TRƯỜNG HỢP THỤY KHUÊ: GIỌNG CA SAI NHỊP VÀ TRẬT SOL-FE
(Trích PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH)
Trần Nghi Hoàng
Bài này, tôi viết về một nhà phê bình : Thụy Khuệ Và ba nhà thơ: Lê Đạt, Nguyễn Đức Liêm, Tô Thùy Yên. Cả bốn người tôi đều không quen, nhưng có biết. Biết Thụy Khuê từ một số bài viết, đặc biệt là hai bài về thơ Lê Đạt. Biết Lê Đạt và Nguyễn Đức Liêm qua thi cạ Riêng Tô Thùy Yên, tôi biết qua... lời đồn. Tôi chỉ nhắc tới nhà-thơđân-tộc Tô Thùy Yên, nhân làm một so sánh về số lượng thơ với Lê Đạt. Nhưng tại sao Thụy Khuê, Lê Đạt lại có Nguyễn Đức Liêm can dự vàỏ Hẳn là nhiều người đọc tới đây đang đặt câu hỏi nàỵ Câu hỏi sẽ được tôi trả lời một cách nghiêm túc. Trước khi vào chính đề, tôi cần bàn sơ qua về một vài hội chứng Việt Nam, đây là một cần thiết. Tôi sẽ “bàn sơ về một vài”, vì tôi sẽ có một bài khác “bàn kỹ về những” hội chứng Việt Nam.
A/ HỘI CHỨNG CÁCH MẠNG: Việt Nam là một trong vài dân tộc làm cách mạng (xin hiểu “cách mạng” thuần trong nghĩa “đổi mới") nhiều nhất thế giớị Cách mạng trên đẻ mọi bình diện. Từ lịch sử, chính trị, xã hội, tình cảm, văn chương, thi ca v.v... Nguyên do là vì tinh-thần-cách-mạng được sản sinh từ tinh-thần-nhươ.c-tiểụ Những dân tộc thiếu... tinh-thần-nhươ.c-tiểu, chẳng thể nào có tinh-thần-cách-ma.ng. Những dân tộc không có tinh-thần-cách-mạng này chỉ biết luôn nỗ lực vào sự tiến bộ và vững mạnh của quốc gia mình.
Chú thích (1): Cứ đổi mới là được, là xong. Không cần biết sau khi đổi mới, sẽ “tốt hơn” hay “tệ hơn”. Thí dụ: Có một nhà thơ nào đó tôi quên tên, trên tạp chí Thơ đã kêu gào đại loại: “Thà làm thơ kiểu mới dở ẹt, hơn làm thơ kiểu cũ hay”! Lý thuyết này được một nhà phê bình khác là Nguyễn Hưng Quốc nhiệt liệt hưởng ứng và bảo vê..
Chú thích (2): Tôi rất cổ võ những đổi mới (cách mạng?) trong văn học, nhưng phải đổi mới cùng lúc với tiến bộ, tức là phải hay hơn cái cũ. Lối thơ cắt dán chữ hình (tôi gọi là Thơ Thẻ Công) hoặc đánh computer một số chữ lớn chữ nhỏ khác size nhau, ngang dọc không cần nghĩa (Như Hạnh Nguyễn Tự Cường, đặt tên là loại thơ Khỉ Đánh Computer. Thật ra nhiều thi sĩ Mỹ đã mầy mò từ lâu... cho đỡ buồn, những lúc bế tắt trong sáng tạọ Chưa thấy một thi sĩ nào của Mỹ hoặc Âu Châu hay Phi Châu nổi tiếng và tồn tại nhờ mấy loại thơ nàỵ
B/ HỘI CHỨNG CẤP TIẾN: Hơn một thập niên qua, văn học Việt Nam hải ngoại đã hồ hỡi mở rộng vòng tay với văn học Việt Nam trong nước. Một số người cầm bút trong nước cũng đã tỏ ra thân thiện, dễ dãi hơn với một số người cầm bút hải ngoạị Điều này, trên một khía cạnh nào đó, là dấu hiệu đáng mừng. Nhưng trên nhiều khía cạnh khác, lại rất đáng ngạị Đáng ngại cho cái gọi là văn-ho.c-hải-ngoại của Việt Nam.
Bởi, sự dễ dãi, thân thiện hơn của giới cầm bút trong nước cũng chỉ nằm trong một khuôn mức, giới hạn rất qui đi.nh. Trong khi, một số trong giới cầm bút hải ngoại thì lại hết sức tận tụy trong việc khoa trương sự am hiểu của mình về những khám phá, cách tân của văn học trong nước. Cùng lúc với sự tận tụy này, là cơ hội để họ khoa trương thái độ cởi mở, kiến thức và sự thông thái trong việc thẩm định văn học của mình. Theo tôi, đây là một căn bệnh chung của khá đông trí thức miền Nam trước 75 đã được mang theo trên đường tha phương và được bảo tồn, phát triển ngày càng vững mạnh ở hải ngoạị Căn bệnh này tôi đặt tên là hô.i-chứng-cấp-tiến. Những người mang hô.i-chứng-cấp-tiến rất dễ dãi, bao dung và có khi hết sức tôn sùng “phía bên kia”. Trước năm 75, những trí thức mang hô.i-chứng-cấp-tiến gồm nhiều nhà hoạt động chính trị hay văn hóa sống ở miền Nam, nhưng khoái ca ngợi miền Bắc (đừng cho rằng tôi chụp mũ họ là cộng sản, tôi không có ý này). Sau 75, những người mang hô.i-chứng-cấp-tiến ở hải ngoại luôn chứng tỏ sự hiểu biết và đồng cảm của mình về những biến động chính trị hoặc văn hóa xảy ra trong nước. Ngược lại, họ rất vô tình, lãnh đạm với những gì ở hải ngoạị Và họ hân hoan tự ca ngợi mình là những trí-thức-thờiđdại đúng nghĩạ Thậm chí, lắm khi họ còn có thái độ phẻ nhận những tài năng cùng đang sống ngoài Việt Nam như ho.. Thụy Khuê cũng lại là một đại biểu sáng giá cho những người bị hô.i-chứng-cấp-tiến.
**
THỤY KHUÊ: GIỌNG CA SAI NHỊP VÀ TRẬT SOL-FE
Viết về tập thơ Bóng Chữ của Lê Đạt, Thụy Khuê mở đầu: “Tập thơ Bóng Chữ của Lê Đạt do nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 1994 gồm 138 bài thơ, sáng tác trong khoaœng thời gian trên 30 năm. Tác phẩm cuœa một đời người và người đọc cũng không thể một sớm một chiều hiểu hết được."1
Thứ nhất, thi ca là để cảm nhận chứ không phải để hiểụ Và hiểu hay không hiểu thơ của Lê Đạt, thì cũng đâu có đi tới cái thế giới nào khấm khá hơn trái đất này! Thứ hai, 30 năm tận lực lao động, sáng chế ra 138 bài thơ, thì quả tài năng Lê Đạt cũng chẳng hơn được nhà-thơđân-tộc Tô Thùy Yên miền Nam là bao nhiêụ Tô Thùy Yên làm thơ gần 40 năm, tuyển tới tuyển lui được 37 bàị (Nói là Thơ Tuyển, nhưng dường như ngoài 37 bài trong tập, cam đoan ngay tác giả cũng không thể nhớ mình có làm được bài nào khác từ thứ 38 trở lên?) Tuy nhiên, nếu tính từng bài thì, trung bình mỗi bài thơ của nhà-thơđân-tộc có dài hơn mỗi bài của nhà-thơ-cách-mạng về số lượng câu và chữ.
**
Nhưng cuối cùng, tôi phát hiện ra vài sự thật đáng giá, chứng minh rằng về số lượng, thơ Lê Đạt hơn thơ Tô Thùy Yên rất nhiềụ
Trong bài Đỗ Kh. phỏng vấn Lê Đạt2, Lê Đạt nói “Bóng Chữ là một cố gắng lần mò trong gần 20 năm.”
Thụy Khuê nhất định tăng hơn 10 năm để cho công phu tác giả và trọng lượng tập thơ thêm phần vĩ đại!
Gần 20 năm để sáng tác 138 bài thơ! Điều này như có gì không ổn. Tài năng một kiện tướng Nhân Văn Giai Phẩm chỉ vậy thôi saỏ Trong Nhà Văn Hiện Đại, do Hội Nhà Văn Việt Nam ấn hành năm 1992 (có hình ảnh từng nhà văn kèm theo cẩn thận), tôi đọc thấy tiểu sử một ông Lê Đạt: “Tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10-9-1929. Quê ở Á Lữ, Bắc Giang. Công tác ơœ Hội (tức Hội Nhà Văn) từ 1952-1962. Hiện sống ở Hà Nộị
Đã xuất bản: Bài Thơ Trên Ghế Đá (in chung với Vĩnh Mai - 1958), 36 Bài Thơ Tình (in chung với Dương Tường 1990), Thơ Lê Đạt Sao Mai (in chung với Sao Mai 1991), Bác Hồ (trường ca - 1990)."3
Như vậy, số lượng sáng tác của nhà-thơ-cách-mạng Lê Đạt và nhà -thơ-quốc-gia Tô Thùy Yên chênh lệch khá... trầm trọng! Chỉ riêng tập Bác Hồ, chưa bàn tới nội dung, cái tên tác phẩm kèm theo hai chữ Trường Ca đã thấy Lê Đạt ăn đứt Tô Thùy Yên một bậc! Tô Thùy Yên nổi tiếng làm nhiều bài thơ dài, nhưng chưa nghe nói có bài nào là trường ca cả!
Chú thích: Cấu Trúc Thơ có bài Thụy Khuê viết về Bóng Chữ Lê Đạt in năm 1995, Tạp Chí Thơ có bài Đỗ Kh. phỏng vấn Lê Đạt in năm 1998. Nếu đọc hai bài nói trên và chú ý đến thời gian tính trước sau, chúng ta có thể thấy những câu trả lời phỏng vấn của Lê Đạt “ảnh hưởng” rất nhiều từ bài viết mớm ý của Thụy Khuệ
Thì ra, Thụy Khuê đã cố tình lờ đi những tác phẩm khác cuœa Lê Đạt, cũng chỉ với mục đích muốn lấy cái Bóng Chữ mịt mù kia mà đè lên nền thi ca Việt hiện đại và tự thỏa mãn những mục đích thầm kín của mình. 36 Bài Thơ Tình, Thơ Lê Đạt Sao Mai và nhất là Trường Ca Bác Hồ (mà tôi chắc nhiều người hết sức muốn được đọc), đã xuất hiện trước Bóng Chữ và trong thời gian gần 20 năm “mầy mò” đó chứ! Một thi sĩ chịu “mầy mò” làm nguyên cái Trường Thi ca ngợi lãnh tụ, thì hẳn nhiên là phải có tài!
Trường Ca Bác Hồ tôi không có trong taỵ Thôi thì, chúng ta thử tìm hiểu cái tài của Lê Đạt qua Thụy Khuê với Bóng Chữ và Ngó Lời, tập thơ theo sau Bóng Chữ. Đồng thời, tôi cũng sẽ giới thiệu một kiện tướng của dòng thơ Thụy Khuê đặt tên là Thơ Tạo Sinh: Thi sĩ Nguyễn Đức Liêm. Một thi sĩ mà theo tôi, mới đúng là người đầu tiên khởi xướng dòng Thơ Tạo Sinh, một thi sĩ từ lâu bị giới văn học hải ngoại bỏ quên vì tinh thần bè phái và cái Hô.i-Chứng-Cấp-Tiến.
Tôi sẽ làm công việc đem thơ Nguyễn Đức Liêm để cạnh thơ Lê Đạt.
Chú thích: Nguyễn Đức Liêm là tác giả Thủy Mặc, 1984; Của Những Vuông Tròn, 1992; Sấm Huyền Hồng, 1994 và tập thơ duy nhất mà tôi có trong tay, do mượn từ một người bạn: Ở Tuổi Không Có Đâu, 1997.
*
NHỮNG CƠN SAY THƠ LÊ ĐẠT CỦA THỤY KHUÊ
Thụy Khuê viết tiếp, định nghĩa Bóng Chữ: “Bóng Chữ nằm trong dòng thơ hiện đại của thế kỷ này, mà chúng tôi tạm gọi là Thơ Tạo Sinh, mới trong quan niệm cũ, khác với thơ chữ tự do bị lạm dụng đã nhiềụ Tạo trong nghĩa sáng tạo, sinh trong nghĩa sinh ra, sinh sôi, nẩy nở, phức âm, đa tầng, đa nghĩa và đa ngã."4
Ở một phần sau, Thụy Khuê khai triển tan hoang sự thông hiểu của mình về thơ Lê Đạt:
“-Tạo hình bằng tính chất đa ngã của chữ.
- Tạo hình bằng cách ngắt chữ, cắt câu, gián đoạn mạch chữ, mạch văn.
- Tạo hình bằng cách chuyển động mạch văn, chối bỏ sự ngắt câu cố định, chuyển sang cách ngắt câu bất định
- Tạo hình bằng tính cách đối hình, đảo ngữ và nói lái trong ngôn ngữ Việt. Và trên tất cả, Bóng Chữ mang tính chất hồn nhiên, thơ dại, nói đúng ra là ngây ngô, trong ý nghĩa naif hội họa, của một người:
Ngây ngô quên hết lối về già.5
Dường như, thỉnh thoảng Thụy Khuê cũng có viết phê bình cả về Hội Họạ (Tội nghiệp thay cho giới nghệ sĩ tạo hình). Nhưng nếu như những gì Thụy Khuê vừa công bố về kỹ thuật thơ của Lê Đạt, thì làm thế nào Bóng Chữ có được tính chất hồn nhiên thơ dại, ngây ngô trong ý nghĩa naif hội họa được? Những kỹ thuật trên quá cầu kỳ và nhiêu khệ Hồn nhiên, thơ dại và ngây ngô không xuất hiện ở những gì cầu kỳ và nhiêu khệ
Câu thơ “Ngây ngô quên hết lối về già” chỉ gợi cho tôi nhớ câu “Trẻ khôn qua, già lú lại” hoặc “Người quá già sẽ biến thành trẻ thơ” nhưng cũng chỉ là một ông già trẻ thợ Còn cách làm thơ đối hình, đảo ngữ và nói lái thì trước Lê Đạt, đã có quá nhiều ngườị Với những kỹ thuật mà Thụy Khuê cho là khám phá mới của Lê Đạt, tôi đã đọc thấy đầy dẫy từ lâu:
- Đối hình, ngay cả đối chữ trong ca dao Việt Nam đã có:
Loan ôm lấy Phụng, phụng bồng lấy loan.
Và trong Đường thi thì nhiều không kể xiết. Với Nguyễn Đức Liêm, chẳng những đối hình, đối chữ, mà còn đối ý, lộng ý một cách rất ngoạn mục:
Đột nhiên nàng cầm dao
đâm vào tim tôi tới tấp
Tôi tránh được
Tôi không được tránh
.....
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 32)
Nàng đâm tới tấp. Nguyễn Đức Liêm tránh được nhưng không được phép tránh. Hay Nguyễn Đức Liêm được tránh không hay tránh được không? Câu hỏi này sẽ trùng điệp đặt ra nghìn câu hỏi khác cho tới khi mình mẩy đã nát bấy máu me... mà vẫn chưa có câu trả lời!
- Đảo ngữ: Thời lớp nhất, tôi và các bạn đã chơi đùa chữ nghĩa với nhau:
Thày giáo tháo giày vấy đất vất đấy, Biệt thự bự thiệt.. v.v...
- Nói lái: Trong Bóng Chữ, Lê Đạt viết câu:
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu
(Bóng Chữ, không thấy ghi số trang)
Thụy Khuê run rẩy tán: “Ở đây, bóng chữ hay bóng em vụt thoáng qua trong chữ động (Cá đâu đớp động dưới chân bèo, Nguyễn Khuyến) và vụt biến đi trong chữ ‘bóng’. Nhưng nếu đọc lái hai chữ ‘chân cầu’ bằng giọng Bắc thành ‘câu chần’ thì câu thơ trở thành:
Bóng chữ động câu trần
lại mở ra một thực tại khác vô cùng đắm say và thơ mộng giữa hai thực thể chữ và câụ"6
Thụy Khuê hổn hển kết luận:
“Bóng chữ chao đảo giữa mộng và thực, giữa tục và thanh, giữa người và ảnh, giữa phôi pha và vĩnh cửụ"7
Điều quan trọng, sau khi nói lái hai chữ ‘chân cầu’ thành ra ‘câu chần' với giọng Bắc là ‘câu trần’, Thụy Khuê cũng chẳng thông dịch được hai chữ ‘câu trần’ ý nghĩa ra làm sao mà lại: “... mở ra một thực tại khác vô cùng đắm say và thơ mộng giữa thực thể chữ và câụ”
Để giúp Thụy Khuê, tôi dĩ nhiên phải tìm cách giảng hai chữ ‘câu trần’ vô duyên... Và tôi bắt buộc giảng bằng tâm thức Thụy Khuê để Thụy Khuê có thể hiểu dễ dàng:
Lê Đạt dùng “Bóng Chữ” để “câu”... cá hay gì đó! Động từ “câu” xuất hiện rất thần tình sau khi Thụy Khuê nói lái hai chữ “chân cầu” thành “câu trần”. Ở đây cho thấy Lê Đạt là một ngư ông có tài (hơn cái tài làm thơ của ông rất xa), Lê Đạt đã dùng lưỡi câu móc tung hết quần áo, khiến “con cá” bị “lột trần”. “Câu trần” là lối dùng chữ “tắt” đa ngã, đa nghĩa, đa tình kỳ tuyệt của Lê Đạt mà Thụy Khuê tuyệt đối ngưỡng mô.. Tuy nhiên, vẫn còn một công án cần được giải thích. Loài cá không biết mặc quần áo thì làm sao có sự vụ ở trần? Vậy, xem ra Lê Đạt không câu cá mà câu người, vì chỉ loài người mới biết mặc quần áọ Nhưng cái ẩn mật trong thơ Lê Đạt là ông muốn “câu ai” và đã câu “được ai”. Điều ẩn mật này sẽ có đáp án sau khi chúng ta thấy ai đó bị “lột trần” vì thơ Lê Đạt. Và từ đó, từ sau khi thơ Lê Đạt đã “lột trần” được đương sự rồi, thì “lại mở ra một thực tại khác vô cùng đắm say và thơ mộng giữa chữ và câụ” Và đó cũng là cái chao đaœo giữa mộng và thực của người bị “lột trần”.
Tôi đã tự dẹp bỏ trí tuệ của mình để giảng thơ Lê Đạt theo kiểu Thụy Khuê giùm Thụy Khuệ Tôi không đòi hỏi một sự đền ơn đáp nghĩa nào ngoại trừ một yêu cầu: “Thụy Khuê nên ngưng viết phê bình... bá láp.”
Với loại thơ nói lái hay chơi chữ này nọ, tôi có thể giới thiệu cho Thụy Khuê một số đại danh gia để Thụy Khuê mở rộng kiến thức:
Ông Thảo Am Nguyễn Khoa Vi ở thôn Vĩ Dạ là một cao thủ về loại thơ nói láị Ông để lại nhiều bài rất ngộ nghĩnh, và đối với ông chỉ là “chơi cho vui”. Một bài điển hình:
Cầu đạo nên chi phải cạo đầu,
Dầu lai dưa muối cũng dài lâụ
Na bường bát tới nương bà vãi,
Dầu sãi không tu cũng giải sầu!8
Ngoài ra, Bùi Giáng cũng là thi sĩ cừ khôi về nói lái:
Thưa rằng gió núi dồn làn...
Và, tôi xin nhại Bùi Giáng, tiếp:
Lá hoa cồn có dặm ngàn phôi phai...
Trong bài viết về Ngó Lời, một tập thơ khác sau Bóng Chữ, Thụy Khuê mang từng hai câu thơ của Lê Đạt ra tụng:
Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải
Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay
(Phả Lại, Ngó Lời, trang 18)
Thụy Khuê: “Hai câu 8 chữ, tổng cộng 16 chữ. Trong 16 chữ này không có chữ nào bóng bẩy, không có chữ sang, chữ diện, toàn những chữ tầm thường mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ ngõ ngách nghèo nàn nào trong chợ chữ. Nhưng nếu thử vài động tác chuyển hoán vị trí của chúng trong câu:
Vườn lá răm gió bay mùa hoa cải
Bóng ngày phả lại nắng mắt cay"9
Bằng cách đọc “tâm thần” của Thụy Khuê, ta thử đọc hai câu thơ Nguyễn Đức Liêm:
nữu ước hoàng hôn liên tưởng
bình minh cựu ước
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 80)
hoán vị chữ để chuyển nghĩa:
tưởng
nữu ước bình minh
hoàng hôn liên
cựu ước
Chẳng những nói lái từng hai hay ba chữ, hay đảo lộn thứ tự của con chữ trong thơ làm thành những câu thơ khác, tôi xin mở rộng tầm mắt cho Thụy Khuê và những người đang cố gắng làm mới chữ nghĩa bằng lối thơ đọc nhiều cách. Tôi sẽ đưa ra một loại thơ có thể đọc ngược đọc xuôi, đọc ngang đọc dọc thế nào cũng được, mà lại có ý nghĩa đàng hoàng. Kỹ thuật thơ loại này đã có từ rất lâu, theo tôi thì nó được phát minh bởi những ông đồ nho gật gù chơi chữ. Bài thơ tác giả vô danh dưới đây có 8 cách đọc căn bản:
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài dậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đậu bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cườị 10
Cách thứ hai đọc: (ở những cách đọc khác này, tôi chỉ chép hai câu làm thí dụ)
Cười mỉm mắt ai bóng thiết tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa...
Cách đọc thứ ba là bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu, vẫn đọc xuôi thành thơ 5 chữ:
Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi...
Cách thứ 4 bỏ hai chữ cuối ở mỗi câu, và đọc ngược thành thơ 5 chữ:
Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa...
Cách thứ 5, bỏ 3 chữ đầu ở mỗi câu, vẫn đọc ngược, thành thơ 4 chữ:
Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát...
Cách thứ 6 bỏ 3 chữ cuối ơœ mỗi câu, đọc xuôi:
Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu...
Cách thứ 7 bỏ 4 chữ đầu mỗi câu, đọc xuôi:
Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi...
Cách thứ 8 bỏ 4 chữ cuối mỗi câu, đọc ngược:
Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa...
Cách đọc thứ 9 của Phù Dung, tác giả bài viết là góp nhặt hai câu chính với các biến thái:
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Khách chờ sông lặng sóng....
Dường như đây là loại thơ với nhiều cách đọc mà những nhà thơ tự nhận là “hiện đại” và “cách mạng” đang cố truyền bá khuếch trương! Cách này cũ mèm rồị Bài thơ trên tôi chép tặng, để mấy nhà thơ “hiện đại” và “cách mạng” lấy làm tiêu chuẩn học tập.
**
Để nói về chữ Dê trong thơ Lê Đạt, Thụy Khuê lắc lư viết:
“Chữ dê gợi những âm đồng nghĩa: dê, dâm, dương, mà còn gợi những âm khác nghĩa: như dương trong thái dương, như dần trong canh dần, như dân trong quốc dân, hay Quốc và dân... Ông cụ chăn dê hình như còn là người chăn chữ:
“Ơ những con A con B con C
con Dê
bản trong trắng thảo thơm”
(Bóng Chữ trang 60)
Với cái đà xoay mòng này, Thụy Khuê sẽ còn dẫn người ta đi tới đâu bằng Bóng Chữ Lê Đạt?
Bằng những con chữ A, B, C, D... Thảo Am Nguyễn Khoa Vi đã chơi giỡn dí dỏm hơn Lê Đạt biết bao nhiêu:
A Di Đà Phật muốn qui thuyền,
B bết lòng tham hãy cứ nguyên,
C xích cho gần nơi cửa tịnh,
Đ đầu nguyện dứt mối trần duyên.11
Chữ Đ trong thơ Nguyễn Đức Liêm lại bay lộng lên một vùng trời khác:
Người bước vào
ôm con chó nhỏ
Trong mõm chó không có ngà voi
người và chó
vẫn tâm đầu ý hợp
Người bước ra
bỏ người ở lại
sau khi hình như đã
đê em mờ nhau
cứ loạn cả lên.
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 68)
Con chó bỗng chốc nhắc tới con voị “Trong mõm chó, sao mọc được ngà voi”. Tuy nhiên, người và chó vẫn ý hợp tâm đầu mặc dầu mõm chó không mọc được ngà voị Người bước vào là thế. Vậy khi người bước rạ Người bước ra bỏ người ở lại hay người ở lại bỏ người bước rạ Nào ai biết chắc! Có điều, mọi chuyện đã “y du hi” sau khi cả hai kẻ ở người đi đều đã “đê em mờ” nhau loạn cả lên rồi! Chữ “Đê” để mở ra, mở ra “em” và chữ “mờ” hư ảo khép lại!
THƠ TẠO SINH:
NGUYỄN ĐỨC LIÊM GIẢI ĐỘC LÊ ĐẠT
Trở lại với Ngõ Lời, Thụy Khuê đọc hai câu thơ của Lê Đạt:
Trang thiên thanh ấp xanh mùa cốm biếc
Thư ủ tình thu ép biếc hơi hương
(Thư Xưa, trang 49)
rồi ngâm nga cung cách rất Thụy Khuê:
“không chỉ có một kiếp sống, mà chúng có thể có những kiếp sống khác, tùy theo sức tạo sinh của người đọc:
Trang thư ủ tình xanh mùa cốm biếc
Áo thiên thanh xanh ép biếc hơi hương
hay
Biếc trang tình ép thu xanh mùa cốm
Tiếc hơi hương ủ ấp thu thiên thanh
Bằng cách của Thụy Khuê, tôi lại đọc hai câu thơ trích Nguyễn Đức Liêm, chúng ta sẽ thấy tính chất Tạo Sinh trong thơ họ Nguyễn mãnh liệt và sâu sắc hơn thơ họ Lê:
Như hạnh phúc bắt nguồn từ so sánh
tôi đêm nay bày đặt uống hơn tôi
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 72)
có thể đọc:
uống hơn tôỉ bắt nguồn từ so sánh
như đêm nay, bày đặt hạnh phúc tôi
hoặc:
tôi hạnh phúc như đêm nay so sánh
bắt nguồn từ bày đặt uống hơn tôi
Nhận định một cách công bình, thơ Lê Đạt trước khi bị Thụy Khuê cưỡng bức thô bạo, cũng có vài câu ngộ nghĩnh, đọc vui vuị Chính Thụy Khuê đã dầy vò thơ Lê Đạt. Thụy Khuê viết:
“Về mặt ngữ căn và triết lý, ba bài thơ trên có sự tư thông giữa người và vật như người và ngựa, ngựa và mộc; chúng là chân dung phác thảo những kiếp người-ngựa, ngư.a-người, mà cũng là chân dung gỗ, chân dung ngựa gỗ, đánh số hoặc không đánh số...."12
Tôi có thể tưởng tượng ra hoạt cảnh lúc Lê Đạt đọc bài viết của Thụy Khuê về thơ của ông, tới đoạn trên, Lê Đạt bỗng râu tóc dựng ngược la lớn:
“Mẹ kiếp, cái thằng cha Thụy Khuê bố láo! (Thụy Khuê đã từng được Dương Thu Hương gọi bằng Ông!) Thơ của tôi mà hắn ta giảng thế nào đọc một lúc tôi rối cả đầụ Hóa ra hắn còn hiểu thơ tôi hơn cả tôi nữa... Làm gì có mấy cái sự cố bệnh hoạn kỳ cục tư thông giữa người và vật.... Cái bọn Việt kiều ở ngoại quốc nó vô luân thật!”
Chưa hết, Thụy Khuê còn là một thứ bệnh cấp tính nguy hiểm, nếu luận theo giọng mấy anh bác sĩ cộng sản thì phải như sau: “Con bệnh này, theo tôi thì rất có nhiều khả năng chết lắm!” Tôi dù có muốn lý lẽ với mấy anh bác sĩ cộng sản tí chút, cũng đành gật gù theo: “Tôi... thôi thì nhất trí với các ông!”...
Không nhất trí cũng chẳng xong, khi Thụy Khuê thản nhiên cho người dân “đốt pháo ăn mừng đê vỡ":
“Đê Đồng Lão vỡ, nước vỡ bờ, người ta đốt pháo mừng tuổi nước, mừng ngôi sao mới ra đời, huyền thoại kéo dài cho tới điềm Đại Mùa Thắng Xuân:
Mười chín... tám
Thì reo
Rồi ùng ục
Rễ nước đại thụ
từ sơ địa
mịt mù dã sử
phun sáng ngần
Đêm pháo hoa mừng tuổi nước
Một ngôi sao mới lớn
(Lê Đạt, Bóng Chữ, không ghi số trang)
Thụy Khuê đã nảy ở đâu ra hình ảnh người ta đốt pháo mừng đê vỡ và đưa tới điềm Đại Mùa Thắng Xuân? Đại Mùa Thắng Xuân hay Đại Thắng Mùa Xuân.... Thụy Khuê muốn nói gì bằng thơ Lê Đạt? Tới đây thì tôi chịu... là không thể hạ thấp trí thông minh theo tầm cỡ Thụy Khuê để hiểu thơ Lê Đạt. Xin mời quý bạn cùng đọc thơ Nguyễn Đức Liêm để chúng ta lấy lại thăng bằng:
Gió
công kênh biển lên ngang hàng quán rượu
Bụi nước mặn
phất vào mặt phới vào lòng
xin những bước chân hãy khoan dung
cho soœi nói sõi giọng đời lạo xạo
Duyên hải ì ầm phương tây trắng
hợp thức hóa vàng đen đỏ
thành một thứ hai trăm năm
muốn ăn trọn đông đoàị
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 62)
Trong khi Thụy Khuê đè Lê Đạt ra bắt tư thông với súc vật, Nguyễn Đức Liêm vô cùng thơ mộng và nhân baœn với những thấp thoáng cuœa triết lý Phật giáo:
xin những bước chân hãy khoan dung
cho sỏi nói sõi giọng đời lạo xạo
để:
hợp thức hóa vàng đen đoœ
thành một thứ hai trăm năm
nuốt ăn trọn đông đoài
Thụy Khuê say thơ Lê Đạt cùng lúc với ngây chữ: “Mà cũng có thể là chân dung anh Cả, anh Kế, anh Ké, có công cải cỏ nương Voi (xem thơ Voi của Tố Hữụ Voi là đại bác) thích món... giả hùm “phập phồng một vị riềng quê”, ưa trò đồ mi, nói như Xuân Hương gọi là “cắm giếng":
Ông cắm giếng
Cồn đất múp
Sừng gái mười bẩy
Đào lút hai vầu cột cờ
Mà cũng có thể chỉ là một chuyện bạch đàn. Một lịch sưœ mười năm trồng câỵ Trăm năm trồng ngườị”
Chuyện gái mười bẩy bẽ gãy sừng trâu, sao dưng lại dính dáng tới chuyện mười năm trồng người, trăm năm trồng câỷ Nếu không phải là Thụy Khuê đã dùng thơ Lê Đạt để ngợi ca chủ trương của họ Hồ... Trường Ca Bác Hồ của Lê Đạt xem như mất điểm... Thơ, và bị thêm cái điểm oan ương Thụy Khuê đã đem vào thơ Tạo Sinh Lê Đạt... Đâu tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm? Đâu người trí thức bị chế độ bỏ tù vì tội đòi tự do tư tưởng và sáng tạỏ... Chỉ thấy đây là kẻ ca ngợi Đại Thắng Mùa Xuân, cho con người đốt pháo mừng thiên tai và vinh danh thuyết trồng cây trồng người một cách ngang nhiên ngu xuẩn... để kết đời trong Trường Ca xưng tụng Bác.
Thơ Nguyễn Đức Liêm đành phaœi ra tay hiệp sĩ, sống với câu:
“Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả,
Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”.
Thơ Nguyễn Đức Liêm cố giải cứu thơ Lê Đạt, người bạn đồng môn của phái Tạo Sinh:
Tôi đáng nhẽ
vẫn nằm nguyên trong gió
nhân thế gọi là
yên giấc nghìn thu
vì đã hiểu được đàn bà
là hiểu được
không thể nào hiểu được
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 33)
Đã là nữ nhân thì dù con gái hay đàn bà, mười bẩy bẻ gãy sừng trâu thì hai mươi bảy bẻ gãy sừng tê giác, ba mươi bảy bẻ gãy sừng... khuœng long... Vì thế, cho nên hiểu được đàn bà là hiểu được không thể nào hiểu được...
Tôi có bài thơ nhỏ, xin chia sẻ cùng Nguyễn Đức Liêm:
em đàn bà cũng đẹp như con gái
đàn bà con gái hiền như trái cây
trái cây chua, ngọt, tím, vàng, xanh, đoœ
có trái ăn ngon ngộ độc không hay
(Trần Nghi Hoàng, Anh Có Thực Sự Muốn Thành Một Bồ Tát? Văn Uyển xuất bản 1990)
Thụy Khuê không còn có thể ngừng được trong thơ Lê Đạt:
“Bóng Chữ còn tạo hình nhờ cận ảnh (gros plan) bằng cách đẩy vào giữa mạch câu thơ một âm thanh xa lạ, khác hẳn với nhịp câu:
Từng thớ thịt anh sống em trọn hẹn
chỉ bóng anh
ò e
xe Văn Điển
(Lê Đạt, Bóng Chữ, trang 23)
lại Thụy Khuê: ”...chiếu gros plan lên âm thanh “ơ hô” gợi hình ảnh khỏa thân:
Ơi em rất ô
Ơi em rất hồ
Trắng vỗ ồ hô trúc bạch
Bước động ngày thon róc rách
(Bóng Chữ, trang 28)
Nguyễn Đức Liêm vẫn nhàn nhã một cách mãnh liệt với thơ, với Em tên gì đó, với đam mê cạn cùng hơi thở:
Đố loan biết
điệu tôi xuân gì đó
Tôi đang buồn mưa đấy
uyên ơi
Thơ không chấm hết
giữa đường chim cánh mỏi
Hốt hoảng yêu
Bình tĩnh đếm xong đời
( Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 14)
Nguyễn Đức Liêm cà tửng với thi ca, với cuộc đời:
Cầm chiếc đầu lâu mân mó mãi
Mà tu bi o nót tu bi
Uy Liêm hỏi Đức Liêm không hỏi
Thánh Thán cho rằng hãy sống đi
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 15)
Uy Liêm nào đâỷ Có phải William Shakespeare hay Uy Liêm Hỏỉ Dù cớ sự gì thì Đức Liêm cũng không thèm hỏị Đâu cần ò e hay ồ hô, vì tu bi hay nót tu bi cũng là bí ẩn không nói được của hiểu đàn bà là hiểu được không thể nào hiểu được.
Thụy Khuê còn cho từ: ”... đôi mắt xanh, Lê Đạt tạo những biến cố khác nhau trong nồng độ, âm độ và sắc độ, pha trộn hội họa, thi ca và âm nhạc:
Mắt xưa xanh
mưa mành
sương liễu song
Mùa sang may
thu đánh ngải lông mày
(Bóng Chữ, trang 94)
Có gì đâu, hãy nghe Nguyễn Đức Liêm múa cổ tích và hát huyền thoạị Nhưng lại là cổ tích và huyền thoại của một tương lai nhìn thấy:
Ở phương nao có một người xanh tên thẳm
múa kỳ lân
buồn lung linh thú
hát phượng hề
sặc sỡ cô đơn
.....
Gió trong mắt
Bụi trên môi
Đêm còn trẻ quá
Này
tôi đi chân đất đá chân trời
Bất quá ngủ
Kệ
Suối vàng không quán trọ
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 12, 13)
Trong cơn ngây ngất, Thụy Khuê từ thơ Lê Đạt bước lóng ngóng: “Bóng chữ còn làm mới cổ tích, đem cô Tấm lồng vào hồn thơ hiện đại:
Anh rình / trắng nghìn trăng / nghiêng ngõ mộng
Bước thị thơm chân / chữ động em về
(Bóng Chữ, trang 82)
Anh rình chỉ để thấy trắng nghìn trăng rồi về nghiêng ngõ mộng thôi, thì dù chữ có động em cũng bỏ về là phải lắm!
Nguyễn Đức Liêm không trần tục, chẳng làm dáng cao siêu mà chỉ ngông ngạo ngang nhiên:
Thiên thu biết có còn mai mốt
Cưỡi ngựa lên từng thế kỷ chơi
(Ở Tuổi Không Có Đâu, trang 16)
Thiên thu là hai chữ rất cũ, cũ đến nỗi sáọ Nhưng Nguyễn Đức Liêm cho đi sau thiên thu năm chữ biết có còn mai mốt thì câu thơ đột nhiên mới cả lời lẫn ý. Cưỡi ngựa, thế kỷ... là những chữ rất thường, chơi là chữ dung tục... Chen vào những chữ thường và dung tục đó, Nguyễn Đức Liêm cho lên từng... Lên từng, hai chữ đứng chen giữa đột nhiên sáng lên và làm sáng cả câu thơ... Từng là mỗi thế kyœ mà cũng là trăm triệu vô số những tầng lớp thế kỷ chồng chất lên nhaụ
Thơ Tạo Sinh là như vậy! Là làm mới tư tưởng trong chữ và chữ trong tư tưởng. Tôi tin là Nguyễn Đức Liêm đã làm Thơ Tạo Sinh như một Bẩm Sinh. Không gượng ép, không mất... hai, ba mươi năm mầy mò và cũng không cần ngay cả người ta đặt tên cho trường phái thơ của mình là Thơ Tạo Sinh. Thôi thì, tôi xin trả ba chữ Thơ Tạo Sinh lại Thụy Khuê để dành cho Lê Đạt. Thơ Nguyễn Đức Liêm đã Tạo Sinh trước khi Thơ Tạo Sinh ra đời...
Và cứ để cho Thụy Khuê trong cơn sướng ngất với thơ Lê Đạt, kết luận về Thơ Tạo Sinh:
“Thơ Lê Đạt khó và tốị Tác giả niêm phong tác phẩm của mình bằng sự cô đọng chữ nghĩạ Nhưng đó là cái khó của sự tìm tòi khoa học, cái tối là ẩn số của bình minh, là sự niêm phong gạn lọc tư tưởng. Cho đến nay chúng ta chưa có một tác phẩm nào thể hiện sự thay đổi toàn diện trong phong cách thơ, từ bản sắc triết học, đến cấu trúc hình thức và nội dung như thế. Với Bóng Chữ thơ mới đã thực sự nhường ngôi cho một dòng thơ khác, Thơ Tạo Sinh hiện đại trong tinh thần khuynh đảo và tái sinh những giá trị cổ điển”.
Thụy Khuê từng viết Bóng Chữ Lê Đạt mang tính chất naif của hội họạ Bây giờ, cũng lại Thụy Khuê kêu kên lên thơ Lê Đạt khó và tối! Tôi chỉ thấy thơ Lê Đạt ngây ngô ngọng nghịu! Bóng Chữ bắt đầu mịt mù khó và tối từ khi bị Thụy Khuê truyền cho chứng tâm thần, để mầy mò truy tìm cái bản sắc triết học vốn không có trong thơ Lê Đạt.
Lần này, là một đề nghị chứ không còn là yêu cầu, của tôi, với Thụy Khuê: Thụy Khuê nên “về nguồn” bên Lê Đạt... Mua một căn nhà hay căn chòi bên cái nguồn nước của Lê Đạt. Thế là tiện cả đôi bề: Mỗi khi Lê Đạt hoàn tất một bài Thơ Tạo Sinh, hay chỉ cần ném ra một đống chữ, Thụy Khuê lại viết một cái manual cho bài thơ hay đống chữ đó, như kiểu manual cho người ta sử dụng nồi cơm điện National, để bảo đảm là những ai đọc thơ Lê Đạt sẽ hiểu được đúng ý Thụy Khuệ Đồng thời, để Thụy Khuê tiếp tục hưởng những cơn sướng ngất bằng Thơ Tạo Sinh của nhà-thơ-cách-mạng, tác giả Trường Ca Bác Hồ Lê Đạt.
VA, ngày 13 tháng 9 năm 98
CHÚ THÍCH:
1- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản, trang 220.
2- Đỗ Kh. Phỏng Vấn. Tạp chí Thơ số 12, 1998.
3- Hội Nhà Văn Việt Nam, Nhà Văn Hiện Đại 1992, trang 44 (A-59 Lê Đạt)
4+5- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản 1995, trang 222.
6+7- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản 1995, trang 236.
8- Hương Giang Thái Văn Kiểm, Tình Duyên Thôn Dã, trích từ Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn xuất bản 1997, trang 174.
9- Thụy Khuê, Cấu Trúc Cách Ly Trong Ngó Lời Của Lê Đạt, Tạp chí Thơ số 12, trang 71.
10- Phù Dung, Cảnh Xuân, Bài Thơ Lạ Từ Trong Nước, Tạp chí Văn Uyển Hè 1992, trang 41.
11- Hương Giang Thái Văn Kiểm, Tình Duyên Thôn Dã trích từ Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn xuất bản 1997, trang 174.
12- Thụy Khuê, Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ xuất bản 1995, trang 225.
Hậu "Thương Nhớ Mười Hai"*
Lam Giang
Hoạ sĩ T. vừa nhấp chén trà đặc sánh nghi ngút khói vừa cười: “Ở Sài Gòn, một mét vuông có ba thằng Hà Nội!”.
Ngoa nhưng không phải là không có lý. Hãy nhìn sự xuất hiện ngày một dày đặc của các dịch vụ dành riêng cho đối tượng này: nào phở Hà Nội, bún chả, bún thang Hà Nội,miến lươn Hà Nội, siêu thị Hà Nội, đêm nhạc Hà Nội,kịch Hà Nội thậm chí đến cả mắm tôm, mắm tép Hà Nội…
Trong số dân Bắc nhập cư Sài Gòn, người Hà Nội có vẻ “oai” hơn cả, “oai” đến nỗi cứ mở miệng nói tiếng Bắc là bị hỏi: “Có phải người Hà Nội không?”. Nếu gật thì người ta khoe ngay: “Năm ngoái tui ra Hà Nội, được mấy nhỏ bạn dẫn đi ăn phở ở Cấm Chỉ” và không quên than phiền: “Ăn ở Hà Nội sao mà cực, chủ quán thì mặt khó đăm đăm, chỗ ngồi chả có, rau sống hà tiện, đến cả ly nước cũng không”. nếu bạn bật cười và “sửa sai” ngay rằng: “Anh Hai Nam Bộ ơi, ai lại đi ăn phở ở Cấm Chỉ, lại còn đòi rau sống và trà đá nữa chứ” thì nhất định bạn chẳng phải dân “Nam Tiến”.
“Nam tiến” nghĩa là phải quen với chuyện đó, cũng như quen với chuyện các quán ăn trưng biển Hà Nội mà vẫn cho đường vào nước dùng, vẫn bày một đĩa húng chó dài nghêu cạnh một tô phở loe miệng đã rắc sẵn hạt tiêu cùng với tương Tàu!
Bạn sẽ thắc mắc vì sao cái xứ 12 tháng hè và bói không ra một bát phở tử tế mà dân Hà Nội vẫn kéo vào đông thế? Thì tôi xin thưa với bạn rằng phở chỉ chiếm mười phút một ngày, nghĩa là nó chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời.
Nếu có thể so sánh thì Hà nội giống như nước Pháp, còn Sài gòn giống như nước Mỹ. Đặc tính “hợp chủng quốc” ở đây rất rõ. Sài gòn rộng lòng với dân nhập cư chứ không như Hà Nội. Trong mắt người “hàng phố”, trừ Tây và Việt kiều, ai không phải gốc gác ba đời đều bị coi là “nhà quê”, đối tượng của khinh nhờn,lừa đảo và ăn hiếp. “Nhà quê” hỏi đường mà gặp mấy cậu choai choai hay mấy cô “thiếu nữ ngủ ngày” rỗi việc ngồi xổm ăn quà vặt ở vỉa hè thì khốn,chỗ cần đến thì chẳng đến được. lại còn bị chỉ cho đi sai vài cây số. Nhà quê đi bán rong, bị ném lên ném xuống, chê ỏng chê eo. Nhà quê đi mua hàng, tiền đã ít lại chẳng dám chọn, vớ vẩn có khi còn bị mắng xơi xơi vào mặt. Nhà quê mà “màu” nhiều thì cũng được nịnh, nhưng là nịnh để lừa bán với giá cắt cổ, lớ xớ mua rồi còn trả lại thì cầm chắc tăng chửi vuốt mặt không kịp.
Người Sài Gòn chẳng bận tâm anh quê Hà Nội hay Hà Tĩnh, chỉ có một chữ để gọi: “người Bắc” để phân biệt với một đối tượng nhập cư khác ở các tỉnh lân cận: “người dưới tỉnh”. Ở xứ sở dịch vụ này, một công thức rầt giản đơn: ai có tiền người ấy là thượng đế. Nếu anh vào một cửa hàng với bộ cánh hiệu Valentino và một xấp tiền lẻ loại 2000 đ trong tay, anh sẽ bị khinh thường hơn là ở trần,quần xà lỏn với một xấp tiền 50 000 đ mới coóng! Cũng như thế, bạn khó lòng thuyết phục ai đó rằng bạn là thiên tài, rằng điều bạn nói là chân lý, nếu túi bạn chẳng có lấy một xu. Người ta sẽ thản nhiên hỏi ‘bi nhiêu?” rồi “xú- vơ- nia” bạn một lời tạm biệt rất Mỹ: “no money no talk!”.
“Nam tiến” hay bị bệnh “thương nhớ mười hai”, ra Hà Nội là sáng dậy đi ăn phở “mậu dịch”, mò đến Hàng Cân ăn bánh cuốn cà cuống, đến Hàng Hành ăn xôi gà, bún thang, gật gù tán phét đến trưa với bạn bè ở cà phê Nhân, trưa ăn cơm bình dân ở Hàng Cá, chiều nhẩn nha dạo Nguyễn Xí mua sách đại hạ giá, xẩm tối kéo nhau lên Hồ Tây ăn bún ốc…
Ăn ở Hà Nội có cái sướng riêng. Chỗ ngồi thi vị, rau tươi roi rói, gia vị thơm tho, nêm nếm “bá cháy”, vừa ăn vừa nghe chủ và khách véo von toàn tiếng lóng với chửi thề. Chả thế mà ngoài những bún, phở, cháo lòng…, đám kinh doanh ẩm thực gốc Bắc ở Sài Gòn tinh khôn còn đem theo cả… tiếng chửi và phong cách phục vụ lề mề. Quán “miến chửi’ góc Nguyễn Du-Đồng Khởi nổi tiếng một thời vì bà chủ quán vừa bốc hành răm thoăn thoắt vừa chửi nhân viên ra rả bằng tiếng kẻ chợ rất giòn.
Nhưng chỉ “mười hai” thôi thì còn thương được, chứ lên đến “mười ba” là hết chịu nổi. Ở Sài Gòn đã sáu năm mà tôi chỉ đến quán “chửi” có mỗi một lần, còn lại tôi đến các quán khác, ăn dở một tí nhưng rộng rãi, sạch sẽ và nhất là được “cảm ơn- xin lỗi” bằng giọng Nam Bộ ngọt như mía lùi.
Tôi cũng bỏ luôn thói quen đến “chợ Đồng Xuân mini” ở Hai Bà Trưng mua cà pháo, mắm tôm sau khi chứng kiến hai chủ hàng chém nhau vỡ đầu chỉ vì một chiếc bánh trưng!
Ra Hà Nội tôi, cũng hết muốn ăn bánh cuốn Hàng Cân vì lỡ có mặt đúng lúc tay chủ quán đẹp trai vưa soi tiền lên bóng điện (vì nghi ngờ là tiến giả), vừa mắng xơi xơi vào mặt hai thực khách miền Nam chỉ vì dám cả gan thắc mắc “tại sao hai suất bánh cuốn với mấy giọt cà cuống lại tới gần 100 ngàn?”.
Tôi chán đi taxi ở Hà Nội vì lái xe “thiên nhiên” xưng “anh” với khách nữ, “thân ái” (một cách lỗ mãng) hỏi: “em có chồng chưa?”…
Nhịp sống hối hả của đô thị lớn đã lấy mất của tôi sự kiên nhẫn trước những tập quán “đậm đà bản sắc” nhưng quá thiếu văn minh này chăng?
Bạn sẽ kết án tôi “mất gốc”, thành kiến và quá ư cố chấp. rằng đó là những mặt trái có tính chất bề nổi. Còn phần lớn người Hà Nội thanh lịch và tinh tế lắm. Tôi không phản đối.Nhưng nếu người thanh lịch thấy những chuyện trên là thường, sáng nào cũng chen vai thích cánh đi ăn cháo “quát” với phở “chửi” thì tôi thấy trong cái sự ẩm thực tinh tế này có cái gì hơi … dã man.
Nhưng tôi yêu Hà Nội hơn bất kỳ một người Hà Nội nào. Một tình yêu không đi qua dạ dày nên khó có thể lấp đầy bằng “cà pháo, mắm tôm” hay vài gói ô mai “made in Hà Nội”, chỉ mất hai tiếng đồng hồ là hạ cánh xuống Sài Gòn.
Bạn đã bao giờ đúng ở ngoài cửa sổ, nhìn vào ngôi nhà thời thơ bé, giờ trở thành khách sạn? Hay gặp lại người yêu thời sinh viên, bây giờ đi xe cá mập, ăn buffet, chơi tennis nhưng mở miệng là toàn giọng Chợ Trời?
Tôi luôn có cảm giác như thế khi về Hà Nội. Đẹp hơn, cao hơn và bóng bẩy hơn. Nhưng những điều tốt đẹp như những con người khả kính, ngại những bát nháo phố phường mà theo Rùa thần lặn mãi vào ký ức…
* Tựa do Gió O đặt