www.passion.ru

Nguyễn Xuân Nghĩa

Vĩnh Biệt  "Buồn Ơi Chào Mi" - Adieu Tristesse - Francoise Sagan -

nguồn: vietbao.com

Tuần qua, nước Pháp đã mất sự phù phiếm dịu dàng khi Françoise Sagan tạ thế. Mình thì chưa...
Năm đó, một quả bom be bé đã nổ tại Pháp.

Năm đó là 1954.

Quả bom không phải là vụ Điện Biên Phủ vào tháng Bảy, mà là một tuyệt tác của sự phù phiếm, xuất hiện trước đó một tháng, vào tháng Sáu. Cuốn Bonjour Tristesse được nhà Julliard xuất bản làm chấn động cả một xã hội vừa ra khỏi thời chiến và chưa biết sẽ đi về đâu.

Về sau, độc giả được biết cuốn tiểu thuyết mỏng này - chữ của tác giả - hoàn tất trong có bảy tuần, sau khi tác giả thi vào Văn Khoa mà không xong. Năm ấy, nàng mới 18 tuổi. Thời đó, cốt truyện được coi là ly kỳ. Nhân vật, một cô bé 17, con nhà trung lưu, muốn phá cho bằng được mối tình của người cha goá bụa với một phụ nữ đàng hoàng. Cô bé làm cho người đàn bà phải chết, trong khi bản thân thì cắn vào trái cấm của tình yêu xác thịt. Đã đời thật, giao hợp mà chẳng có giao kết hay trách nhiệm gì cả. Sau khi nước Pháp được giải phóng, chúng ta đã được giải phóng.

Cuốn sách gây chấn động vì sự đồng dạng giữa nhân vật và tác giả. Một nhà văn nữ, tuổi vị thành niên - một ý niệm luật pháp - viết về sự phóng dục của tình yêu và tuổi trẻ, với văn phong nhẹ nhàng, hóm hỉnh. Một cuộc cách mạng! Phù phiếm nhưng vẫn là cách mạng.

Ở tuổi vị thành niên, nàng phải nghe lời cha, một kỹ nghệ gia thành công và khá giả, mà tìm một bút hiệu. Françoise Quoirez bèn lấy tên nàng công chúa Sagan trong tác phẩm thời danh của Proust (À la recherche du temps perdu). Françoise Sagan ra đời. Tên tác phẩm, “Buồn ơi chào mi”, thì lấy từ ý thơ Eluard. Cuốn sách lập tức ăn khách, được tái bản nhiều lần (sau này được phiên dịch ra 22 thứ tiếng) đã đem lại cho nàng vừa tiếng tăm vừa tiền tài. Năm trăm triệu quan (cũ), thời đó là một số tiền rất lớn cho một cô bé vốn không cần tiền. Lại nghe lời cha, nàng cố xài cho hết, rồi từ đó, quen thói xài cho hết... Kể cả tuổi thanh xuân.

Françoise Quoirez sinh năm 1935 tại miền Tây Nam nước Pháp.

Theo lối nói của ta, gia đình nàng thuộc loại gia thế, nàng là nữ sinh trường “Nhà Trắng”, ưa lêu lổng nên bị các Dì đuổi khỏi trường sau khi trượt Tú tài một vì cả năm nghe Jazz hơn là học bài. Nhưng, nàng công chúa Sagan có khiếu văn chương từ nhỏ, thích viết lách từ tuổi 13, thi luận văn thì được 17/20, và buồn tình phóng bút là ra một tác phẩm để đời.

Kể từ đó, Sagan liên tục viết, trước sau hơn ba chục tiểu thuyết và tập truyện ngắn cùng chín vở kịch, nhiều tác phẩm được đưa vào điện ảnh, với các diễn viên nổi tiếng như Jeanne Moreau, Catherine Deneuve, Michel Piccoli, Jean Louis Trintignant, Jean Claude Brialy, Monica Vitti, Yves Montand, Ingrid Bergman và Anthony Perkins. Các tác phẩm như Un certain sourire, Dans un mois dans un an, Aimez-vous Brahm, Les merveilleux nuages, La chamade (nhịp tim loạn cuồng như hồi trống trận, lúc thu quân - chữ của Nguyễn Đình Toàn - có thể là lời dịch rất sát!).... đều là sách bán chạy. Trước sau mấy triệu cuốn.

Cho tới sau này thì nàng thiên về tùy bút và hồi ký, về những người nổi danh mà đa số cũng là bằng hữu (Avec mon premier souvenir, cuốn tùy bút thuộc loại hay nhất của nàng). Tại Hoa Kỳ, người ta đã viết luận án Tiến sĩ về Sagan, Nhật Bản đã có câu lạc bộ nhưng người hâm mộ Sagan. Theo lối nói của Saigon 60, Sagan là một “quái tượng”. Từ điển Pháp xém có hình dung từ “saganesque”, nếp Sagan.

Françoise Sagan là người nổi loạn trong sự an toàn đầy tiện nghi.

Không - tiện nghi thì có, chứ an toàn thì chưa chắc. Nàng sống như kẻ đu dây không lưới.

Nếu Jean Paul Sartre là người học đòi triết gia Đức để viết về thuyết hiện sinh, Françoise Sagan mới thực sự là người sống hiện sinh. Nàng cắt tóc ngắn, như muốn nén bớt nữ tính trong mình, nhoài người sống đến không kịp thở và thích phóng xe bạt mạng. Đi xe phải là loại thể thao đắt tiền của Anh của Ý – chứ xe Pháp lúc đó là quá thường – và phải mở mui. Và đạp xe chân đất. “Để cơ thể hòa nhập cùng thiên nhiên”, như nàng nói. Năm 1957, chiếc Aston-Martin của nữ hoàng chân đất đã có lần bị lật làm nàng gãy gần một chục xương sườn mà chưa tởn. Nếu có phải than là đời đáng chán thì nên than trong xe Jaguar hơn là trong xe buýt công cộng.... Hình như Sagan đã có câu châm ngôn như vậy! Khôn hơn – hay may hơn – Camus một bậc: cũng năm đó, Camus bị lật xe mà mất giữa buổi sung sức nhất của ngòi bút.

Sagan nổi loạn tiếp bằng rượu chè, cờ bạc, chơi cả ma túy lẫn rất nhiều đấng nổi danh. Bạn và bồ của nàng có những tên tuổi như Jean Paul Sartre hay François Mitterrand - khi ông đã là Tổng thống. Năm 1995, tháp tùng Mitterrand đi Colombia, nàng ngã bệnh và gây nhiều lúng túng cho giới ngoại giao.

Như đa số nghệ sĩ trí thức của thế giới tự coi là tự trọng đó, Françoise Sagan là người thiên tả.

Dân Pháp gọi cánh tả đó là “la gauche caviar”, cánh tả sang trọng ăn caviar đắt tiền, như dân Mỹ diễu “cánh tả đi xe limo”, hay đeo cà-vạt Hermès. Cách mạng làm dáng.

Trong những biến động năm 1968 của “tuổi trẻ xuống đường” tại Pháp, chẳng thua gì Sartre, Sagan hăng hái tham gia đấu tranh cùng... tầng lớp nhân dân lao động và thanh niên tiến bộ. Bị họ mỉa mai là xuống đường bằng xe Ferrari, Sagan đĩnh đạc yêu cầu được quyền cải chính: xe Maserati chứ! Còn đắt hơn nữa. Nước Pháp tuyệt vời!

Sách bán chạy, Sagan kiếm tiền như nước, nhưng tiêu như thác đổ. Quen thói bốc rời, nàng bắt đầu gặp túng quẫn, có khi phải tạm ở nhà bạn và năm 2002 từng bị một năm tù treo về tội khai gian thuế, sau khi bị án treo về tội hút sách và mua bán ma túy năm 1995. Sagan đáng được ghi là “hưởng dương” 69 tuổi vì nỗi đam mê cuộc sống dường như không già theo tuổi.

Trong văn chương, Françoise Sagan không là một tác giả lớn - nhiều nhà phê bình còn cho sự nghiệp của nàng là hời hợt. Nhưng nàng là một hiện tượng xã hội.

Sagan xuất hiện như biểu tượng của nữ quyền. Một nhà văn nữ viết truyện đầy dục tính và không kiêng nể bất cứ gì trong một xã hội mà thuốc ngừa thai đã bắt đầu xuất hiện. Tình yêu trở thành vùng oanh kích tự do. Vui là chơi thôi. Mới lắm. Kỷ cương xã hội là trò đạo đức giả của bọn tư sản. Nàng nốc rượu và nói như viết - với tốc độ của khẩu liên thanh. Nàng là khách xộp của các hộp đêm và sòng bạc, ngỗ nghịch phô bày sự ngang ngược trước sự trầm trồ hay kinh ngạc của dư luận. Giây dắt chó thì phải tiệp với màu ví xách tay mới được. Mới lắm. Nàng ăn nói có duyên, đầy lém lỉnh và trí tuệ, khi đã được nghệ thuật quảng cáo – lúc đó còn lạ lắm – đưa lên đỉnh cao của văn đàn, nên từng lời nói đã là thành ngữ. Văn hoá ý hả? “Là những gì mình còn nhớ khi đã quên ráo trọi.” Cái chết ý hả? “Chả có gì đáng nhìn, không quá khứ đằng sau, không hành lang, ánh sáng. Một sự phẳng lặng, tầm thường.”

Nàng yêu cuồng, sống vội, rong chơi và tận hưởng mọi thú vui của cuộc đời và tủm tỉm cười sự trầm trồ của thiên hạ.

Năm 1988, được yêu cầu viết “cáo phó” cho chính mình trong cuốn Từ điển các nhà văn, Françoise Sagan hạ bút: “Xuất hiện năm 1954 với một cuốn tiểu thuyết mỏng, Bonjour tristesse, và gây xì-căng-đan cho thế giới. Sự ra đi của nàng - sau một đời và một sự nghiệp văn chương dễ thương và cẩu thả như nhau - là một xì-căng-đan cho chính nàng.” Thông minh chừng nào! Sagan là đứa con nuông của một Paris phù phiếm, nhưng đáng yêu vì ý thức được sự phù phiếm của bản thân.

Khi được tin nàng tạ thế tại thị trấn Honfleur của tỉnh Calvados trong vùng Normandie vào tối Thứ Sáu 24, sau một thời gian dài bệnh tật trong nghèo túng, từ Tổng thống đến Thủ tướng rồi Bộ trưởng Văn hoá Pháp đều có lời ngỏ ý tiếc thương. Nàng là một hiện tượng đánh dấu xã hội Pháp vào thập niên 60 của thế kỷ trước.

Đó cũng là thập niên mà xã hội Việt Nam còn chịu ảnh hưởng đã vàng vọt của văn hoá Pháp. Thời mà những người lăng nhăng phiên dịch và diễn giải Sartre - một trí thức rởm - lại được coi là bậc thầy. Thời mà sự phù phiếm hay ngỗ nghịch trong văn chương đã có thể thay thế được văn tài. Thời mà các nhân vật của Tự lực Văn đoàn đã thành già nua lạc hậu và các nữ hoàng chân đất phì phèo điếu thuốc bước lên ngôi với lối ăn nói bạt mạng. Thời mà sự luông tuồng càn rỡ được thành phố coi là thời thượng. Đập phá thần tượng là đồng nghĩa với sáng tạo. Có một chút hơi hướng Paris mới đáng là trí thức.

Xã hội Pháp lúc đó đã qua thời chiến tranh và có thể nuông chiều sự phù phiếm. Nó vô bổ nhưng vô hại và còn cho Paris dáng vẻ văn minh hơn. Xã hội ta lúc đó bắt đầu đi vào một cuộc chiến tranh mới. Và khi nói “buồn ơi chào mi”, mình không biết rằng nỗi buồn đó sẽ lao tới như trái phá, thành một thảm kịch lớn.

Đọc lại Sagan và nhớ lại những say mê của Sàigòn thời đó, chúng ta có thể kết luận: hồn nhiên thật!

Đáng yêu mà cũng đáng thương chừng nào.

Sự trí trá của quyền lực và cái kết cục tất yếu?

QCTS

nguồn: nguoi-viet.com 

LTS: Tác giả bài viết này là một người hiện đang sinh sống trong nước, và bài viết này được phổ biến trên các diễn đàn liên mạng. Chúng tôi đăng tải lại bài viết này, để độc giả được rộng đường dư luận.

Trong những thể chế độc tài, quyền lực được xây dựng từ một cá nhân; sau đó, quyền lực được củng cố bằng cách triệt hạ và tiêu diệt những con người đối kháng, làm cho người hiền phải bỏ xứ ra đi hoặc chết già ở xó xỉnh nào đó. Hậu quả, bộ máy độc tài gồm toàn những con người làm ít, nói nhiều; cái kiểu nói a-dua, tung hô khẩu hiệu. Như vậy, chính thể chế độc tài đã tạo cho guồng máy của họ những con người bất tài nịnh bợ, bàn luận viển vông; những ý kiến xây dựng của dân chúng đã bị các tầng lớp quan lại trung gian vất bỏ hoặc méo mó. Những con người ngồi ở trên cao, chẳng biết mình đang ở đâu và lương dân đang nghĩ gì? Sưu cao thuế nặng; dân chúng phải đóng nhiều thứ thuế, góp nhiều thứ nghĩa vụ, nhưng họ chẳng có một thứ quyền lợi nào cả. Cái gì cũng nằm trong cơ chế xin-cho; xin thì chưa cho, mà chưa cho thì không được làm. Hậu quả là nhân dân ngày càng chán ghét chế độ độc tài đó, chẳng muốn đóng góp điều gì để xây dựng quốc gia; cuối cùng, thể chế độc tài rơi vào suy thoái và sụp đổ. Ðó là công thức chung cho những chế độ độc tài ở phương Ðông, cũng như đã xảy trong lịch sử cổ đại phương Tây.

Không có một vị đế vương nào có thể trị vì thiên hạ mãi mãi được. Tần Thủy Hoàng là người có công thống nhất đất nước Trung Hoa, nhưng ông ta là kẻ độc tài. Ông ta cho người đi tìm thuốc trường sinh để mong kéo dài sự sống, nhưng cuối cùng cũng chết trên đường đi tuần thú. Tình hình bát nháo, hỗn loạn và tha hóa về đạo đức của xã hội Việt Nam hôm nay là có nguyên nhân từ sự cai trị quá lâu và quá hà khắc của độc tài Cộng Sản.

Sự độc tài của Cộng Sản Việt Nam có nhiều điểm đặc biệt hơn những nước khác là: Ngoài sự tàn bạo của các vua chúa phong kiến Trung quốc; họ còn có thêm chính sách mị dân của Lê-nin, guồng máy tuyên truyền của Phát xít Ðức, sự xúi giục của chiến tranh nhân dân và cách mạng văn hóa của Mao Chủ tịch và Thể chế độc tài của Cộng Sản Việt Nam không phải do một người tạo nên mà là sự hỗn tạp, lai căng như một thứ tạp phí lù, nhưng lại có mùi tanh và màu đỏ của máu. Ngày xưa, Mác đặt ra lý thuyết Cộng Sản chỉ nói đến giá trị thặng dư, sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản; Mác chỉ nói đến tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất... chứ Mác đâu có nói đến mọi người dân trong chế độ Cộng Sản đều “bị” sống trong những tổ chức do đảng Cộng Sản quản lý? Người dân sống trong một nước Xã Hội Chủ Nghĩa là bị quản lý từ lúc lọt lòng cho đến khi chết; từ nhỏ thì có Ðội thiếu niên nhi đồng Hồ Chí Minh, lớn lên thì đoàn thanh niên... còn về già thì có hội lão thành cách mạng. Không chạy đâu cho thoát? Ðể cai trị dân và dập tắt những tư tưởng đối lập từ trong trứng nước; họ xây dựng mạng lưới an ninh, rất chặt chẽ, từ trung ương đến tận tổ dân phố; mọi hành vi cho đến lời ăn tiếng nói của dân chúng đều bị theo dõi, giống như mạng lưới an ninh dưới thời Hô-nếch-cơ của Ðông đức. Ở nước Ðức, ranh giới Cộng Sản-Tư Bản chỉ cách nhau một bức tường, bên này nói bên kia nghe; cho nên người ta mới xây dựng mạng lưới an ninh theo kiểu đó. Còn ở Việt Nam, dưới là biển trên là núi; dù dân chúng có la làng cũng chẳng có ai nghe đâu, mà phải theo dõi chặt chẽ như vậy?

Trong guồng máy đảng của họ, cũng có Ban tổ chức chính quyền hay là Ban an ninh nội chính, chuyên theo dõi tư tưởng và hành vi của các viên chức đảng. Ở một thể chế như Cộng Sản Việt Nam, không có đảng có nghĩa là không có con đường công danh? Công danh là cái sự nghiệp mà người đàn ông phải tìm cho ra trong suốt cuộc đời của mình, nhưng công danh cũng không cần thiết bằng miếng ăn. Khi đói con người ta phải tìm miếng ăn trước đã!

Trước đây, Việt Nam là một đất nước không có nền kinh tế thị trường; con người ta muốn sống không có cách nào khác, là phải chui vô bộ máy nhà nước. Ðôi khi biết rằng; cái cơ chế nhà nước Cộng Sản không phù hợp với tính khí và công việc của mình, nhưng cũng phải vô để mà sống, để mỗi tháng được mười mấy cân gạo; còn hơn là lang thang chết đói. Cho nên có câu khẩu hiệu: “Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói”. Tôi vẫn nhớ, mỗi chạng vạng tối, trên đường vác cuốc từ đồng về nhà là trong đầu tôi lại vang lên câu: “Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói”. Tôi không phải là kẻ tâm thần, nhưng đó là cách tự an ủi mình trong thời buổi khắc nghiệt vì miếng ăn. Nếu tôi không lẩm bẩm được như vậy; có lẽ, tôi sẽ không tồn tại đến ngày hôm nay, để mà viết lách. Ai cũng đầu tắt mặt tối, lấm lem lấm luốt thì mới là vinh quang; cái vinh quang của thời Cộng Sản nguyên thủy. Vì vậy, nhiều người chịu không nổi phải bỏ nước vượt biên. Chưa hết đâu! Con vượt biên thì kêu cha mẹ lên làm kiểm điểm, phạt công ích.

Hôm nay, nền kinh tế thị trường đã mở ra cho người dân Việt Nam một con đường làm ăn; nhiều người dân ở nông thôn vào thành phố kiếm sống bằng nghề buôn gánh, bán bưng. Ngồi uống cà-phê ở vỉa hè khoảng 30 chục phút thì sẽ đếm được khoảng chừng ấy người đến mời bạn mua hàng; từ em bé đánh giày cho đến chị bán báo, từ bán vé số cho đến hộp quẹt ga... Tức nhiên, những công việc này chẳng phải là hay ho gì, nhưng dù sao cũng cho người dân một cơ hội để lựa chọn kế sinh nhai; còn hơn là trước đây, có sức lao động nhưng muốn làm cũng không được làm. Tôi còn nhớ hồi tôi là sinh viên, trước khi đi học tôi sắm cho mình một bộ đồ vá xe đạp; cứ hy vọng rằng mình sẽ kiếm được cơm trong những năm tháng xa nhà, nhưng nhiều buổi chiều xách đồ nghề ra ngồi ở góc phố mà chẳng có ai vá xe cả. Bởi vì lúc đó, ai cũng sắm cho mình một bộ đồ nghề, xe bị thủng ruột cứ dắt về nhà vá cho đỡ tốn tiền. Có một hôm; gặp ông Thầy bị thủng ruột xe, muốn vá giùm nhưng ông thầy sợ tốn tiền nên cũng dắt bộ về nhà. Từ đó, tôi không còn hy vọng sẽ kiếm thêm tiền ăn học bằng cái nghề sửa xe đạp. Tôi giải nghệ và dành thời gian để học hành! Hồi đó, tôi ngu lắm tôi không hiểu là nền kinh tế chỉ huy đã làm cho người dân trở nên ích kỷ và quay về cuộc sống của chính mình. Cái tâm lý lo toan, bòn mót của người nông dân và tiểu thương Việt Nam đã bị Cộng Sản khai thác triệt để và nó còn dai dẳng lâu lắm?

Sau ngày 30 tháng 4, tôi là một thanh niên nhiệt tình; bởi vì đó là bản chất; tôi siêng năng họp hành, tích cực tham gia các phong trào. Mới 15 tuổi, từ nhỏ đến lớn chỉ biết ăn học nhưng bây giờ phải cuốc đất trồng lúa, tham gia vệ sinh đường phố, phê bình những con người chây lì... Tôi không chịu thua các bậc đàn anh, đàn chị của mình; những con người đã trưởng thành, đã đi làm. Tôi muốn chứng minh rằng cách mạng đã cho tôi cuộc sống mới và tôi cố gắng làm tốt những gì mà cuộc sống đã cho tôi. Vì phê bình những người trước đây là lính Ngụy nên đôi lúc tôi bị đe dọa; nhưng không sao, tôi đã là người của cách mạng thì sẽ được bảo vệ.

Tôi nhớ có một lần bầu Liên phân hội trưởng, và đây là lần đầu tiên tôi thấm đòn Cộng Sản. Xin nhắc lại rằng; Liên phân hội gồm ba Phân hội thanh niên, trong một khu phố thì thanh niên sinh hoạt theo từng tổ dân phố, gọi là phân hội. Trước buổi bầu chọn này, nhiều người nói rằng tôi sẽ được bầu làm Liên phân hội trưởng. Tôi nghĩ rằng mình cũng xứng đáng được sự ủng hộ của thanh niên và vừa lòng cấp trên là Chi hội. Cũng vui rồi! Ðến ngày bầu bán; đó là một buổi tối mùa đông, trời không mưa nhưng se lạnh, tôi tin chắc rằng mình sẽ thắng cử. Thành phần bầu cử gồm hai người, tôi và đồng chí M.; nguyên tắc là bỏ phiếu kín, gạch bỏ một chọn một. Tôi chờ đợi... Nhưng không, thay vì bỏ phiếu kín thì họ lại biểu quyết bằng tay. Ðồng chí thư ký Chi hội đến tham gia phiên họp, phát biểu vài lời rồi nói rằng; ai đồng ý đồng chí M. làm Liên phân hội trưởng thì giơ tay. Kết quả đếm tay? Quá bán; hơn một nửa người tham dự, họ tuyên bố M. thắng cử; rồi đề nghị ghi vào biên bản cuộc họp. Họ không đề cập gì đến tôi cả!? Họ sắp xếp sự việc nhanh đến mức tôi không hiểu điều gì đang xảy ra nữa. Tôi trớt quớt, hơi bị quê; nhưng sau đó trấn an lại mình. Nhiều người hỏi tôi là tại sao tôi rớt chức vụ Liên phân hội trưởng? Tôi làm sao mà biết được? Tôi chỉ biết là mấy ngày trước đó, đồng chí M. tỏ ra thân mật với mấy ông ở Chi hội và mấy ổng có vẻ lạnh nhạt với tôi mà thôi! Sau này tôi mới hiểu rằng họ biểu quyết bằng tay là có ý đồ; họ đã vận động thanh niên trước rồi, đến khi giơ tay thì không ai dám chống lại ý kiến của Chi hội cả. Nếu bỏ phiếu kín thì tôi có cơ hội thắng cử; vì thanh niên có thời gian để lựa chọn, hơn nữa việc gạch bỏ sẽ không bị ai để ý.

Ðó là bài học đầu tiên của tôi về những hoạt động bè phái trong guồng máy Cộng Sản. Các bạn biết; chức vụ của Hội thanh niên là không có lương, nhưng họ còn dùng thủ thuật để loại bỏ đối thủ như vậy; huống hồ gì ở những chức vụ quyền cao, bổng trọng. Tôi không phải là kẻ cơ hội, không lợi dụng đoàn thể để mang lại danh vọng cho mình; nếu không tôi sẽ cay cú và sẽ tìm cách trả đũa. Sau này tôi gặp hai lần như vậy nữa, cũng đề bạt rồi cũng bị hạ bệ; là do cái tính khí ương bướng của tôi. Chỉ cần ai đó nói lại cái quan điểm của tôi cho người cấp trên, là tôi tiêu! Tôi muốn nhắc lại điều này; vì vấn đề mà tôi sắp đưa ra cũng liên quan đến nhân sự, đấu đá lẫn nhau trong guồng máy Cộng Sản.

Chế độ Cộng Sản là chế độ độc tài, tập quyền? Nhưng điều này chỉ đúng với đại đa số nhân dân, còn trong nội bộ của họ là sự phân quyền, chia rẽ. Sự phân quyền này phát sinh trong quá trình củng cố độc tài; có nghĩa là trên con đường xây dựng quyền lực, họ đã tạo ra quá nhiều bè phái, kẻ thù; triệt ha lẫn nhau. Ai cũng chờ một cơ hội để phục hận, rửa nhục. Một con người lên nắm quyền lực là phải tạo ra vây cánh, bao che cho chiếc ghế của họ. Trong một xã, họ so kè với nhau, người của dòng họ nào chiếm được nhiều ghế trong đảng ủy, ủy ban? Họ hơn thua nhau từng chiếc ghế một! Ngày trước ông Hồ đã nói đến chủ nghĩa cục bộ, địa phương; có nghĩa là một người nào đó lên nắm quyền là sẽ đưa bà con, dòng họ của mình lên theo; ưu tiên cho địa phương của mình, chiếu cố người trong ngành của mình. Người ta còn nói đến chủ nghĩa khác là chủ nghĩa cơ hội; có nghĩa là chụp giựt, vơ vét, cờ đến tay ai người đó phất. Có lẽ hai cái chủ nghĩa này là đứa con sinh đôi của chủ nghĩa xã hội? Ðứa con thứ ba là chủ nghĩa giáo điều, và đứa con thứ tư là chủ nghĩa thành tích... Chủ Nghĩa Cộng Sản đã đẻ ra biết bao đứa con làm băng hoại nền văn minh của nhân loại này!

Thường thì những vụ đấu đá, tranh giành quyền lực phải được giải quyết êm xuôi. Bởi vì; sau những vụ dàn xếp đó thì quan chức Cộng Sản ai cũng được hết, được nhiều được ít cũng là được; chỉ có lương dân là mất mà thôi. Còn nếu bất phân thắng bại thì cấp cao hơn trong guồng máy của họ sẽ giải quyết. Ví dụ; Phường xã có đấu đá nội bộ, ba bên tứ bộ chưa nhất thống (thống nhất; họ dùng lối đảo ngữ để gọi là có thay đổi, cho phù hợp với cách mạng) thì cán bộ ở Quận huyện sẽ xuống; quận huyện có căng thẳng thì tỉnh thành sẽ xuống; còn Tỉnh thành khi rối chuyện lại có trung ương. Ngày trước trung ương có chuyện lại nhờ đến cố vấn đàn anh Liên xô, Trung Quốc. Nếu chưa được như ý thì mời qua bên đó; Brê-giơ-nép, Giang Trạch Dân nói một tiếng là răm rắp nghe theo. Tình cảm anh em Xã Hội Chủ Nghĩa còn mặn nồng hơn nước biển Thái Bình Dương. Guồng máy của Cộng Sản hay là chỗ đó! Trên nói là dưới phải nghe, nghe cho đến cái thằng dân đen ba trời ba trợn; không có cái chuyện cãi lại hay là từ chức như thằng tư bản? Cộng Sản như con rắn độc; đánh rắn thì phải đánh trúng đầu, còn đánh cái đuôi hay khúc giữa, nó quay lại táp cho một cái là toi đời. Cho nên khi Liên Xô không còn nữa, người Mỹ không ngần ngại tuyên bố; chiến tranh lạnh đã kết thúc. Hiện nay, ông anh Trung Quốc có nhiều việc phải lo và không còn tin thằng em có bản chất tráo trở. Vì vậy, cuộc đấu đá quyền lực của Trung ương Cộng Sản đảng Việt Nam như rơi vào bế tắc?

Thời gian gần đây, dư luận xôn xao về lá thư của Thương tướng Nguyễn Nam Khánh (N.N.K). Nội dung thư là yêu cầu phải giải quyết dứt điểm vụ T4, vụ đó đại khái như thế này: Có một nhóm người lập bằng chứng giả tạo, vu khống cán bộ cao cấp trong công an, chính quyền, đảng... làm việc cho CIA. Chuyện này đối với tôi không có gì mới, bởi vì khi biết bản chất một sự vật thì sẽ biết những cái nằm bên trong của nó. Tức nhiên chỉ có bọn tiểu nhân mới đơm đặt để hại người hiền lương mà thôi, chứ người quân tử ai lại làm như vậy? Cứ việc nhìn mặt người thì cũng biết ai đã đặt điều cho ai rồi; chứ đâu cần phải điều tra, xét hỏi. Tội phạm học nhân diện là ở đây! Ðiều ngạc nhiên của tôi là tại sao sự việc xảy ra cách đây 10 năm; mà bây giờ các vị tướng lãnh, những vị anh hùng của một thời, mới đòi đem ra xét xử để trả lại danh dự cho mình? Nghĩ cũng cay, bom đạn Mỹ không chết, đòn thù không khuất phục mà lâu nay lại chịu nhục dưới mưu đồ của bọn nhãi ranh? Nếu để ý mọi chút, thì quý vị sẽ thấy rằng thời điểm cao nhất cho sự lộng hành của Tổng cục II là những năm 1994-1995, thời điểm mà Năm Cam làm mưa làm gió ở Việt Nam và thời điểm mà số người bị bắt giam oan sai nhiều nhất. Những vụ việc mà Viện Kiểm sát và Công an xin lỗi dân chúng và xin được bồi thường, trong thời gian gần đây, phần lớn xảy ra vào thời điểm này? Vì sao vậy? Bởi vì có quá nhiều người dựa hơi vào Tổng cục II để lộng quyền, để bắt người, để giam oan! Như vậy, tay chân của Tổng cục II không phải chỉ nằm ở Hà Nội và Sài Gòn mà còn cắm ở Sóc Trăng, Cần Thơ... Hà Tây.

Chiếm giữ quyền lực và thi thố quyền lực là một niềm vui thú của đàn ông, và điều này có lẽ là sở thích bản năng của con người xuất phát từ cuộc sống săn bắn, hái lượm. Vì vậy, vua chúa ngày xưa thích săn bắn và ưa nhìn thấy máu của những con vật hiền lành, ngoan ngoãn.

Trong binh pháp Tôn Tử, ở chương dùng gián điệp có nói đến kế nội gián. Nội gián là dùng gián điệp xâm nhập vào hàng ngũ đối phương để lấy tin tức, nắm được mạng lưới của địch để phục vụ cho mục tiêu của mình; còn phản gián là dùng gián điệp của địch để quay lại phục vụ cho mình. Ông Lê Đức Anh đã dựng nên một hồ sơ nội gián giả tạo, với mục đích triệt hạ những con người không thuộc phe phái ông ta; trù dập những con người trung kiên, một lòng một dạ, sắt son vì dân vì nước. Nhưng do sử dụng vụng về, nên kế nội gián của ông ta đã trở thành kế “ly gián ngược”. Xin nhắc lại ly gián có nghĩa dùng gián điệp xâm nhập vào hàng ngũ của địch để chia rẽ, phá hoại quân địch. Tôi dùng chữ ly gián ngược, bởi vì ông ta đã dùng kế gián điệp để ly gián trong chính nội bộ của mình? Kế này không có trong binh pháp Tôn Tử! Với mưu đồ này ông có thể ra tòa án binh với cáo trạng: Chống đảng, Phá nước, Hại dân... Loạn thần, nghịch tặc, phá hoại kỷ cương phép nước, lừa trên gạt dưới là cái tội đáng bị chém đầu?

Phải có một đầu óc giàu tưởng tượng mới có thể viết tiểu thuyết trinh thám được. Nhiều người cảm thấy khó hiểu khi đọc câu chuyện gián điệp T4; nhiều đoạn hư cấu, ly kỳ, hấp dẫn giống như là tiểu thuyết gián điệp rẻ tiền đang bày bán nhan nhản trong các hiệu sách. Ðầu tiên đọc, tôi thấy câu chuyện cứ loạn tùng phèo! Nhưng sau khi định tâm lại thì đâu có cần theo dõi sít sao nội dung, bởi vì tôi đã quen với lối nói của những người Cộng Sản: thao thao bất tuyệt, quanh co dài dòng, tràng giang đại hải... nhưng đúc kết lại thì chỉ cần một câu là đủ. Nhưng thôi! Những người đồng chí, đồng đội của họ mà họ còn chụp cho cái mũ, là làm việc cho CIA; vị đại tướng oanh liệt một thời mà họ còn không buông tha nữa; huống hồ gì tôi chỉ là thằng dân, đã có một thời ăn cơm Mỹ-Ngụy.

Người Mỹ có lẽ cũng phì cười! Mấy anh tự giăng bẫy rồi chui vào, chứ chúng tôi không cài đặt ai đó nghe! Chúng tôi chưa đánh mà mấy anh dùng tiếng tăm, ảnh hưởng của tôi để đánh nhau rồi đó nghe! Ở Việt Nam cũng như ở mọi nơi khác, người ta đều nghe nói tới CIA; người ta biết đến như là mọi tổ chức bí mật chuyên lật đổ, giàu tiền bạc, thừa sức mạnh và có quyền sinh sát trong tay. Dùng một tổ chức thực thực hư hư, lúc ẩn lúc hiện, có nhiều quyền lực để trừ khử nhau, thì quả là thượng sách! Người Mỹ có lẽ đã biết trước chuyện này, và họ chỉ cần chừng đó là đủ.

Tình hình chính trị trong nước rối ren; tình hình này sẽ ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế. Chỉ khác với các chế độ dân chủ là người ta thấy dân chúng xuống đường biểu tình, công đoàn bãi công, nhà báo quay phim chụp ảnh, TV chiếu đi chiếu lại... Sự ngấm ngầm đấu đá trong nội bộ Cộng Sản còn nguy hiểm hơn nhiều lần. Tầng lớp trên cao đấu đá nhau càng ác liệt, thì tầng lớp dân đen bên dưới càng hốc hác, giơ xương. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết mà! Sự ì à ì ạch, chậm phát triển, bát nháo trong một đất nước Cộng Sản là có nguyên nhân từ đấu đá nội bộ? Người ta cố tình đưa hình ảnh Việt Nam như là một đất nước thanh bình, ổn định chính trị để kêu gọi đầu tư, phát triển du lịch; nhưng những gì đang diễn ra trong xã hội lại trái ngược với những hình ảnh đó. Ðể dễ hiểu, tôi có thể chia cuộc đấu đá chính trị trong chính trường Cộng Sản Việt Nam làm bốn phe:

1. Phe đương quyền, gồm những con người đang đương chức; ông Trần Đức Lương, ông Phan Văn Khải, ông Nông Đức Mạnh. ông Nguyễn Nam Khánh

2. Phe cố thủ, gồm ông Lê Đức Anh. và những người tay chân của họ Vũ Chính họ Nguyễn Chí Vịnh

3. Phe phản công, gồm ông Võ Nguyên Giáp. và những người bị vu oan giá họa bao nhiêu năm nay. Tức nhiên, cũng có những người bị vu oan giá họa nhưng vẫn nằm im, chưa lên tiếng (Những người này đã mất đi cái dũng khí, một thời oanh liệt).

4. Phe dân chủ gồm các chiến hữu trong phong trào dân chủ, mà nhân vật trung tâm là cố trung tướng Trần Ðộ.

Bốn phe này đều có mối quan hệ cũ, tương hỗ với nhau. Ngày xưa có cùng chiến hào, ngày nay có những mục tiêu, giá trị cần đạt được; nói theo ngôn ngữ của thời đại toàn cầu hóa là có cơ hội nhưng cũng đầy thách thức, có tương đồng nhưng cũng đầy cạnh tranh. Phe cố thủ thì muốn dùng phe đương quyền để xuê xoa những sai trái, tội lỗi mà họ đã gây ra. Còn phe phản công thì muốn giải quyết dứt điểm nợ nần, ân oán. Mục tiêu mà các phe đưa ra là để giữ vũng an ninh chính trị và trật tự xã hội! Chỉ có khác nhau, là cách thức để đạt được sự ổn định chính trị như thế nào mà thôi? Bởi vì không phe nào muốn đất nước bị xáo trộn, cuộc sống của họ bị đe dọa. Phe đương quyền muốn ổn định chính trị, ngay tức khắc, phải ém nhẹm vụ này đi; vì vậy mới có chuyện khám xét nhà Trung tướng Lê Hồng Hà để tìm ra lá thư của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh. Phe phản công cũng muốn ổn định chính trị lâu dài, nên phải giải quyết rốt ráo vụ này. Nhìn vào bản chất của sự việc và tính khoa học thì cách giải quyết của phe phản công là hợp lý và có tính bền vững. Cứ ém nhẹm hoài, đến lúc đổ xòa ra thì biết đâu mà chống đỡ? Như vậy, kẻ tám lạng người nữa cân; sự ổn định chính trị chỉ khác nhau về cái chiều thời gian mà thôi.

Thời gian là cái gì? Ðối với nhà tâm lý thì thời gian sẽ làm vơi đi những đau khổ, mất mát; đối với nhà vật lý thì thời gian là chiều thứ tư của không gian, vật chất có thể là có nghĩa nhưng cũng là vô nghĩa nếu mất đi cái chiều này; còn đối với những nhà chính trị thì thời gian là thời cơ, là yếu tố duy nhất để tích tụ lực lượng... Ðây là cuộc chơi của phe dân chủ; thời gian sẽ giúp phe dân chủ sắp xếp lại lực lượng, củng cố lại đội hình, tập trung sức mạnh, tấn công dồn dập, không mệt mỏi đánh vào những điểm sơ hở nhất, lỏng lẻo nhất của thế lực độc tài. Câu chuyện ngụ ngôn kể rằng; hai con lừa cùng tranh nhau trên chiếc cầu hẹp để đòi đi trước, không con nào chịu nhịn con nào; cuối cùng cả hai con đều rớt xuống sông. Cộng Sản Việt Nam đang ở trong bối cảnh gần giống như vậy!

Ông Võ Nguyên Giáp. là người quá già! Khi về già con người ta thường nghĩ đến quá khứ hơn là tính toán cho tương lai; một phần do cái bệnh thoái hóa não tuổi già, phần khác do cái bệnh công thần; người ta luôn nhìn đến ánh hào quang của quá khứ, làm chói mắt. Tôi còn nhớ là vào khoảng năm 1994-1995 gì đó; ông Mac-Namara, kiến trúc sư của cuộc chiến tranh Việt Nam, có đến Hà Nội. Ông ta có nói với ông G. là ông ta lấy làm hối tiếc, và sai lầm khủng khiếp khi phải phát động cuộc chiến tranh Việt Nam; ông ta nói như trong quyển hồi ký “The tragedy and lessons of Vietnam” của mình. Nhưng ông G. vẫn cứ huênh hoang rằng: Cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ là hoàn toàn chính nghĩa, dù phải hy sinh nhiều xương máu.

Những lời phát biểu của ông Võ Nguyên Giáp. làm nhiều người cảm thấy lo; bởi những lời lẽ như vậy làm cho con đường bình thường hóa với Mỹ trở nên dài hơn. Tôi không hiểu là tại sao ông ta lại phát biểu sự cố chấp đó? Sự kiêu ngạo của Cộng Sản không cho phép ông ta nói lời hối tiếc hay sao? Ông ta không có lỗi, khi ông ta đã góp phần gây nên cuộc chiến làm ba triệu người Việt Nam chết, và ba trăm ngàn người còn mất tích hay sao? Rồi cái vụ mới đây nhất là tượng đài chiến thắng Ðiện Biên Phủ; ông ta đã đến thăm, làm lễ kỷ niệm 50 năm và khánh thành tượng đài. Nhưng chẳng bao lâu sau khi ông trở về Hà Nội; cái nền của tượng đài gắn liền với niềm kiêu hãnh của ông ta, đã sụt đổ; mà ông ta không tỏ ra một chút cảm xúc nào cả. Ông ta không có cái khí khái và dũng mãnh của một tướng quân? Một người có danh dự và lòng tự trọng thì chỉ một chút vấy bẩn, là họ đã nổi đình nổi đám lên rồi. Khác với ông Trần Bạch Ðằng, ở trong Nam, đang nằm bệnh viện thở ô-xy; nhưng nghe cái vụ Lương Quốc Dũng là ông ta nổi đóa lên, đòi đem ông Dũng ra xử bắn.

Hà Nội đất chật, người đông! Các tinh hoa của nước Việt Nam đều quy tụ về đất Kinh kỳ. Những vị tướng lĩnh và các cựu chiến binh; sau hai cuộc trường kỳ kháng chiến, không ai muốn rời xa thủ đô. Và hình như; mảnh đất Hà Nội đã trở nên quá chật, không đủ để họ vùng vẫy, thi thố sức bình sinh của một dân tộc đã có lịch sử bốn ngàn năm văn hiến. Chuyện đấu đá nội bộ vẫn còn là chuyện dài nhiều tập. Chỉ biết một điều rằng; trong cuộc đời mỗi con người đều nhận được những cái mà tạo hóa đã ban cho họ. Ðó chính là lẽ công bằng của trời đất!

QCTS

Saigon, ngày 20/8/2004.