mai (in chung với Sao Mai 1991), Bác Hồ (trường ca - 1990)."3

 Như vậy, số lượng sáng tác của nhà-thơ-cách-mạng Lê Đạt và nhà -thơ-quốc-gia Tô Thùy Yên chênh lệch khá... trầm trọng! Chỉ riêng tập Bác Hồ, chưa bàn tới nội dung, cái tên tác phẩm kèm theo hai chữ Trường Ca đã thấy Lê Đạt ăn đứt Tô Thùy Yên một bậc! Tô Thùy Yên nổi tiếng làm nhiều bài thơ dài, nhưng chưa nghe nói có bài nào là trường ca cả!

 Chú thích: Cấu Trúc Thơ có bài Thụy Khuê viết về Bóng Chữ Lê Đạt in năm 1995, Tạp Chí Thơ có bài Đỗ Kh. phỏng vấn Lê Đạt in năm 1998. Nếu đọc hai bài nói trên và chú ý đến thời gian tính trước sau, chúng ta có thể thấy những câu trả lời phỏng vấn của Lê Đạt “ảnh hưởng” rất nhiều từ bài viết mớm ý của Thụy Khuệ

 Thì ra, Thụy Khuê đã cố tình lờ đi những tác phẩm khác cuœa Lê Đạt, cũng chỉ với mục đích muốn lấy cái Bóng Chữ mịt mù kia mà đè lên nền thi ca Việt hiện đại và tự thỏa mãn những mục đích thầm kín của mình. 36 Bài Thơ Tình, Thơ Lê Đạt Sao Mai và nhất là Trường Ca Bác Hồ (mà tôi chắc nhiều người hết sức muốn được đọc), đã xuất hiện trước Bóng Chữ và trong thời gian gần 20 năm “mầy mò” đó chứ! Một thi sĩ chịu “mầy mò” làm nguyên cái Trường Thi ca ngợi lãnh tụ, thì hẳn nhiên là phải có tài!

 Trường Ca Bác Hồ tôi không có trong taỵ Thôi thì, chúng ta thử tìm hiểu cái tài của Lê Đạt qua Thụy Khuê với Bóng Chữ và Ngó Lời, tập thơ theo sau Bóng Chữ. Đồng thời, tôi cũng sẽ giới thiệu một kiện tướng của dòng thơ Thụy Khuê đặt tên là Thơ Tạo Sinh: Thi sĩ Nguyễn Đức Liêm. Một thi sĩ mà theo tôi, mới đúng là người đầu tiên khởi xướng dòng Thơ Tạo Sinh, một thi sĩ từ lâu bị giới văn học hải ngoại bỏ quên vì tinh thần bè phái và cái Hô.i-Chứng-Cấp-Tiến.

 Tôi sẽ làm công việc đem thơ Nguyễn Đức Liêm để cạnh thơ Lê Đạt.

 Chú thích: Nguyễn Đức Liêm là tác giả Thủy Mặc, 1984; Của Những Vuông Tròn, 1992; Sấm Huyền Hồng, 1994 và tập thơ duy nhất mà tôi có trong tay, do mượn từ một người bạn: Ở Tuổi Không Có Đâu, 1997.

 *

NHỮNG CƠN SAY THƠ LÊ ĐẠT CỦA THỤY KHUÊ

 Thụy Khuê viết tiếp, định nghĩa Bóng Chữ: “Bóng Chữ nằm trong dòng thơ hiện đại của thế kỷ này, mà chúng tôi tạm gọi là Thơ Tạo Sinh, mới trong quan niệm cũ, khác với thơ chữ tự do bị lạm dụng đã nhiềụ Tạo trong nghĩa sáng tạo, sinh trong nghĩa sinh ra, sinh sôi, nẩy nở, phức âm, đa tầng, đa nghĩa và đa ngã."4

 Ở một phần sau, Thụy Khuê khai triển tan hoang sự thông hiểu của mình về thơ Lê Đạt:

 “-Tạo hình bằng tính chất đa ngã của chữ.

 - Tạo hình bằng cách ngắt chữ, cắt câu, gián đoạn mạch chữ, mạch văn.

 - Tạo hình bằng cách chuyển động mạch văn, chối bỏ sự ngắt câu cố định, chuyển sang cách ngắt câu bất định

 - Tạo hình bằng tính cách đối hình, đảo ngữ và nói lái trong ngôn ngữ Việt. Và trên tất cả, Bóng Chữ mang tính chất hồn nhiên, thơ dại, nói đúng ra là ngây ngô, trong ý nghĩa naif hội họa, của một người:

 Ngây ngô quên hết lối về già.5

 Dường như, thỉnh thoảng Thụy Khuê cũng có viết phê bình cả về Hội Họạ (Tội nghiệp thay cho giới nghệ sĩ tạo hình). Nhưng nếu như những gì Thụy Khuê vừa công bố về kỹ thuật thơ của Lê Đạt, thì làm thế nào Bóng Chữ có được tính chất hồn nhiên thơ dại, ngây ngô trong ý nghĩa naif hội họa được? Những kỹ thuật trên quá cầu kỳ và nhiêu khệ Hồn nhiên, thơ dại và ngây ngô không xuất hiện ở những gì cầu kỳ và nhiêu khệ

 Câu thơ “Ngây ngô quên hết lối về già” chỉ gợi cho tôi nhớ câu “Trẻ khôn qua, già lú lại” hoặc “Người quá già sẽ biến thành trẻ thơ” nhưng cũng chỉ là một ông già trẻ thợ Còn cách làm thơ đối hình, đảo ngữ và nói lái thì trước Lê Đạt, đã có quá nhiều ngườị Với những kỹ thuật mà Thụy Khuê cho là khám phá mới của Lê Đạt, tôi đã đọc thấy đầy dẫy từ lâu:

 - Đối hình, ngay cả đối chữ trong ca dao Việt Nam đã có:

 Loan ôm lấy Phụng, phụng bồng lấy loan.

 Và trong Đường thi thì nhiều không kể xiết. Với Nguyễn Đức Liêm, chẳng những đối hình, đối chữ, mà còn đối ý, lộng ý một cách rất ngoạn mục:

 Đột nhiên nàng cầm dao

đâm vào tim tôi tới tấp

Tôi tránh được

Tôi không được tránh

.....

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 32)

 Nàng đâm tới tấp. Nguyễn Đức Liêm tránh được nhưng không được phép tránh. Hay Nguyễn Đức Liêm được tránh không hay tránh được không? Câu hỏi này sẽ trùng điệp đặt ra nghìn câu hỏi khác cho tới khi mình mẩy đã nát bấy máu me... mà vẫn chưa có câu trả lời!

 - Đảo ngữ: Thời lớp nhất, tôi và các bạn đã chơi đùa chữ nghĩa với nhau:

 Thày giáo tháo giày vấy đất vất đấy, Biệt thự bự thiệt.. v.v...

 - Nói lái: Trong Bóng Chữ, Lê Đạt viết câu:

 Chiều Âu Lâu

bóng chữ động chân cầu

(Bóng Chữ, không thấy ghi số trang)

 Thụy Khuê run rẩy tán: “Ở đây, bóng chữ hay bóng em vụt thoáng qua trong chữ động (Cá đâu đớp động dưới chân bèo, Nguyễn Khuyến) và vụt biến đi trong chữ ‘bóng’. Nhưng nếu đọc lái hai chữ ‘chân cầu’ bằng giọng Bắc thành ‘câu chần’ thì câu thơ trở thành:

 Bóng chữ động câu trần

 lại mở ra một thực tại khác vô cùng đắm say và thơ mộng giữa hai thực thể chữ và câụ"6

 Thụy Khuê hổn hển kết luận:

 “Bóng chữ chao đảo giữa mộng và thực, giữa tục và thanh, giữa người và ảnh, giữa phôi pha và vĩnh cửụ"7

Điều quan trọng, sau khi nói lái hai chữ ‘chân cầu’ thành ra ‘câu chần' với giọng Bắc là ‘câu trần’, Thụy Khuê cũng chẳng thông dịch được hai chữ ‘câu trần’ ý nghĩa ra làm sao mà lại: “... mở ra một thực tại khác vô cùng đắm say và thơ mộng giữa thực thể chữ và câụ”

 Để giúp Thụy Khuê, tôi dĩ nhiên phải tìm cách giảng hai chữ ‘câu trần’ vô duyên... Và tôi bắt buộc giảng bằng tâm thức Thụy Khuê để Thụy Khuê có thể hiểu dễ dàng:

 Lê Đạt dùng “Bóng Chữ” để “câu”... cá hay gì đó! Động từ “câu” xuất hiện rất thần tình sau khi Thụy Khuê nói lái hai chữ “chân cầu” thành “câu trần”. Ở đây cho thấy Lê Đạt là một ngư ông có tài (hơn cái tài làm thơ của ông rất xa), Lê Đạt đã dùng lưỡi câu móc tung hết quần áo, khiến “con cá” bị “lột trần”. “Câu trần” là lối dùng chữ “tắt” đa ngã, đa nghĩa, đa tình kỳ tuyệt của Lê Đạt mà Thụy Khuê tuyệt đối ngưỡng mô.. Tuy nhiên, vẫn còn một công án cần được giải thích. Loài cá không biết mặc quần áo thì làm sao có sự vụ ở trần? Vậy, xem ra Lê Đạt không câu cá mà câu người, vì chỉ loài người mới biết mặc quần áọ Nhưng cái ẩn mật trong thơ Lê Đạt là ông muốn “câu ai” và đã câu “được ai”. Điều ẩn mật này sẽ có đáp án sau khi chúng ta thấy ai đó bị “lột trần” vì thơ Lê Đạt. Và từ đó, từ sau khi thơ Lê Đạt đã “lột trần” được đương sự rồi, thì “lại mở ra một thực tại khác vô cùng đắm say và thơ mộng giữa chữ và câụ” Và đó cũng là cái chao đaœo giữa mộng và thực của người bị “lột trần”.

 Tôi đã tự dẹp bỏ trí tuệ của mình để giảng thơ Lê Đạt theo kiểu Thụy Khuê giùm Thụy Khuệ Tôi không đòi hỏi một sự đền ơn đáp nghĩa nào ngoại trừ một yêu cầu: “Thụy Khuê nên ngưng viết phê bình... bá láp.”

 Với loại thơ nói lái hay chơi chữ này nọ, tôi có thể giới thiệu cho Thụy Khuê một số đại danh gia để Thụy Khuê mở rộng kiến thức:

 Ông Thảo Am Nguyễn Khoa Vi ở thôn Vĩ Dạ là một cao thủ về loại thơ nói láị Ông để lại nhiều bài rất ngộ nghĩnh, và đối với ông chỉ là “chơi cho vui”. Một bài điển hình:

 Cầu đạo nên chi phải cạo đầu,

Dầu lai dưa muối cũng dài lâụ

Na bường bát tới nương bà vãi,

Dầu sãi không tu cũng giải sầu!8

 Ngoài ra, Bùi Giáng cũng là thi sĩ cừ khôi về nói lái:

 Thưa rằng gió núi dồn làn...

 Và, tôi xin nhại Bùi Giáng, tiếp:

 Lá hoa cồn có dặm ngàn phôi phai...

 Trong bài viết về Ngó Lời, một tập thơ khác sau Bóng Chữ, Thụy Khuê mang từng hai câu thơ của Lê Đạt ra tụng:

 Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải

Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay

(Phả Lại, Ngó Lời, trang 18)

 Thụy Khuê: “Hai câu 8 chữ, tổng cộng 16 chữ. Trong 16 chữ này không có chữ nào bóng bẩy, không có chữ sang, chữ diện, toàn những chữ tầm thường mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ ngõ ngách nghèo nàn nào trong chợ chữ. Nhưng nếu thử vài động tác chuyển hoán vị trí của chúng trong câu:

 Vườn lá răm gió bay mùa hoa cải

Bóng ngày phả lại nắng mắt cay"9

 Bằng cách đọc “tâm thần” của Thụy Khuê, ta thử đọc hai câu thơ Nguyễn Đức Liêm:

 nữu ước hoàng hôn liên tưởng

bình minh cựu ước

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 80)

 hoán vị chữ để chuyển nghĩa:

 tưởng

nữu ước bình minh

hoàng hôn liên

cựu ước

 Chẳng những nói lái từng hai hay ba chữ, hay đảo lộn thứ tự của con chữ trong thơ làm thành những câu thơ khác, tôi xin mở rộng tầm mắt cho Thụy Khuê và những người đang cố gắng làm mới chữ nghĩa bằng lối thơ đọc nhiều cách. Tôi sẽ đưa ra một loại thơ có thể đọc ngược đọc xuôi, đọc ngang đọc dọc thế nào cũng được, mà lại có ý nghĩa đàng hoàng. Kỹ thuật thơ loại này đã có từ rất lâu, theo tôi thì nó được phát minh bởi những ông đồ nho gật gù chơi chữ. Bài thơ tác giả vô danh dưới đây có 8 cách đọc căn bản:

 Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời

Thú vui thơ rượu chén đầy vơi

Hoa cài dậu trúc cành xanh biếc

Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi

Qua lại khách chờ sông lặng sóng

Ngược xuôi thuyền đậu bến đông người

Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng

Tha thướt bóng ai mắt mỉm cườị 10

 Cách thứ hai đọc: (ở những cách đọc khác này, tôi chỉ chép hai câu làm thí dụ)

 Cười mỉm mắt ai bóng thiết tha

Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa...

 Cách đọc thứ ba là bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu, vẫn đọc xuôi thành thơ 5 chữ:

 Cảnh xuân ánh sáng ngời

Thơ rượu chén đầy vơi...

 Cách thứ 4 bỏ hai chữ cuối ở mỗi câu, và đọc ngược thành thơ 5 chữ:

 Mắt ai bóng thướt tha

Đàn hát tiếng ngân xa...

 Cách thứ 5, bỏ 3 chữ đầu ở mỗi câu, vẫn đọc ngược, thành thơ 4 chữ:

 Cười mỉm mắt ai

Bổng trầm đàn hát...

 Cách thứ 6 bỏ 3 chữ cuối ơœ mỗi câu, đọc xuôi:

 Ta mến cảnh xuân

Thú vui thơ rượu...

 Cách thứ 7 bỏ 4 chữ đầu mỗi câu, đọc xuôi:

 Ánh sáng ngời

Chén đầy vơi...

 Cách thứ 8 bỏ 4 chữ cuối mỗi câu, đọc ngược:

 Bóng thướt tha

Tiếng ngân xa...

 Cách đọc thứ 9 của Phù Dung, tác giả bài viết là góp nhặt hai câu chính với các biến thái:

 Qua lại khách chờ sông lặng sóng

Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người

Khách chờ sông lặng sóng....

 Dường như đây là loại thơ với nhiều cách đọc mà những nhà thơ tự nhận là “hiện đại” và “cách mạng” đang cố truyền bá khuếch trương! Cách này cũ mèm rồị Bài thơ trên tôi chép tặng, để mấy nhà thơ “hiện đại” và “cách mạng” lấy làm tiêu chuẩn học tập.

 **

 Để nói về chữ Dê trong thơ Lê Đạt, Thụy Khuê lắc lư viết:

 “Chữ dê gợi những âm đồng nghĩa: dê, dâm, dương, mà còn gợi những âm khác nghĩa: như dương trong thái dương, như dần trong canh dần, như dân trong quốc dân, hay Quốc và dân... Ông cụ chăn dê hình như còn là người chăn chữ:

 “Ơ những con A con B con C

con Dê

bản trong trắng thảo thơm”

(Bóng Chữ trang 60)

 Với cái đà xoay mòng này, Thụy Khuê sẽ còn dẫn người ta đi tới đâu bằng Bóng Chữ Lê Đạt?

 Bằng những con chữ A, B, C, D... Thảo Am Nguyễn Khoa Vi đã chơi giỡn dí dỏm hơn Lê Đạt biết bao nhiêu:

 A Di Đà Phật muốn qui thuyền,

B bết lòng tham hãy cứ nguyên,

C xích cho gần nơi cửa tịnh,

Đ đầu nguyện dứt mối trần duyên.11

 Chữ Đ trong thơ Nguyễn Đức Liêm lại bay lộng lên một vùng trời khác:

 Người bước vào

ôm con chó nhỏ

Trong mõm chó không có ngà voi

người và chó

vẫn tâm đầu ý hợp

 

Người bước ra

bỏ người ở lại

sau khi hình như đã

đê em mờ nhau

cứ loạn cả lên.

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 68)

 Con chó bỗng chốc nhắc tới con voị “Trong mõm chó, sao mọc được ngà voi”. Tuy nhiên, người và chó vẫn ý hợp tâm đầu mặc dầu mõm chó không mọc được ngà voị Người bước vào là thế. Vậy khi người bước rạ Người bước ra bỏ người ở lại hay người ở lại bỏ người bước rạ Nào ai biết chắc! Có điều, mọi chuyện đã “y du hi” sau khi cả hai kẻ ở người đi đều đã “đê em mờ” nhau loạn cả lên rồi! Chữ “Đê” để mở ra, mở ra “em” và chữ “mờ” hư ảo khép lại!

 THƠ TẠO SINH:

 NGUYỄN ĐỨC LIÊM GIẢI ĐỘC LÊ ĐẠT

 Trở lại với Ngõ Lời, Thụy Khuê đọc hai câu thơ của Lê Đạt:

 Trang thiên thanh ấp xanh mùa cốm biếc

Thư ủ tình thu ép biếc hơi hương

(Thư Xưa, trang 49)

 rồi ngâm nga cung cách rất Thụy Khuê:

 “không chỉ có một kiếp sống, mà chúng có thể có những kiếp sống khác, tùy theo sức tạo sinh của người đọc:

 Trang thư ủ tình xanh mùa cốm biếc

Áo thiên thanh xanh ép biếc hơi hương

 hay

 Biếc trang tình ép thu xanh mùa cốm

Tiếc hơi hương ủ ấp thu thiên thanh

 Bằng cách của Thụy Khuê, tôi lại đọc hai câu thơ trích Nguyễn Đức Liêm, chúng ta sẽ thấy tính chất Tạo Sinh trong thơ họ Nguyễn mãnh liệt và sâu sắc hơn thơ họ Lê:

 Như hạnh phúc bắt nguồn từ so sánh

tôi đêm nay bày đặt uống hơn tôi

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 72)

 có thể đọc:

 uống hơn tôỉ bắt nguồn từ so sánh

như đêm nay, bày đặt hạnh phúc tôi

 hoặc:

 tôi hạnh phúc như đêm nay so sánh

bắt nguồn từ bày đặt uống hơn tôi

 Nhận định một cách công bình, thơ Lê Đạt trước khi bị Thụy Khuê cưỡng bức thô bạo, cũng có vài câu ngộ nghĩnh, đọc vui vuị Chính Thụy Khuê đã dầy vò thơ Lê Đạt. Thụy Khuê viết:

 “Về mặt ngữ căn và triết lý, ba bài thơ trên có sự tư thông giữa người và vật như người và ngựa, ngựa và mộc; chúng là chân dung phác thảo những kiếp người-ngựa, ngư.a-người, mà cũng là chân dung gỗ, chân dung ngựa gỗ, đánh số hoặc không đánh số...."12

 Tôi có thể tưởng tượng ra hoạt cảnh lúc Lê Đạt đọc bài viết của Thụy Khuê về thơ của ông, tới đoạn trên, Lê Đạt bỗng râu tóc dựng ngược la lớn:

 “Mẹ kiếp, cái thằng cha Thụy Khuê bố láo! (Thụy Khuê đã từng được Dương Thu Hương gọi bằng Ông!) Thơ của tôi mà hắn ta giảng thế nào đọc một lúc tôi rối cả đầụ Hóa ra hắn còn hiểu thơ tôi hơn cả tôi nữa... Làm gì có mấy cái sự cố bệnh hoạn kỳ cục tư thông giữa người và vật.... Cái bọn Việt kiều ở ngoại quốc nó vô luân thật!”

 Chưa hết, Thụy Khuê còn là một thứ bệnh cấp tính nguy hiểm, nếu luận theo giọng mấy anh bác sĩ cộng sản thì phải như sau: “Con bệnh này, theo tôi thì rất có nhiều khả năng chết lắm!” Tôi dù có muốn lý lẽ với mấy anh bác sĩ cộng sản tí chút, cũng đành gật gù theo: “Tôi... thôi thì nhất trí với các ông!”...

Không nhất trí cũng chẳng xong, khi Thụy Khuê thản nhiên cho người dân “đốt pháo ăn mừng đê vỡ":

 “Đê Đồng Lão vỡ, nước vỡ bờ, người ta đốt pháo mừng tuổi nước, mừng ngôi sao mới ra đời, huyền thoại kéo dài cho tới điềm Đại Mùa Thắng Xuân:

 Mười chín... tám

Thì reo

Rồi ùng ục

Rễ nước đại thụ

từ sơ địa

mịt mù dã sử

phun sáng ngần

Đêm pháo hoa mừng tuổi nước

Một ngôi sao mới lớn

(Lê Đạt, Bóng Chữ, không ghi số trang)

 

Thụy Khuê đã nảy ở đâu ra hình ảnh người ta đốt pháo mừng đê vỡ và đưa tới điềm Đại Mùa Thắng Xuân? Đại Mùa Thắng Xuân hay Đại Thắng Mùa Xuân.... Thụy Khuê muốn nói gì bằng thơ Lê Đạt? Tới đây thì tôi chịu... là không thể hạ thấp trí thông minh theo tầm cỡ Thụy Khuê để hiểu thơ Lê Đạt. Xin mời quý bạn cùng đọc thơ Nguyễn Đức Liêm để chúng ta lấy lại thăng bằng:

Gió

công kênh biển lên ngang hàng quán rượu

Bụi nước mặn

phất vào mặt phới vào lòng

xin những bước chân hãy khoan dung

cho soœi nói sõi giọng đời lạo xạo

Duyên hải ì ầm phương tây trắng

hợp thức hóa vàng đen đỏ

thành một thứ hai trăm năm

muốn ăn trọn đông đoàị

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 62)

 Trong khi Thụy Khuê đè Lê Đạt ra bắt tư thông với súc vật, Nguyễn Đức Liêm vô cùng thơ mộng và nhân baœn với những thấp thoáng cuœa triết lý Phật giáo:

 xin những bước chân hãy khoan dung

cho sỏi nói sõi giọng đời lạo xạo

 để:

 hợp thức hóa vàng đen đoœ

 thành một thứ hai trăm năm

nuốt ăn trọn đông đoài

 Thụy Khuê say thơ Lê Đạt cùng lúc với ngây chữ: “Mà cũng có thể là chân dung anh Cả, anh Kế, anh Ké, có công cải cỏ nương Voi (xem thơ Voi của Tố Hữụ Voi là đại bác) thích món... giả hùm “phập phồng một vị riềng quê”, ưa trò đồ mi, nói như Xuân Hương gọi là “cắm giếng":

 Ông cắm giếng

Cồn đất múp

Sừng gái mười bẩy

Đào lút hai vầu cột cờ

 Mà cũng có thể chỉ là một chuyện bạch đàn. Một lịch sưœ mười năm trồng câỵ Trăm năm trồng ngườị”

 Chuyện gái mười bẩy bẽ gãy sừng trâu, sao dưng lại dính dáng tới chuyện mười năm trồng người, trăm năm trồng câỷ Nếu không phải là Thụy Khuê đã dùng thơ Lê Đạt để ngợi ca chủ trương của họ Hồ... Trường Ca Bác Hồ của Lê Đạt xem như mất điểm... Thơ, và bị thêm cái điểm oan ương Thụy Khuê đã đem vào thơ Tạo Sinh Lê Đạt... Đâu tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm? Đâu người trí thức bị chế độ bỏ tù vì tội đòi tự do tư tưởng và sáng tạỏ... Chỉ thấy đây là kẻ ca ngợi Đại Thắng Mùa Xuân, cho con người đốt pháo mừng thiên tai và vinh danh thuyết trồng cây trồng người một cách ngang nhiên ngu xuẩn... để kết đời trong Trường Ca xưng tụng Bác.

 Thơ Nguyễn Đức Liêm đành phaœi ra tay hiệp sĩ, sống với câu:

 “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả,

Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”.

 Thơ Nguyễn Đức Liêm cố giải cứu thơ Lê Đạt, người bạn đồng môn của phái Tạo Sinh:

 Tôi đáng nhẽ

vẫn nằm nguyên trong gió

nhân thế gọi là

yên giấc nghìn thu

vì đã hiểu được đàn bà

là hiểu được

không thể nào hiểu được

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 33)

 Đã là nữ nhân thì dù con gái hay đàn bà, mười bẩy bẻ gãy sừng trâu thì hai mươi bảy bẻ gãy sừng tê giác, ba mươi bảy bẻ gãy sừng... khuœng long... Vì thế, cho nên hiểu được đàn bà là hiểu được không thể nào hiểu được...

 Tôi có bài thơ nhỏ, xin chia sẻ cùng Nguyễn Đức Liêm:

 em đàn bà cũng đẹp như con gái

đàn bà con gái hiền như trái cây

trái cây chua, ngọt, tím, vàng, xanh, đoœ

có trái ăn ngon ngộ độc không hay

(Trần Nghi Hoàng, Anh Có Thực Sự Muốn Thành Một Bồ Tát? Văn Uyển xuất bản 1990)

 Thụy Khuê không còn có thể ngừng được trong thơ Lê Đạt:

 “Bóng Chữ còn tạo hình nhờ cận ảnh (gros plan) bằng cách đẩy vào giữa mạch câu thơ một âm thanh xa lạ, khác hẳn với nhịp câu:

 Từng thớ thịt anh sống em trọn hẹn

chỉ bóng anh

ò e

xe Văn Điển

(Lê Đạt, Bóng Chữ, trang 23)

 lại Thụy Khuê: ”...chiếu gros plan lên âm thanh “ơ hô” gợi hình ảnh khỏa thân:

 Ơi em rất ô

Ơi em rất hồ

Trắng vỗ ồ hô trúc bạch

Bước động ngày thon róc rách

(Bóng Chữ, trang 28)

 Nguyễn Đức Liêm vẫn nhàn nhã một cách mãnh liệt với thơ, với Em tên gì đó, với đam mê cạn cùng hơi thở:

 Đố loan biết

điệu tôi xuân gì đó

 Tôi đang buồn mưa đấy

uyên ơi

 Thơ không chấm hết

giữa đường chim cánh mỏi

 Hốt hoảng yêu

Bình tĩnh đếm xong đời

( Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 14)

 Nguyễn Đức Liêm cà tửng với thi ca, với cuộc đời:

 Cầm chiếc đầu lâu mân mó mãi

Mà tu bi o nót tu bi

Uy Liêm hỏi Đức Liêm không hỏi

Thánh Thán cho rằng hãy sống đi

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 15)

 Uy Liêm nào đâỷ Có phải William Shakespeare hay Uy Liêm Hỏỉ Dù cớ sự gì thì Đức Liêm cũng không thèm hỏị Đâu cần ò e hay ồ hô, vì tu bi hay nót tu bi cũng là bí ẩn không nói được của hiểu đàn bà là hiểu được không thể nào hiểu được.

 Thụy Khuê còn cho từ: ”... đôi mắt xanh, Lê Đạt tạo những biến cố khác nhau trong nồng độ, âm độ và sắc độ, pha trộn hội họa, thi ca và âm nhạc:

 Mắt xưa xanh

mưa mành

sương liễu song

 Mùa sang may

thu đánh ngải lông mày

(Bóng Chữ, trang 94)

 Có gì đâu, hãy nghe Nguyễn Đức Liêm múa cổ tích và hát huyền thoạị Nhưng lại là cổ tích và huyền thoại của một tương lai nhìn thấy:

 Ở phương nao có một người xanh tên thẳm

múa kỳ lân

buồn lung linh thú

hát phượng hề

sặc sỡ cô đơn

.....

Gió trong mắt

Bụi trên môi

Đêm còn trẻ quá

 

Này

tôi đi chân đất đá chân trời

Bất quá ngủ

Kệ

Suối vàng không quán trọ

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 12, 13)

 Trong cơn ngây ngất, Thụy Khuê từ thơ Lê Đạt bước lóng ngóng: “Bóng chữ còn làm mới cổ tích, đem cô Tấm lồng vào hồn thơ hiện đại:

 Anh rình / trắng nghìn trăng / nghiêng ngõ mộng

Bước thị thơm chân / chữ động em về

(Bóng Chữ, trang 82)

 

Anh rình chỉ để thấy trắng nghìn trăng rồi về nghiêng ngõ mộng thôi, thì dù chữ có động em cũng bỏ về là phải lắm!

 Nguyễn Đức Liêm không trần tục, chẳng làm dáng cao siêu mà chỉ ngông ngạo ngang nhiên:

 Thiên thu biết có còn mai mốt

Cưỡi ngựa lên từng thế kỷ chơi

(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 16)

 Thiên thu là hai chữ rất cũ, cũ đến nỗi sáọ Nhưng Nguyễn Đức Liêm cho đi sau thiên thu năm chữ biết có còn mai mốt thì câu thơ đột nhiên mới cả lời lẫn ý. Cưỡi ngựa, thế kỷ... là những chữ rất thường, chơi là chữ dung tục... Chen vào những chữ thường và dung tục đó, Nguyễn Đức Liêm cho lên từng... Lên từng, hai chữ đứng chen giữa đột nhiên sáng lên và làm sáng cả câu thơ... Từng là mỗi thế kyœ mà cũng là trăm triệu vô số những tầng lớp thế kỷ chồng chất lên nhaụ

 Thơ Tạo Sinh là như vậy! Là làm mới tư tưởng trong chữ và chữ trong tư tưởng. Tôi tin là Nguyễn Đức Liêm đã làm Thơ Tạo Sinh như một Bẩm Sinh. Không gượng ép, không mất... hai, ba mươi năm mầy mò và cũng không cần ngay cả người ta đặt tên cho trường phái thơ của mình là Thơ Tạo Sinh. Thôi thì, tôi xin trả ba chữ Thơ Tạo Sinh lại Thụy Khuê để dành cho Lê Đạt. Thơ Nguyễn Đức Liêm đã Tạo Sinh trước khi Thơ Tạo Sinh ra đời...

 Và cứ để cho Thụy Khuê trong cơn sướng ngất với thơ Lê Đạt, kết luận về Thơ Tạo Sinh:

 “Thơ Lê Đạt khó và tốị Tác giả niêm phong tác phẩm của mình bằng sự cô đọng chữ nghĩạ Nhưng đó là cái khó của sự tìm tòi khoa học, cái tối là ẩn số của bình minh, là sự niêm phong gạn lọc tư tưởng. Cho đến nay chúng ta chưa có một tác phẩm nào thể hiện sự thay đổi toàn diện trong phong cách thơ, từ bản sắc triết học, đến cấu trúc hình thức và nội dung như thế. Với Bóng Chữ thơ mới đã thực sự nhường ngôi cho một dòng thơ khác, Thơ Tạo Sinh hiện đại trong tinh thần khuynh đảo và tái sinh những giá trị cổ điển”.

 Thụy Khuê từng viết Bóng Chữ Lê Đạt mang tính chất naif của hội họạ Bây giờ, cũng lại Thụy Khuê kêu kên lên thơ Lê Đạt khó và tối! Tôi chỉ thấy thơ Lê Đạt ngây ngô ngọng nghịu! Bóng Chữ bắt đầu mịt mù khó và tối từ khi bị Thụy Khuê truyền cho chứng tâm thần, để mầy mò truy tìm cái bản sắc triết học vốn không có trong thơ Lê Đạt.

 Lần này, là một đề nghị chứ không còn là yêu cầu, của tôi, với Thụy Khuê: Thụy Khuê nên “về nguồn” bên Lê Đạt... Mua một căn nhà hay căn chòi bên cái nguồn nước của Lê Đạt. Thế là tiện cả đôi bề: Mỗi khi Lê Đạt hoàn tất một bài Thơ Tạo Sinh, hay chỉ cần ném ra một đống chữ, Thụy Khuê lại viết một cái manual cho bài thơ hay đống chữ đó, như kiểu manual cho người ta sử dụng nồi cơm điện National, để bảo đảm là những ai đọc thơ Lê Đạt sẽ hiểu được đúng ý Thụy Khuệ Đồng thời, để Thụy Khuê tiếp tục hưởng những cơn sướng ngất bằng Thơ Tạo Sinh của nhà-thơ-cách-mạng, tác giả Trường Ca Bác Hồ Lê Đạt.

 VA, ngày 13 tháng 9 năm 98

 CHÚ THÍCH:

 

1- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản, trang 220.

2- Đỗ Kh. Phỏng Vấn. Tạp chí Thơ số 12, 1998.

3- Hội Nhà Văn Việt Nam, Nhà Văn Hiện Đại 1992, trang 44 (A-59 Lê Đạt)

4+5- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản 1995, trang 222.

6+7- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản 1995, trang 236.

8- Hương Giang Thái Văn Kiểm, Tình Duyên Thôn Dã, trích từ Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn xuất bản 1997, trang 174.

9- Thụy Khuê, Cấu Trúc Cách Ly Trong Ngó Lời Của Lê Đạt, Tạp chí Thơ số 12, trang 71.

10- Phù Dung, Cảnh Xuân, Bài Thơ Lạ Từ Trong Nước, Tạp chí Văn Uyển Hè 1992, trang 41.

11- Hương Giang Thái Văn Kiểm, Tình Duyên Thôn Dã trích từ Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn xuất bản 1997, trang 174.

12- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản 1995, trang 225.


 

Học giả, học giẻ và học giở

Công Tử Hà Đông viết ở Rừng Phong

Tạp chí VĂN, Số 59, Tháng 11-2001, đăng bài "nói chuyện
với giáo sư Nguyễn Huệ Chị" Người hỏi chuyện là ông
Thượng Văn, Gíáo sư Nguyễn Huệ Chi là một người làm
văn hóa ở Hà Nội, Việt Nam, được Trung tâm William
Joiner, Trường Đại Học Massachuset, mời sang Hoa Kỳ để
thực hiện một dự án biên khảo về văn hóạ Dưới đây
là vài đoạn trích trong bài Nói Chuyện ấỵ

Nói chuyện với giáo sư Nguyễn Huệ Chị Tạp Chí VĂN. Số
59. Tháng 11, 2001. Trích:

Tên tuổi ông gắn liền với bộ sách Thơ Văn Lý Trần
khá nổi tiếng từ 40 năm nay, và đối với văn học hải
ngoại, ông đã có mặt trên tạp chí Hợp Lưu từ 8 năm
trước. Nhưng chúng ta chỉ thật sự được nghe nói đến
nhiều về ông kể từ khi William Joiner Center thuộc
trường đại học UMASS quyết định mời ông và một
người khác, ông Hoàng Ngọc Hiến, sang Hoa Kỳ tham gia một
chương trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam ở hải ngoạị

Hỏi: Đề tài nghiên cứu của anh tại William Joiner Center có
tên là gì?

Đáp: Vài nét khái lược về văn hoá cổ truyền của
người Việt qua cái nhìn của các tác giả Việt Nam hải
ngoạị(&)

Hỏi: Chương trình này kéo dài bao lâủ

Đáp: Chỉ kéo dài 6 tháng. Phạm vi cũng chỉ là một phần
mà thôi, một cái nhìn khái lược chứ không thể đi sâu
được.

Hỏi: Anh dự định sẽ viết bao nhiêu trang cho đề tàỉ

Đáp: Khả năng cho phép chỉ khoảng 30 đến 40 trang thôị
Tôi đã nói đây chỉ là khái lược.(&)

Hỏi: Anh nghĩ gì về phản ứng của người Việt ở hải
ngoại chống đối sự có mặt của anh Hoàng Ngọc Hiến và
anh trong chương trình của WJC?

Đáp: Theo tôi đấy không phải là phản ứng của mọi
người Việt mà chỉ là một thiểu số. Người đứng
đầu là ông Nguyễn Hữu Luyện. Tôi không biết rõ động
cơ đích thực của ông Luyện trong việc phản đối này,
nhưng nói rằng người trong nước không hiểu gì về
đời sống người Việt hải ngoại thì không thể viết
được là không hợp lý. Khi có một chương trình như
thế cần phải có cái nhìn từ nhiều phía, trong cũng như
ngoài nước, mới soi rọi ra được một mẫu số chung. WJC
muốn như thế nên đợt đầu đã tuyển hai người Mỹ và
hai chúng tôị Đợt hai sắp tới tôi nghe có 8 người:
một người ở Canada, một người ở Pháp, còn 8 người
ở Mỹ. Thế là WJC tương đối công bình chứ không có
cái nhìn thiên vi.. Thứ hai, theo tôi nghĩ, đâu phải cứ
người nào ở trong nước sang đây cũng có cái nhìn méo
mó về người Việt bên nàỵ Những người đã nghe theo
ông Nguyễ;n Hữu Luyện chống đối chúng tôi, chúng tôi
không muốn nghĩ xấu về ho.. Mỗi người có thể xuất
phát từ hoàn cảnh éo le nào đấy mà bày tỏ thái độ,
chẳng hạn trong gia đình có người vượt biên chẳng may
không đi đến, nỗi đau đó của họ tôi sao có thể thờ
ợ Khi ở xa nhìn nhau đôi khi ta tưởng có thể đánh nhau
được đấy nhưng đến gần thì saọ Thấy mặt mũi anh
này có khi cũng có thể nói dăm ba câụ Nói dăm ba câu lại
thấy có thể chơi nhau một tuần. Chơi nhau một tuần hóa
ra có thể chơi lâụ Tôi nghĩ chỗ đó là mẫu số chung
của người Việt. Chấp nhận sự khác nhau, trọng hoà hơn
trọng đồng, nét đặc sắc của văn hóa Việt là ở đó.
Ngưng trích.

Tôi trích đoạn hỏi đáp trên để bạn đọc có thể rộng
đường dư luận hơn về vụ Trung tâm William Joiner mời hai
người Hà Nội viết về văn hóa Việt Nam hiện đại ở
Hoa Kỳ. Chuyện tôi muốn nói hôm nay là chuyện sau đây:

Trích "Nói chuyện với Giáo sư Nguyễn Huệ Chị"

Hỏi: Còn câu chuyện đạo văn của ông cụ anh là học giả
Nguyễn Đổng Chỉ

Đáp: Năm 1956 ông cụ tôi viết cuốn Lược khảo về thần
thoại Việt Nam, sách bán rất chạy nên cùng trong năm ấy
nhà Văn sử địa in lạị Một số cuốn lọt vào miền Nam,
một học giả Sàigòn là H.T.M đã dựa hẳn vào đó để
soạn thành cuốn Việt Nam văn học toàn thự Năm 1958, trên
tờ Văn hóa nguyệt san, một học giả khác viết một bài
đối chiếu, chỉ rõ sự giống nhau như đúc giữa hai
quyển, và coi đây là một vụ đạo văn trắng trợn. Sau
đó còn có mấy ý kiến khác trên một vài tờ báo khác
nữạ Tôi không biết ông H.T.M. có trả lời công luận hay
không nhưng làm như vậy rõ ràng là không ổn. Cả hệ
thống thần thoại của người Việt được bố tôi dựng
lại theo 4 tầng: cõi trời, cõi nước, cõi non - nơi giao
tiếp giữa trời và người - cõi trần, với những tư
liệu ông tìm tòi cả một đời, là phát hiện của riêng
ông. Mượn lại nguyên xi cả hệ thống ấy và những tư
liệu ấy thì cần xin phép, cần chú thích minh bạch mới
là cách làm của người cầm bút tự tro.ng. Ngưng trích.

Một vụ ăn cắp văn trắng trợn, bất lương, trơ trẽn
đến không thể tưởng tượng được. Tôi không biết
quí bạn nghĩ sao về vụ trộm văn này, tôi thấy tôi nhục,
một cái nhục chung của tất cả những người viết Quốc
Gia Việt Nam Cộng Hòa, những người viết từ năm 1954 cho
đến bây giờ và mãi mãị Nhân vật H.T.M được nhắc
đến trên đây là Hoàng Trọng Miên. HTM không phải là học
giả, chữ "giả" ta có thể dùng cho HTM là giả hiệu, giả
mạo, giả trá. HTM là một thứ người tiêu bạc giả trong
Quốc Gia VNCH.

Từ năm 1954 đến năm 1975 thời gian đủ dài để cho
những người có tài trong Quốc gia VNCH vựợt lên khỏi
lớp người lục lục thường tài, xây dựng cho mình một
tên tuổi, người nào không nổi lên được là người vô
tàị Trong hai mươi năm ấy HTM không làm được gì đáng
kể ngoài việc ăn cắp nguyên gói tác phẩm của người
khác.

Vụ HTM ăn cắp văn được tố cáo trên tạp chí Văn Hóa
Nguyệt San ở Sàigòn năm 1959, sau khi HTM ấn hành quyển
sách với cái tên long trọng là Việt Nam Văn Học Toàn Thự
Năm xưa ấy, nhiều người biết vụ HTM, tác giả Việt Nam
Văn Học Toàn Thư, đạo văn, tức ăn cắp văn, của một
tác giả miền Bắc Việt Cộng, trong số có tôị Riêng
tôi, tôi nghe qua rồi bỏ. Chắc nhiều người Việt Quốc
gia VNCH thời ấy cũng có thái độ coi thường tất cả
mọi chuyện như tôi, thái độ ngu si coi tất cả những
việc không có lợi hay không gây thiệt hại gì cho mình
đều là chuyện không quan trọng, chuyện mình không cần
để ý. Theo tôi biết và theo trí nhớ của tôi, vụ tố
cáo HTM đạo văn xẩy ra ở Sàigòn 40 năm xưa như sau:

Năm 1959 quyển Việt Nam Văn Học Toàn Thư của Hoàng Trọng
Miên được in, bán. Tác phẩm biên khảo lớn, giá trị,
nghiêm túc, hơn ngàn trang, in thành hai tập, nhà in Kim Lai
in đẹp, sang, đắt giá nhất VNCH. Bìa sách đỏ, vẽ hình
rồng vàng kim nhũ long tro.ng. Năm 1959 quốc gia Việt Nam
Cộng Hòa mới thành lập được ba, bốn năm, đang trong
thời kỳ đứng chưa vững đã phải đấu tranh, thi đua
kịch liệt với nước Bắc Kỳ Việt Cô.ng. Về mọi mặt
chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc gia VNCH phải hơn, cùng
lắm là bằng, chứ không thể thua nước Bắc Kỳ Việt
Cộng tử thù. Việc xuất bản tác phẩm Việt Nam Văn Học
Toàn Thư -- VNVHTT -- là một thành tựu lớn của văn học
VNCH, một thắng lợi lớn về văn hóa chứng tỏ văn học
VNCH hơn hẳn văn hoá Bắc Kỳ Cộng Sản bê bối, èo uột,
một niềm tự hào của quốc gia VNCH. Bộ Thông Tin chính
phủ VNCH, ông Trần Chánh Thành làm bộ trưởng, bộ có
ông Đinh Sinh Pài -- một người có cái tên không giống
ai, một nhân vật ấm ớ hội tề có vẻ mù tịt về văn
hóa -- làm Vụ trưởng Văn Hóa, nắm vội tác phẩm VNVHTT,
quảng cáo rầm rộ, đề cao VNVHTT là thành quả văn học
sáng ngời của tạ

Nhưng than ôi.. Sự thực phũ phàng, nham nhở. Con Rồng
Vàng trên bìa sách VNVHTT của tác giả HTM thuộc loài Rồng
Lộn. Chỉ vài tháng sau ngày tác phẩm lớn VNVHTTT của "học
giẻ" Hoàng Trọng Miên, một tên khác là Hoàng Thu Đông, ra
đời, có tin toàn bộ VNVHTT là tác phẩm của một người
viết Bắc Kỳ Việt Cộng tên là Nguyễn Đổng Chị Học
giẻ HTM của Quốc Gia VNCH đã lấy nguyên tác phẩm của
người ta làm thành tác phẩm của mình. Nhiều người
không tin có chuyện ăn cắp tệ mạt quá đến như thế.
Không lẽ. Mặt mũi nào lấy tác phẩm của người làm của
mình? Làm sao có thể làm được chuyện ma tịt ấỷ Có
sự thù ghét, ghen ghét, bôi xấu, phá thối gì chăng? Nếu
có lấy chắc cũng lấy một ít tài liệu của người ta
thôi, đời nào có chuyện lấy cắp trọn một tác phẩm!

Uyên Thao kể về vụ học giẻ HTM ăn cắp như sau:

-- Năm ấy tao đọc VNVHTT, thấy sách giá trị, viết công
phụ Thế rồi một hôm tao đến văn phòng ông Thái Trắng,
ông ấy vẫn cho tao đọc những sách báo xuất bản ở Hà
Nội văn phòng ông ấy có. Hôm ấy ông ấy nói có một
số sách Hà Nội mới đến, chú đọc xem có gì lạ không.
Tao đọc và thấy quyển sách của Nguyễn Đổng Chi -- NĐC
-- có những bài y hệt những bài trong VNVHTT của Hoàng
Trọng Miên. Sách của NĐC in ở Hà Nội năm 1956, sách của
HTM in ở Sàigòn năm ấy là năm 1959. Tao viết vụ này trên
tạp chí Trình Bàỵ Vừa in được bài đầu thì Bộ Thông
Tin ra lệnh cấm không được đăng tiếp loạt bài đó.
Thế Phong nó đem toàn bộ tài liệu về viết trên tờ
Văn Hóa Nguyệt San. Văn hóa Nguyệt San là cơ quan ngôn
luận của The Asia Foundation -- Hội Nghiên Cứu Văn Hóa Á
Châu -- của Mỹ. Bộ Thông Tin không làm gì được Văn Hóa
Nguyệt San. Tùm lum lên ít lâu rồi cũng thôị Hoàng Trọng
Miên không nói năng gì cả. Ly kỳ nhất là có lời tố cáo
với bằng chứng đạo văn như thế, Bộ Thông Tin vẫn cứ
trao Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn biên
khảo, cho tác phẩm Việt Nam Văn Học Toàn Thư ăn cắp của
Hoàng Trọng Miên.

Trong bài phỏng vấn của báo Văn, ông Nguyễn Huệ Chi nói:
"..một học giả Sàigòn là H.T.M.." và: "..trên tờ Văn Hóa
nguyệt san, một học giả khác viết một bài đối
chiếu.." Là một phó thường dân VNCH và là một người
sinh sống 25 năm bằng nghề viết tiểu thuyết phóng tác
ở quốc gia VNCH, có quen biết chút chút hai nhân vật
được nhắc đến, tôi xín nói là tôi thấy, theo tôi, hai
nhân vật ấy không phải là học giả: Ông HTM là học giẻ,
ông Thiếu Phong, người phanh phui vụ lấy cắp, là học
giở. Ở nước tôi không ai gọi những người như hai ông
ấy là học giả.

Sau khi được Giải Thưởng Văn Học Toàn Quốc do Tổng
Thống Ngô Đình Diệm tặng, tác phẩm VNVHTT được trưng
bầy long trọng nguyên một tủ kính Nhà Sách Xuân Thu; trong
cả một tủ kính lớn chỉ có một quyển VNVHTTT. Rồi HTM
được chính phủ Đức mời sang dự đại hội văn hóa
quốc tế ở Đức. Không biết khi sang Đức, Pháp, bị
người ta đưa vào mặt quyển Lược Khảo Thần Thoại --
LKTT -- của Nguyễn Đổng Chi -- Sàigòn 1960 không có quyển
LKTT, ở Paris LKTT có thể dễ có, dễ kiếm -- học giẻ HTM
ăn làm sao, cãi làm sao..; chỉ biết sau năm 1961 HTM tỏ ra
thù ghét cao độ những ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu,
Ngô Đình Cẩn, bà Trần Lệ Xuân. Những năm 1967, 1968, HTM
viết truyện Đệ Nhất Phu Nhân đăng trên nhật báo
Quyết Tiến.

Đệ Nhất Phu Nhân -- ĐNPN -- truyện dài phơi-ơ-tông đăng
mỗi ngày nơi trang trong các nhật báo, một đặc sản của
làng báo Sàigòn chịu ảnh hưởng các báo Pháp khoảng cuối
thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Đăng báo xong ĐNPN được
xuất bản thành sách. Vượt biển theo những người Việt
VNCH chạy trốn Việt Cộng sang Mỹ, sau 1975 ĐNPN được in
lại ở Cali, Hoa Kỳ, in bằng cách chụp lại nguyên trang với
đủ các lỗi sắp chữ.

Tôi không đọc một dòng ĐNPN nào ở Sàigòn. Mới đây,
khi đọc bài phỏng vấn Nguyễn Huệ Chi trên nguyệt san
Văn, thấy cần víết về vụ đạo văn, tôi gửi mua bộ
Đệ Nhất Phu Nhân của Hoàng Trọng Miên ở nhà xuất bản
Đại Nam. Sách đến, tôi đọc vài trang, thấy tởm quá là
tởm.

Hoàng Trọng Miên đã tưởng tượng, đã dựng đứng lên
những chuyện về đời tư bà Trần Lệ Xuân, đã mạt
sát, mạ lỵ thẳng tay bà Trần Lệ Xuân và những ông Ngô
Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn.
Lối đem đời tư người có thật, nhiều người đang
sống, đang ở tù, những người chống Cộng, những nạn
nhân của cộng sản, ra viết thành tiểu thuyết với những
mạ lỵ, vu cáo, những chuyện dựng đứng, là một thủ
đoạn bôi xấu hết sức đểu giả đặc biệt của cộng
sản. Cộng sản Nga đã làm cái việc khốn nạn ấy từ
những năm 1930, theo đuôi là Cộng Tầu, Cộng Việt. Tôi
thấy nhục vì những người VNCH đã để cho việc bôi
bẩn bằng tiểu thuyết ấy xẩy ra ở thủ đô Sàigòn
trong thời Quốc Gia VNCH chưa bị diệt.

Bà Trần Lệ Xuân, vợ của ông Cố Vấn Chính Phủ Ngô
Đình Nhu, bị Hoàng Trọng Miên hành hạ tàn nhẫn, tơi tả,
bôi bẩn một cách đểu giả đến không thể ngờ trong
Đệ Nhất Phu Nhân. HTM tả bà Trần Lệ Xuân dơ bẩn hơn
một chị đĩ rẻ tiền: bà bị du kích Việt Minh hiếp hai
lần trong một đêm đi trốn trong một trạm gác đầu một
làng quê ở miền Bắc. Đó là thời gian mấy tháng đầu
của cuộc chiến tranh Việt Pháp. Về Hà Nội, bà ngủ lung
tung với nhiều sĩ quan Pháp -- nhân vật nữ Lệ trong ĐNPN
ngủ với tất cả những người đàn ông nàng gặp - ngủ
với Tướng Nguyễn Văn Hinh, với Thủ hiến Trung Phần Phan
Văn Giáo, với ông Bảo Đại -- HTM tả cả hai mẹ con nữ
nhân vật Lệ cùng đem thân lên Biệt Điện Đàlạt cho
ông Bảo Đại chơi -- Khi trở thành Đệ nhất phu nhân
Quốc Gia VNCH, nữ nhân vật Lệ ngủ với các ông Mỹ
Lansdale, Đại sứ Nolting, Đại tá Đỗ Cao Trí, Đại tá
Trần Văn Đôn ..v..v... Tôi trích mấy đoạn để quí bạn
thấy HTM viết dơ dáy đến là chừng nàọ

Đệ Nhất Phu Nhân. Tập 1. Trang 256,257. 258, 259. Trích:

&Bỗng một chiều, Nhu nhận được một phong thư bảo đảm
đề tên chàng trong đó có hai bức ảnh. Nhu tưởng mình
hoa mắt trông nhầm khi thấy Lệ mặc quần áo tắm ngồi
bên cạnh Quốc Trưởng ở bên bờ suốị

Tấm hình thứ hai chụp cảnh trần truồng của hai người
ở một góc rừng. (&)

&Hai người như hai con thú rừng đang giữ miếng sắp vồ
nhaụ

... Nhu căm hận nhìn Lệ đang tức tối ngồi lì rồi vùng
lên xé nát hai tấm ảnh.

Nhu cười gằn, lạnh lùng nói:

- Xé tan ảnh nhưng có tiêu tan được tiếng ngủ với trai
không?

Lệ chẳng khác nào một con thú dữ mắc bẫy chồm lên:

-- Phảị Tôi ngủ với trai, rồi sao nữả

Thái độ và giọng khiêu khích của Lệ khiến nhu cau mày,
khinh bỉ nhiếc mắng:

-- Ngủ với trai, ngoại tình, đẹp lắm, chớ làm sao! Có
giống mà, mẹ nào con nấy, thiên hạ biết tiếng, danh giá
lắm, ngủ với Quốc Trưởng mà.

Những lời chua cay của Nhu như làm cháy bùng người vợ
phạm tội, khiến Lệ điên tiết lên, to tiếng:

-- Tôi có cần chối cãi đâu! Tại sao tôi lại ngủ với
traỉ Làm chồng phải biết tại sao vợ đi ngủ với trai
chứ?

Nhu không chờ đợi ở một sự phản ứng bất ngờ như
vậy, giận sôi lên, uất nghẹn:

-- Tại saỏ

Lệ nhấn mạnh từng tiếng trả lời:

-- Còn tại sao nữả Tại vì anh bất lực!

Nhu không còn dằn được bình tĩnh trước lời nói như
đốt vào mặt người chồng mọc sừng, xông lại tát Lệ
túi bụi rồi giận dữ bỏ đi ra ngoàị

ĐNPN. Trg 325. Trích:

Mười phút sau, người hầu cận Bảo Đại ra mời Lệ vào
gặp Quốc Trưởng.

Lệ được giữ lại dùng bữa trưa hầu ngài ngự và
đến xế chiều, khi từ phòng riệng biệt điện ra về,
sau mấy giờ ngả ngớn trong tay Quốc trưởng, Lệ mang theo
lời hứa hẹn của Bảo Đại:

-- Được, trẫm sẽ cho Diệm về làm thủ tướng nhưng
nhớ biểu Diệm phải trung thành với trẫm mới được.
Ngưng trích.

Người dân ngu nhất nước cũng biết chính phủ Hoa Kỳ
đưa ông Ngô Đình Diệm về nước giữ chính quyền để
chống Cô.ng. Bù Nhìn Bảo Đại không có ký lô nào trong
quyết định đưa ông Ngô Đình Diệm về nước chấp
chính. Hoàng Trọng Miên cũng biết như thế nhưng anh cứ
tả bà Trần Lệ Xuân đem thân cho Bù Nhìn chơi để Bù
Nhìn thuận cho ông anh chồng làm Thủ Tướng. Bất lương,
bất nhân, đểu giả đến thế là cùng.

ĐNPN. Trang 395. Trích:

&Diệm mỉm cười nói:

-- Chú khỏi lo điều đó. Tuy là việc nước song do anh em
mình định đoạt. Tôi đã tính để cho chú là Cố vấn
chỉ đạo ở miền Trung còn chú Nhu làm cố vấn chính trị
ở bên tôị Anh Giám mục làm Cố vấn tối cao cho chính
phủ. Còn chú Út Luyện lo ngoại giao ở bên ngoài với ông
bà Trần.

Thím Nhu giúp chúng tôi về mặt ngoại giao ở trong nước.
Như vậy cả nhà mình cùng nắm giữ mọi trọng trách, lo gì
không thành công. Ngưng trích.

HTM cho cả Đại tá Đỗ Cao Trí cũng là người tình của bà
Trần Lệ Xuân. Đại tá Trí, Đại tá Đôn được Đệ
Nhất Phu Nhân dùng cùng một lúc, nhiều hôm cùng một
ngàỵ Chỉ có Đại Tá Dương Văn Minh là không thấy HTM cho
xếp hàng chờ bên giường ngủ của nữ nhân vật Lệ

ĐNPN. Trang 463.464. Trích:

Ngày 28, Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy đoàn quân nhẩy dù,
được lệnh Diệm chiếm Nha Cảnh sát đô thành (&) Lệ đi
gặp riêng người tình Đại tá, kích thích Trí hành động
quyết liệt, để trả thù cho nàng đã bị Bình Xuyên làm
nhục độ nàọ Lệ nhắc lại lệnh tấn công của họ Ngô
đã đưa ra, hứa hẹn với Trí những giờ gặp gỡ say sưa
sau khi chiếm xong cơ sở Bình Xuyên...(&)

Chiều 29, Lệ một mình lái xe đi gặp Đỗ Cao Trí và
Trần Văn Đôn khuyến khích hai người tình trước giờ
phút quyết liệt sắp diễn rạ

Trong không khí rộn rịp của thành phố về chiều, Lệ
đứng trên lầu cao, tựa vào vai Trần Văn Đôn, trỏ
Sàigòn-Chợ lớn ở phía dưới, thỏ thẻ:

-- Đánh đuổi Bình Xuyên ra khỏi, anh sẽ lập một chiến
công lớn, chẳng những đối với quốc gia mà còn riêng
với đối với em đã tự nguyện hiến dâng cho người anh
hùng chiếm lại thủ độ Ngưng trích.

Bố khỉ. Nó vẽ một lũ khỉ. Không những chỉ khỉ mà còn
là khỉ gió. Tôi cũng là một con khỉ nhỏ đứng sau những
Khỉ Lớn Đỗ Cao Trí, Trần Văn Đôn. Khỉ Đột Dương văn
Minh đâủ Đại Tá Dương Văn Minh là chỉ huy trưởng chiến
dịch đánh đuổi bọn côn đồ Bình Xuyên, đâu đến
lượt những Đỗ Cao Trí, André Đôn. Chuyện lạ là những
đoạn truyện dâm đãng, đểu cáng trong Đệ Nhất Phu Nhân
được viết, được đăng báo, in thành sách, bán công
khai dài dài trong lúc các ông Tướng Trí, Tướng Đôn còn
sống nhăn ở Sàigòn, hai ông không nói một tiếng phản
đốị Không lẽ các ông đui, điếc đến cái nước các
ông không nghe nói, không biết chuyện các ông bị tả như
hai anh dâm đãng gục mặt vào cái bề hê của người đàn
bà ngoại tình trên nhật báo Sàigòn, quê hương của các
ông. Thái độ nín thinh, làm lơ, làm như không biết, như
không thèm để ý của các ông làm người dân tưởng các
ông nhận đó là những chuyện có thật.

HTM bôi bẩn lên cả những bà trong Hội Phụ Nữ Liên Đới
do bà Trần Lệ Xuân thành lập. HTM dựng đứng lên
chuyện này:

ĐNPN. Trg 129.130. Trích:

Mười ba bà của Phụ Nữ Liên Đới gồm có những nữ dân
biểu, luật sư, đốc học, thương gia, bác sĩ, vợ của
các nhân vật tên tuổi, lần lượt được bà cố vấn
sáng lập mời riêng từng người vào Dinh Độc Lập để
làm lễ tuyên thệ mật. (*)

(*) Lệ tự tay cầm máy ảnh chụp cho mỗi đoàn viên hai
kiểu hình, một kiểu hoàn toàn trần truồng và một
kiểu mặc sắc phục dán vào hồ sơ của đoàn thể. Ngưng
trích.

Tất cả những nhân vật lãnh đạo Quốc Gia VNCH bị Hoàng
Trọng Miên bôi -- không phải bôi bẩn mà là bôi cứt vào
mặt trong truyện Đệ Nhất Phu Nhân. Việc làm đó vô
cùng tai hại cho uy tín Quốc Gia VNCH của tôị Bốn mươi
năm xưa tôi ngu dại, tôi không biết sự nguy hiểm tác hại
của nó cho quốc gia tôi, nay tôi biết thì đã quá muộn.
Đúng là tôi đã sống mắt mù, tai điếc trong hai mươi
năm, đến khi ảnh Già Hồ, cờ đỏ, nón cối, giép râu
lền khên kéo vào Sàigòn tôi mới sáng mắt, sáng lòng.
Sau Ngày 30 Tháng Tư cháy giường ra mặt rệp, anh em chúng
tôi thấy Hoàng Trọng Miên tung tẩy, phấn khởi hồ hởi,
lăng xăng xuất hiện đây đó, hỏi thăm người này, trấn
an người kia, nhắn tin người nọ: "Yên trí. Cách mạng sẽ
dùng hết. Không bỏ một người nào.. Bảo nó đến gập
tôi!" ù. Hoàng Trọng Qụy, tức Thanh Nghị làm tự điển,
là anh ruột của HTM, làm Phó Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa
Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. HTM tưởng bở --
tôi phải nói rõ ngay HTM Đạo Trích Tưởng Bở không có họ
hàng, cũng không giao du gì thân mật lắm với Thi Sĩ Cung
Trầm Tưởng của ta -- tưởng Việt Cộng vào, có người
anh làm lớn, sẽ kiếm chác được, mặt mũi phởn phợ
Một bọn Ba Tầu Chợ Lớn tưởng bở, đón gió, bấu, bám
HTM, đưa HTM đi bằng xe ô tô ra Vũng Tầu, lên Đàlạt,
nhận những vườn đất, trại, biệt thự của các tướng
VNCH. Phái đoàn Tầu Chợ Lớn Lưu Manh Văn Nghệ tự nhận
là Phái Đoàn Bộ Văn Hóa Chính Phủ Cách Mạng, đến nhận
nhà, đất. "Khu đất này, nhà này thuộc quyền xử dụng
của Bộ Văn Hóa..v..v.." Bọn Việt Cộng nằm vùng hạng bét
trong thời gian đầu được đưa lên làm chủ tịch xã, chủ
tịch quận, chủ tịch tỉnh, được đãi ăn nhậu rượu
thịt linh đình, mặt đỏ khé như mu đàn bà phải phát, xoa
tay, nhe răng cười: "Dà..Dà..Đất này, nhà này là của
Bộ Văn Hóạ Không ai được nhận. Chúng tôi ký xác nhận
chủ quyền các đồng chí mang về ngay.. Ký ngay..! Dà.. Ký
ngay!" Giấy tờ công nhận quyền sở hữu được chính
quyền cách mạng ký tên, đóng dấu đỏ lòm. Phấn khởi,
hồ hởi quá đã! Cách Mạng muôn năm! HTM được bọn Ba
Tầu tưởng bở chiêu đãi tận tình, tiền, thuốc phiện
ra rít, thoải mái, xe hơi đưa đón, hai ngày tiệc nhỏ, ba
ngày tiệc lớn, đái ra rượu, ỉa ra thịt, thở ra khói
thuốc phiện. Cuộc đời tươi hơn hoa mõm chó. Thế rồi
bọn cán bộ VC Sở Nhà Đất từ Hà Nội kéo vàọ Bọn này
mới là bọn có quyền quản lý nhà đất miền Nam. Cái gọi
là chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam bị bọn
Lê Duẩn khai tử không chút nể nang, những anh trong cái
chính phủ quái thai bị đuổi đi chỗ khác chơi, bị cho
ngồi chơi không sơi nước, Phó Bộ Trưởng Văn Hóa Hoàng
Trọng Quỵ bị giáng xuống làm nhân viên Thư Viện, những
giấy chứng nhận chủ quyền bọn HTM lấy được trở
thành giấy chùi đít trẻ con đi tướt. Bọn Tầu Chợ Lớn
chán quá bỏ rơi "đồng chí" HTM cái rụp. Sau . Sau khoảng một
năm trời no đủ, phè phỡn, HTM trở lại đói rách. Dường
như HTM chết năm 1979, năm tôi đang bị Công An VC Thành Hồ
bắt nằm nuôi rệp xuất khẩu sang Liên Xô làm thuốc
chống ung thư ở Số 4 Phan Đăng Lưụ

Nhớ lại vụ tác phẩm Việt Nam Văn Học Toàn Thư Móc Túi
của Hoàng Trọng Miên tôi thấy một chuyện hợp lý: Phải
là người tâm địa như Hoàng Trọng Miên mới có can đảm
nhận bậy văn phẩm của người khác làm của mình, tức
là mới có can đản ăn cắp văn. Trong giới văn nghệ -
báo chí Sàigòn cũng có vài vụ đạo văn, nhưng rất nhỏ,
chúng tôi gọi là "cầm nhầm": một vài truyện ngắn, dăm
bài thợ Vụ Hoàng Trọng Miên ăn cắp là vụ lớn nhất. Và
cũng chỉ có một HTM ăn cắp mà thôị Tôi thấy nhục vì
chuyện HTM ăn cắp. Tôi thấy lạ vì quyển truyện mạ lỵ
vô cùng đểu cáng và tệ hại những người lãnh đạo
Quốc Gia VNCH của tôi, những người chống Cộng mà chính
bọn Cộng Sản Đầu Xỏ phải sợ hãi, kính nể, vẫn cứ
được in, được bán dài dàị Có thể nói tất cả những
nhân vật lãnh đạo quốc gia của tôi đều bị bôi bẩn
thậm tệ trong ĐNPN. Không chừa một aị Một đòn quá
nặng công khai đánh vào uy tín của quốc gia tôị Người
đọc truyện ĐNPN dù kém tinh tế đến mấy cũng phải
thấy những ông Tổng Thống, Tổng Giám Mục, Cố Vấn,
Tướng lãnh của quốc gia đốn mạt đến như thế thì
quốc gia đó làm sao mà chống Cộng, mà đứng vững
được? ĐNPN là một truyện bôi xấu các nhà lãnh đạo
Quốc gia VNCH theo đúng ý muốn của bọn Lê Duẩn, Trường
Chinh, Tố Hữụ Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà còn tồi
tệ đến như thế thì những Khánh, Thiệu, Kỳ còn ra cái
gì? Đúng là finỉ lô đia: hết nước nói! Nếu HTM không
can tội ăn cắp, rất có thể nhờ ĐNPN, tên HTM đã
được Việt Cộng đặt tên cho một con đường nào đó
mới mở ở khu Ngã Năm Chuồng Chó.

Nhân danh cá nhân tôi, một người viết tiểu thuyết
phóng tác ở Quốc Gia VNCH, tôi nhận phần lỗi của tôi
với gia đình ông Nguyễn Đổng Chi, tác giả tác phẩm
Lược Khảo về Thần Thoại Việt Nam. Tôi có lỗi với vị
cố tác giả vì trong bao nhiêu năm tôi đã không nói gì,
dù chỉ là một tiếng phản đối, chê bai nhỏ, việc có
người ăn cắp tác phẩm của ông, tôi đã không viết
một dòng nào về việc tác phẩm của ông bị đánh cắp
trong quốc gia của tôị

Hậu "Thương Nhớ Mười Hai"*

Lam Giang

Hoạ sĩ T. vừa nhấp chén trà đặc sánh nghi ngút khói vừa cười: “Ở Sài Gòn, một mét vuông có ba thằng Hà Nội!”.

Ngoa nhưng không phải là không có lý. Hãy nhìn sự xuất hiện ngày một dày đặc của các dịch vụ dành riêng cho đối tượng này: nào phở Hà Nội, bún chả, bún thang Hà Nội,miến lươn Hà Nội, siêu thị Hà Nội, đêm nhạc Hà Nội,kịch Hà Nội thậm chí đến cả mắm tôm, mắm tép Hà Nội…

Trong số dân Bắc nhập cư Sài Gòn, người Hà Nội có vẻ “oai” hơn cả, “oai” đến nỗi cứ mở miệng nói tiếng Bắc là bị hỏi: “Có phải người Hà Nội không?”. Nếu gật thì người ta khoe ngay: “Năm ngoái tui ra Hà Nội, được mấy nhỏ bạn dẫn đi ăn phở ở Cấm Chỉ” và không quên than phiền: “Ăn ở Hà Nội sao mà cực, chủ quán thì mặt khó đăm đăm, chỗ ngồi chả có, rau sống hà tiện, đến cả ly nước cũng không”. nếu bạn bật cười và “sửa sai” ngay rằng: “Anh Hai Nam Bộ ơi, ai lại đi ăn phở ở Cấm Chỉ, lại còn đòi rau sống và trà đá nữa chứ” thì nhất định bạn chẳng phải dân “Nam Tiến”.


“Nam tiến” nghĩa là phải quen với chuyện đó, cũng như quen với chuyện các quán ăn trưng biển Hà Nội mà vẫn cho đường vào nước dùng, vẫn bày một đĩa húng chó dài nghêu cạnh một tô phở loe miệng đã rắc sẵn hạt tiêu cùng với tương Tàu!

Bạn sẽ thắc mắc vì sao cái xứ 12 tháng hè và bói không ra một bát phở tử tế mà dân Hà Nội vẫn kéo vào đông thế? Thì tôi xin thưa với bạn rằng phở chỉ chiếm mười phút một ngày, nghĩa là nó chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời.


Nếu có thể so sánh thì Hà nội giống như nước Pháp, còn Sài gòn giống như nước Mỹ. Đặc tính “hợp chủng quốc” ở đây rất rõ. Sài gòn rộng lòng với dân nhập cư chứ không như Hà Nội. Trong mắt người “hàng phố”, trừ Tây và Việt kiều, ai không phải gốc gác ba đời đều bị coi là “nhà quê”, đối tượng của khinh nhờn,lừa đảo và ăn hiếp. “Nhà quê” hỏi đường mà gặp mấy cậu choai choai hay mấy cô “thiếu nữ ngủ ngày” rỗi việc ngồi xổm ăn quà vặt ở vỉa hè thì khốn,chỗ cần đến thì chẳng đến được. lại còn bị chỉ cho đi sai vài cây số. Nhà quê đi bán rong, bị ném lên ném xuống, chê ỏng chê eo. Nhà quê đi mua hàng, tiền đã ít lại chẳng dám chọn, vớ vẩn có khi còn bị mắng xơi xơi vào mặt. Nhà quê mà “màu” nhiều thì cũng được nịnh, nhưng là nịnh để lừa bán với giá cắt cổ, lớ xớ mua rồi còn trả lại thì cầm chắc tăng chửi vuốt mặt không kịp.


Người Sài Gòn chẳng bận tâm anh quê Hà Nội hay Hà Tĩnh, chỉ có một chữ để gọi: “người Bắc” để phân biệt với một đối tượng nhập cư khác ở các tỉnh lân cận: “người dưới tỉnh”. Ở xứ sở dịch vụ này, một công thức rầt giản đơn: ai có tiền người ấy là thượng đế. Nếu anh vào một cửa hàng với bộ cánh hiệu Valentino và một xấp tiền lẻ loại 2000 đ trong tay, anh sẽ bị khinh thường hơn là ở trần,quần xà lỏn với một xấp tiền 50 000 đ mới coóng! Cũng như thế, bạn khó lòng thuyết phục ai đó rằng bạn là thiên tài, rằng điều bạn nói là chân lý, nếu túi bạn chẳng có lấy một xu. Người ta sẽ thản nhiên hỏi ‘bi nhiêu?” rồi “xú- vơ- nia” bạn một lời tạm biệt rất Mỹ: “no money no talk!”.


“Nam tiến” hay bị bệnh “thương nhớ mười hai”, ra Hà Nội là sáng dậy đi ăn phở “mậu dịch”, mò đến Hàng Cân ăn bánh cuốn cà cuống, đến Hàng Hành ăn xôi gà, bún thang, gật gù tán phét đến trưa với bạn bè ở cà phê Nhân, trưa ăn cơm bình dân ở Hàng Cá, chiều nhẩn nha dạo Nguyễn Xí mua sách đại hạ giá, xẩm tối kéo nhau lên Hồ Tây ăn bún ốc…


Ăn ở Hà Nội có cái sướng riêng. Chỗ ngồi thi vị, rau tươi roi rói, gia vị thơm tho, nêm nếm “bá cháy”, vừa ăn vừa nghe chủ và khách véo von toàn tiếng lóng với chửi thề. Chả thế mà ngoài những bún, phở, cháo lòng…, đám kinh doanh ẩm thực gốc Bắc ở Sài Gòn tinh khôn còn đem theo cả… tiếng chửi và phong cách phục vụ lề mề. Quán “miến chửi’ góc Nguyễn Du-Đồng Khởi nổi tiếng một thời vì bà chủ quán vừa bốc hành răm thoăn thoắt vừa chửi nhân viên ra rả bằng tiếng kẻ chợ rất giòn.


Nhưng chỉ “mười hai” thôi thì còn thương được, chứ lên đến “mười ba” là hết chịu nổi. Ở Sài Gòn đã sáu năm mà tôi chỉ đến quán “chửi” có mỗi một lần, còn lại tôi đến các quán khác, ăn dở một tí nhưng rộng rãi, sạch sẽ và nhất là được “cảm ơn- xin lỗi” bằng giọng Nam Bộ ngọt như mía lùi.

Tôi cũng bỏ luôn thói quen đến “chợ Đồng Xuân mini” ở Hai Bà Trưng mua cà pháo, mắm tôm sau khi chứng kiến hai chủ hàng chém nhau vỡ đầu chỉ vì một chiếc bánh trưng!

Ra Hà Nội tôi, cũng hết muốn ăn bánh cuốn Hàng Cân vì lỡ có mặt đúng lúc tay chủ quán đẹp trai vưa soi tiền lên bóng điện (vì nghi ngờ là tiến giả), vừa mắng xơi xơi vào mặt hai thực khách miền Nam chỉ vì dám cả gan thắc mắc “tại sao hai suất bánh cuốn với mấy giọt cà cuống lại tới gần 100 ngàn?”.


Tôi chán đi taxi ở Hà Nội vì lái xe “thiên nhiên” xưng “anh” với khách nữ, “thân ái” (một cách lỗ mãng) hỏi: “em có chồng chưa?”…


Nhịp sống hối hả của đô thị lớn đã lấy mất của tôi sự kiên nhẫn trước những tập quán “đậm đà bản sắc” nhưng quá thiếu văn minh này chăng?


Bạn sẽ kết án tôi “mất gốc”, thành kiến và quá ư cố chấp. rằng đó là những mặt trái có tính chất bề nổi. Còn phần lớn người Hà Nội thanh lịch và tinh tế lắm. Tôi không phản đối.Nhưng nếu người thanh lịch thấy những chuyện trên là thường, sáng nào cũng chen vai thích cánh đi ăn cháo “quát” với phở “chửi” thì tôi thấy trong cái sự ẩm thực tinh tế này có cái gì hơi … dã man.


Nhưng tôi yêu Hà Nội hơn bất kỳ một người Hà Nội nào. Một tình yêu không đi qua dạ dày nên khó có thể lấp đầy bằng “cà pháo, mắm tôm” hay vài gói ô mai “made in Hà Nội”, chỉ mất hai tiếng đồng hồ là hạ cánh xuống Sài Gòn.


Bạn đã bao giờ đúng ở ngoài cửa sổ, nhìn vào ngôi nhà thời thơ bé, giờ trở thành khách sạn? Hay gặp lại người yêu thời sinh viên, bây giờ đi xe cá mập, ăn buffet, chơi tennis nhưng mở miệng là toàn giọng Chợ Trời?


Tôi luôn có cảm giác như thế khi về Hà Nội. Đẹp hơn, cao hơn và bóng bẩy hơn. Nhưng những điều tốt đẹp như những con người khả kính, ngại những bát nháo phố phường mà theo Rùa thần lặn mãi vào ký ức…

* Tựa do Gió O đặt