Sách báo Việt ngữ ở thủ đô Tị Nạn
Bolsa, California

nguồn: nguoiviet.com

NGUYÊN HUY ( III ) Ở tiệm sách Văn Khoa trong khu Phước Lộc Thọ, đôi lần đến mua sách chúng tôi cũng thấy khá nhiều bạn trẻ đến lục tìm sách trên các kệ sách về văn hóa. Tại tiệm sách này các loại sách cũng có đủ. Nhiều cuốn sách tưởng không còn nhưng cũng thấy bầy bán. Chẳng hạn như cuốn Việt sử của Trần Trọng Kim hay cuốn Thi Văn Giảng Luận của Dương Quảng Hàm.

Nhiều bạn trẻ đã chăm chú lục tìm những sách về văn học VN chẳng hạn như những cuốn phong dao, tục ngữ của Nguyễn Văn Ngọc hay Toán Ánh hay cuốn Văn Minh VN của Lê văn Siêu. Một thiếu nữ trẻ, phục sức khá duyên dáng chúng tôi gặp vào trưa hôm thứ tư mùng 2 tháng tư vừa rồi tại nhà sách Văn Khoa đang lục tìm trên kệ sách văn học, cho chúng tôi biết "Cháu thích đọc sách về ca dao, tục ngữ vì cháu thấy người dân quê mình diễn tả tâm trạng hay quá. Cháu học trong trường Mỹ có tìm hiểu nhưng không thấy có loại văn chương như vậy. Hỏi cô giáo, cô ấy cho biết người dân quê Hoa Kỳ diễn tả tâm tình mộc mạc của họ qua những ca khúc gọi là Country music. Nhưng cháu thấy nội dung không phong phú như ca dao." "Nhưng tại sao cháu biết là người dân Việt có ca dao mà cháu đi tìm đọc ?" "Cháu nghe trên Đài phát thanh vào buổi chiều có cô gì ấy có mục đọc ca dao cháu thích lắm nên cháu đi tìm." "Cháu có hay đọc sách tiếng Việt không ?" "Ít lắm chú ơi, nhưng từ ngày đi tìm sách ca dao, cháu đến tiệm sách, cháu mê luôn. Chỉ tiếc là cháu đọc mà không thông hiểu lắm nên cháu đã xin theo học lớp văn học VN của Viện Việt Học. Bây giờ thì cháu có thể đọc được cả sách của giáo sư Viện Trưởng. Chú có biết cuốn " Mấy vấn đề văn hóa" của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch không." Tôi thú nhận có biết nhưng thật tình chưa đọc. Cô cười tỏ vẻ nghi ngờ. "Thế cháu có hay đọc truyện của các nhà văn Khái Hưng Nhất Linh không ?" "Cháu hay đọc ông Nguyễn Ngọc Ngạn." "Cháu thích văn của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn ?" "Cháu xem Video thấy ông ấy pha trò vui nên tìm đọc truyện của ông. Vả lại truyện của ông ấy viết đọc không phải suy nghĩ gì. Nhưng bây giờ cháu có trình độ tiếng Việt rôi cháu sẽ đọc những cuốn sách văn học để tìm hiểu văn hóa VN phải không chú." Chỉ còn biết gật đầu để che dấu một cảm tình đặc biệt với bạn trẻ này.

Còn có một cậu tuổi chỉ khoảng ngoài 20 thôi, hình như ở đâu xa, tháng nào cũng thấy ghé mua đến hàng chục cuốn sách chính trị, hồi ký. Tôi tưởng cậu ấy mua về cho cha anh. Hỏi ra thì cậu ấy nói mua cho mình đọc." Bà chủ tiệm sách nói với tôi như vậy khi thấy tôi có vẻ mến phục khách hàng của mình. Nhân tiện tôi cũng thăm dò về tình hình khách hàng độc giả. Bà cho biết "Thật ra thì khách lớn tuổi nhiều hơn. Đa số các vị này thường tìm loại hồi ký chính trị. Giới tuổi 40 lại hay tìm những sách khoa học, ngôn ngữ học và tự điển Anh Việt. Vào những ngày lễ Tết hầu như khách phương xa đều tới đây lấy sách. Những khách hàng này thì mua đủ thứ bất kể là loại gì. Họ chỉ cần liếc tên tác giả thôi."

Tôi chợt nhớ có người đã nói với tôi rằng nhà sách này chủ nhân là một trí thức trong ngành giáo dục trước năm 1975 nên sách báo được bầy bán ở đây thường được chọn lọc. Tôi lặng lẽ lục tìm trong những kệ sách các loại quả không thấy những loại sách mà chúng ta thường gọi là nhảm nhí. Phần lớn những chủ tiệm sách tiếng Việt ở hải ngoại thường là những người đã có ít nhiều kinh nghiệm trong nghề từ trước năm 1975. Họ có thể là những nhà văn, nhà báo, giáo sư học giả.

Tuy nhiên chuyện buôn bán là phải chấp nhận những cạnh tranh, độc quyền để sanh lợi. Một số các tác giả tự in sách và phát hành thường phàn nàn về chuyện sách gửi hay bị các nhà sách chậm trễ trả tiền. Vấn đề này chúng tôi có đem hỏi ông bà Văn Tường chủ nhà sách Văn Bút thì được cho biết : "Chuyện ấy xưa rồi. Bây giờ chúng tôi lấy sách thường trả tiền thẳng sau khi đã trừ tiền hoa hồng cho nhà sách. Làm như thế những người có sách đem bán rất thích vì vừa thu được tiền ngay mà không phải lo sách bị ế. Nhưng có những trường hợp sách của những tác giả nổi tiếng quá, phát hành đến đâu là bán hết đến đó. Vào những trường hợp này những nhà sách chúng tôi phải san sẻ cho nhau để có sách bán, chứ chẳng có ai độc quyền đâu. Đối với những nhà văn, học giả mà chúng tôi biết họ có khó khăn chúng tôi thường bảo nhau cố gắng phát hành dùm bởi chúng tôi nghĩ những người như thế, họ không làm thương mại trong việc bán sách mà họ đã đem hết cả tâm huyết cuộc đời mình mà dâng hiến vào công việc sáng tác, nghiên cứu."

Sách cũng có một thị trường. Đó là những người đọc. Họ thuộc nhiều lớp tuổi, nhiều trình độ... Những nhà sách nếu có máu thương mại, ắt hẳn phải nghiên cứu thị trường ngõ hầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì mới sanh lời, nếu không thì lỗ là điều chẳng ai muốn. Khi nghiên cứu thị trường sách tiếng Việt ở hải ngoại thì ai cũng thấy một điều hiển nhiên là thế hệ trẻ không phải là đối tượng làm ăn của mình cho nên thường quên lãng đi. Nhưng thực tế lại khác. Trong bốn nhà sách tại nam California mà chúng tôi có dịp thường ghé đến thì cả bốn tiệm đều cho chúng tôi biết số độc giả trẻ tuổi cũng là những khách hàng khá đông. Nhu cầu đọc của họ thường nhắm vào hai loại sách, một là sách hồi ký, nghiên cứu văn học và hai là truyện chưởng.

Khi được biết như thế chúng tôi chợt giật mình thấy rằng nếu vì nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu, mà các bạn trẻ ấy mua phải nhũng sách nghiên cứu lịch sử văn học, chính trị do các Nhà Xuất Bản Nhân Dân, Trẻ, Hội Nhà Văn, thành phố Hồ Chí Minh...đang được bầy bán tại một số các nhà sách lớn thì liệu các bạn trẻ ấy có nhìn được thấy cái Nhân Sinh Quan, Vũ Trụ Quan hay cái sử quan của người Cộng Sản thường đem áp dụng vào việc trước tác, nghiên cứu và phê bình...để đặt ngay lại sự việc vốn có mà không bị bóp méo không. Và nếu không, thì ai và tổ chức nào của người Việt quốc gia ( được hiểu theo nghĩa Dân Tộc ) có đủ khả năng và uy tín để "báo động" cho các bạn trẻ ham học hỏi được biết cái ý đồ của người CS.

Mọi điều mà chúng tôi phân vân mãi là không hiểu tại sao trong chuyện làm ăn tự do ở Mỹ mà những người buôn bán sách vẫn chỉ khai thác được có một chiều nghĩa là đem sách báo trong nước ra hải ngoại phổ biến mà không thể đem sách báo hải ngoại về trong nước phát hành được khi mà Hiệp Ước Thương Mại giữa Hoa Kỳ và VNCS đã ký kết và đang được thi hành .

Nếu chúng ta mà làm được việc này thì bảo đảm những nhà buôn bán sách một chiều bây giờ thế nào cũng làm ăn lớn được vì cái khối độc giả trong nước không chỉ là vài ba chục ngàn mà là cả triệu người, tha hồ mà hốt bạc. Một người trong giới làm ăn này, xin được dấu tên có tiết lộ rằng "Trong công việc làm ăn này anh em chúng tôi cũng định đem sách báo về trong nước trao đổi hai chiều nhưng họ không chịu, mình cũng đành thôi. Chỉ còn có cách là thúc đẩy các vị Dân cử đại diện cho mình mà đòi hỏi CSVN phải để cho người Mỹ gốc Việt là chúng ta cũng được mang sách báo về nước bán như họ đã nhờ chúng ta bán ở hải ngoại. Nhưng chúng tôi làm thương mại thì thì giờ đâu mà làm công việc của các vị chuyên đấu tranh và làm văn hóa ở hải ngoại."

NGUYÊN HUY

Đụng Vào Cõi Thơ

nguồn: honque.com

Phan Xuân Sinh

Lời Tác Giả: "Đây là một bài Phiếm tác giả tưởng tượng ra mọi tình huống, mọi dữ kiện để người đọc mua vui trong chốc lát. Không hề có chủ ý châm chích ai. Nếu các hư cấu nầy có trùng hợp với vài trường hợp cá nhân thì đó là ngoài ý muốn của tác giả. Kính xin quý vị lượng tình tha thứ."
(Phan xuân Sinh)

Đụng Vào Cõi Thơ
Thơ, một cõi đứng riêng biệt cho những người múa may chữ nghĩa trên văn đàn. Nhà thơ chính hiệu và nhà thơ không chính hiệu đều tiến bước song song không bị một lực cản nào cả. Cái đích mọi người phải đạt tới là sự nổi tiếng. Phương tiện truyền tải là báo chí, mà báo chí hải ngoại thì thật dễ dãi với những người làm công tác trí tuệ, nghĩa là báo chí sẵn sàng dành đất cho họ cắm dùi. Không đăng trên những tờ báo nổi tiếng thì đăng trên báo chợ, báo địa phương nầy không đăng thì địa phương khác đăng. Miễn sao họ có nặn ra chữ nghĩa thơ phú thì họ có ngay đất dụng võ. Có một điều lạ là những nhà thơ nổi tiếng thì họ rất khiêm cung, nhún nhường. Bước đi của họ thong thả mực thước, không gây ồn ào. Họ thận trọng từng lời từng chữ trong thơ cũng như trong giao tiếp, được văn giới nể nang và kính trọng. Còn một số ít, cũng may là số nầy không nhiều, họ xô đẩy chen lấn, cố ngoi lên bằng con đường tắt không phải bằng tài năng mà bằng thủ đoạn. Một nhà thơ nào đó thấy được cảnh dầu sôi lửa bỏng nầy, than rằng: "bây giờ người làm thơ nhiều quá, mà tìm đỏ mắt không thấy được một thi sĩ".

Tôi cũng chập chững làm thơ, nhưng tôi thấy làm thơ quá khó, ngồi cả buổi chẳng rặn ra được chữ nào, có khi làm được năm bảy câu ngày mai xem lại thấy chẳng giống ai, chẳng ra cái gì nên đành phải xé bỏ. Có người nói với tôi rằng một ngày họ có thể làm được vài bài thơ như chơi, họ đúng là thiên tài. Có người đến Mỹ mới có 5 năm họ làm được 5 ngàn bài thơ. Họ thuộc vào loại Thánh thơ.

Tôi không đề cập tới vấn đề thơ hay hoặc thơ dở. Thơ thì không thể xét đoán một cách hồ đồ được, nhất là cái nhìn của tôi lại thiển cận. Khen người nầy chê người khác là điều cấm kỵ đối với tôi. Ai làm thơ được đều hay cả, chứ không thể nào dở được. Đó là tâm huyết của họ gởi gấm trong đó. Mình không thích cũng không nên nói lên sự thật phũ phàng nầy, phải khen cho được lòng. Chính vì điểm đó, các nhà thơ dù hay, dù dở cũng được tâng bốc lên tận mây xanh. Họ cảm thấy rằng trong thiên hạ không có ai qua mặt được mình, thơ của mình đã đạt tới đỉnh cao của nền văn học. Đọc thơ mà không khen sẽ bị tác giả phản ứng ngay lập tức: "Ồ, thằng đó mà biết gì thơ phú, chỉ rúc vào xó bếp hầu cơm cho vợ là được việc." Cho nên, đừng bao giờ dại dột chạm đến điều húy kỵ nầy. Tôi chỉ biết mỗi một điều là đọc thơ ai tôi đều khen tới tấp, khen không ngớt hơi. Tôi không thực lòng, nhận xét ba phải? Thà chịu tiếng như vậy, chứ láng cháng bày đặt chê bai thì sẽ lãnh đủ mọi búa rìu.

Có một anh bạn kể cho tôi nghe một chuyện thật thâm thúy. Có một nhà thơ nữ gửi đến biếu cho nhà phê bình nọ một tập thơ còn nóng hổi mới ra lò. Bà chờ đợi mãi tuần nầy qua tuần khác vẫn không thấy ông nói gì về tập thơ của mình gởi tặng. Bà nhờ một người nguyên là bạn thân của nhà phê bình nọ đến dọ hỏi xem ý kiến của ông ấy nghĩ thế nào về tập thơ của mình. Sau một màn chuyện vãng loanh quanh, ông kia hỏi nhà phê bình đã xem tập thơ chưa? Nhà phê bình vừa vuốt râu hể hả trả lời: "Sau khi xem tập thơ đó, tôi mới khám phá ra được một điều là tôi cũng có khả năng làm thơ được". Nhà phê bình đòi nhảy qua lãnh vực thơ? Thật là điều tréo cẳng ngỗng. Ông muốn nói, nếu làm thơ mà dễ như vậy thì ông đã làm thơ từ khuya rồi. Nhà phê bình mà không dám đụng vào cõi nầy, thì cái thứ tép riu như tụi tôi thì làm sao sớ rớ tới.

Cõi thơ cũng thật lắm chuyện, nhà thơ lớn, nhà thơ nhỏ, chiếu trên, chiếu dưới, người viết trước, người viết sau, kẻ thành danh, kẻ chập chững v.v... nghĩa là lắm thứ, lắm chuyện, nó giống như mâm cỗ ở đình làng phải ngồi theo tiên chỉ, lão làng, thứ dân, cùng đinh... Cho đến bây giờ tôi cũng không biết thước nào đo để tiện sắp theo thứ bậc. Thường các thứ bậc nầy đều do chính tác giả vỗ ngực tự nhận, họ tự đánh giá và tự phong cho họ ngang hàng với ai. Còn người đọc thì chưa có ai đứng ra làm một thống kê sắp xếp. Tham gia giữa đám văn nghệ ở một vùng nào đó, dù chúng ta giữ thái độ bình tĩnh chúng ta vẫn cảm thấy nóng mặt trông thấy những khuôn mặt hiu hiu tự đắc, hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Họ cho họ thuộc hàng "minh chủ" của vùng nầy, họ phán thế nầy, đòi hỏi thế kia, có ai nổi một chút là họ xâm xỉa, đè bẹp, ganh ghét. Không thấy Thái Sơn ở đây sao mà còn láng cháng. Kiểm lại văn nghiệp của họ thì chẳng có chi gọi là ghê gớm, đọc thơ của họ thấy thấp thoáng kiểu thơ thời xa xưa, từ ý cho đến thể thơ cũ mềm, không mang hơi hám nào mới lạ. Thế mà có khi họ đòi phải ngang hàng với các tiền bối thi ca thì mới xứng danh văn nghiệp của họ.

Đọc một tờ báo nọ, thấy vị nữ giáo sư Việt văn phê bình một nhà thơ với lời lẽ quá nặng. Bà bảo rằng Nhà Thơ nọ không biết niêm luật của một bài thơ Đường, vì ông ta gieo vần lộn xộn, nên bà phán rằng dù dễ tính vẫn không thể bảo ông là một nhà thơ được. Vài ngày sau có một văn nhân khác bênh vực cho nhà thơ kia, với một lý luận hết sức... hàm hồ. Ông cho vị nữ giáo sư Việt văn kia chê vì tỵ hiềm, vì ân oán cá nhân chứ rõ ràng vị thi sĩ nhà ta đúng là bậc "Thánh thơ" mà bà ta lại không biết nên quá khắc khe. Bài thơ Đường kia đúng là thơ Cổ Phong chứ không phải thơ Đường Luật. Nghĩa là theo ý ông ta cứ làm thơ Đường, nếu ta trật luật thì chẳng sao cả nó sẽ thành thơ Cổ Phong. Lời qua tiếng lại bao nhiêu danh từ nặng ký mang chất thơ đều tuôn ra như nhả ngọc phun châu, mạt sát nhau thậm tệ. Nói cho cùng người bênh vực cũng chẳng biết loại thơ cổ phong là loại thơ gì, cốt ý là choảng lại người kia cho hả tự ái của bạn mình. Đã bảo rồi đọc thơ là phải khen. Vị nữ giáo chức nọ bao năm gõ đầu học trò, tưởng rằng đầu của Nhà thơ "bậc thánh" nầy cũng giống như học trò của mình nên gõ đại, đâu ngờ bị phản ứng mạnh mẽ. Tôi đưa ra chuyện nầy để quí vị biết là khi đã là một "Nhà Thơ" thì không thể "sai", và nếu mà họ lỡ sai thì mọi người cắn răng chịu đựng, chứ không ai được quyền phê phán chê bai.


Tôi có một người bạn, xin tôi địa chỉ của một nhà thơ đã lừng danh qua nhiều thập niên, tôi nghĩ anh bạn tôi muốn gởi biếu ông thi sĩ nọ cái gì đó. Vài ngày sau anh cho tôi biết anh muốn gởi bản thảo của một tập thơ sắp sửa in, nhờ ông ta viết lời giới thiệu. Tôi hỏi anh bạn chuyện nầy thật cần thiết như vậy sao? Anh trả lời với tôi là được một nhà thơ lớn viết giới thiệu cho tập thơ thì không có gì vinh dự bằng. Nghĩa là theo ý anh, độc giả cần đọc lời giới thiệu hơn là đọc nội dung của tập thơ. Hoặc là được nhà thơ lớn giới thiệu sẽ tăng cái hay của thơ anh lên, nếu không có cái nầy thì sẽ bị chìm nghĩm. Hoặc là anh đương nhiên ngang hàng với những người thành danh, vì thơ anh hay thì nhà thơ lớn kia mới giới thiệu chứ v.v...nghĩa là thơ hay hoặc thơ dở không cần chính tài năng của mình, mà chỉ dựa vào lời người giới thiệu, nhất là người đó là một nhân vật nổi tiếng. Quan niệm đơn giản như vậy nên làng thơ bây giờ tác phẩm nhiều hơn sung rụng. Nhà sách không nhận bán giùm thơ, vì nếu nhận thì không đủ kệ để sắp thơ lên bày bán.

Một người bạn khuyên tôi không nên viết lời giới thiệu hay lời bạt cho bất cứ tập thơ nào, dù người đó có thân thiết cách mấy cũng đừng dại dột làm điều nầy. Anh cho tôi biết trường hợp của anh như sau. Một người bạn mang tới một tập bản thảo của tập thơ sắp in, nhờ anh viết lời giới thiệu. Anh sốt sắng nhận lời. Anh đem tất cả tâm huyết ra viết, không ngớt lời khen tặng, thổi phồng con kiến thành con voi. Viết xong anh đọc đi đọc lại rất hả dạ. Qua nhiều đêm suy nghĩ anh lý luận rằng tập thơ nào cũng không tránh khỏi vài khuyết điểm nho nhỏ. Độc giả tinh ý họ sẽ biết, chê mình ba xạo, viết lếu láo. Khen quá đọc thấy cũng ngượng hay mình lấy rút ra vài điểm lấy lệ để độc giả khỏi phiền lòng. Thế là giông bão nỗi lên, ông bạn của tôi và nhà thơ đó xem như đoạn tuyệt. Có nhiều trường hợp tác giả tự viết lời giới thiệu, tự khen mình rồi để tên bạn của mình. Đặt cái cày trước con trâu, người bạn không phản ứng được vì mọi chuyện đã rồi, gạo đã thành cơm. Người bạn ngậm bồ hòn làm ngọt. Làm gì có cái chuyện liêm sĩ khi mà người ta dùng thủ đoạn để được nổi tiếng.

Vài năm gần đây, tại hải ngoại có một phong trào rất "dễ thương": Thơ phổ nhạc. Nhiều nhà thơ tìm tới những nhạc sĩ danh tiếng lẫy lừng, để nhờ phổ nhạc bài thơ của mình. Thường thì người nhạc sĩ trước đây đọc được bài thơ mà họ cảm thấy hay, họ có cảm hứng và phổ bài thơ đó. Còn bây giờ nhà thơ mang thơ của mình tới, nài nĩ, quỳ lụy, trả thù lao cho người nhạc sĩ để họ phổ thơ của mình thành nhạc. Trong tập thơ có nhạc phổ thơ của các nhạc sĩ nổi tiếng thì danh tiếng của mình càng thêm vang lừng, độc giả lé mắt, các người làm thơ khác phải cúi đầu kính phục. Có người mang mấy bản nhạc phổ thơ của mình về Việt Nam, thuê các ca sĩ chuyên nghiệp đang ăn khách hát để thâu vào CD, qua đây gửi bày bán ở các nhà sách lớn. Có một nữ sĩ phải dùng thẻ tín dụng để trang trải cho các chi phí thâu CD tại Việt Nam. Qua Mỹ nợ đòi hàng tháng cấp bách, nên nơi nào có đám đông người Việt, bà xè mấy cuốn CD nài nỉ người mua giống như một người đi xin, bất kể sĩ diện. Bà nghe nơi nào có cuộc họp mặt là bà nhào tới, không cần biết được mời hay không, bà khệ nệ cái khay CD đến từng người mua giùm. Muốn nổi tiếng cũng thật vất vả và cũng lắm công phu.

Có những tập thơ mà khi mở ra ta mới hay đây là một cuốn album của nhà thơ đó, đủ loại hình ảnh từ vợ con, người yêu, bạn bè v.v...đều có mặt. Có người muốn giới thiệu sự nghiệp trước đây của mình sau một trang thơ là vài ba trang hình ảnh một thời sung túc của mình, quan quyền, vợ đẹp con ngoan. Thật vui mắt. Không cần thơ, chỉ cần hình ảnh vàng son cho mọi người thấy cả cuộc đời "lên voi" của mình. Ai dám chê thơ của mình là ngô nghê, nhìn hình ảnh oai hùng như thế mà thơ ngô nghê sao được. Có một nhà thơ viết tiểu sử vài ba chục trang giấy, những bằng cấp học vị của ông trải qua các trường học từ Việt Nam tới Mỹ, chiếm hầu hết các trang giấy. Độc giả không cần phải đọc thơ chỉ thấy bằng cấp là đủ choáng ngợp. Người bạn của tôi cầm tập thơ của ông lên, thử làm một con tính số năm của ông ngồi mài kinh sử ở các trường Đại Học mất chừng 100 năm, mới lãnh đủ các bằng cấp như vậy. Người thông thái như ông thì khỏi phải đọc thơ cũng đủ biết thơ ông ở vào cõi vô minh, chứ người trần tục không thể hiểu những dòng thơ bác học như vậy.


Thường thì những nhà thơ nữ thuận lợi hơn những nhà thơ thuộc đấng mày râu. Ở đây chúng ta không nói đến tài năng, có lẽ thơ bây giờ không cần ở tài năng mà chỉ cần ở ngoại hình chăng? Hèn gì mà ta thấy các nhà thơ nữ chiếm ưu thế quá chừng, họ hùng hổ nhập cuộc một cách hăng hái và số lượng nữ giới tham gia vào làng văn nghệ đông đảo chưa từng thấy. Nơi nào mà có bóng dáng đàn bà là tự nhiên vui nhộn hẳn lên, tự nhiên tươi mát và cũng lắm điều phiền toái. Nói thế chắc quý bà không bằng lòng, nhưng thực tế là vậy. Có quý bà là anh em chúng tôi hay sinh sự với nhau nhiều hơn và mức độ gây sự cũng trầm trọng hơn. Còn quý bà gặp quý bà thì cũng ngọt ngào như đường và đôi lúc cũng chanh chua như dấm. Nhưng thôi chuyện nầy không nên đào sâu, tôi đang nói về các nhà thơ nữ mà bỗng dưng nhảy qua lãnh vực khác ngon ơ như vậy, thôi cho tôi xin trở về lại với đề tài. Các bà cứ làm thơ, cứ in thơ bảo đảm không thể nào lỗ lã được. Các bà đi đâu cũng được đón tiếp một cách nồng hậu. Bằng chứng là có một nhà thơ nữ nổi tiếng trước hết không phải là thơ mà là sắc đẹp, người ta biết sắc đẹp của bà trước khi người ta biết đến cõi thơ của bà. Có lẽ thơ của bà không bắt kịp được sắc diện của bà nên cho đến bây giờ thơ của bà ít ai nhắc đến. Bà từ một lục địa xa xôi, thế nhưng lại bay đến Mỹ và Canada ra mắt thi phẩm của mình. Những nhà thơ có máu mặt dành nhau đứng ra tổ chức cho bà, bà đến tiểu bang nào cũng được đón tiếp một cách chu đáo, và thơ của bà bán ra như tôm tươi. Cỡ như Tô Thùy Yên , Du Tử Lê, vẫn còn vất vả trong vấn đề ra mắt thơ và bán thi phẩm không phải là chuyện dễ. Thế nhưng bà tái bản thơ bao nhiêu lần vẫn không kịp bán, nhiều nơi đặt cọc mời bà đến viếng, trước là diện kiến dung nhan, sau là diện kiến cõi thơ của bà. Chưa có môt nhà thơ lớn nào dám xuyên lục địa chỉ ra mắt mỗi một tập thơ mà thành công như bà. Đây cũng là một hiện tượng nổi bật nhất trong làng thơ Việt Nam hải ngoại. Như vậy ta nên đặt lại vấn đề, giới thưởng ngoạn thơ bây giờ tại hải ngoại có cách nhận xét khác lạ hơn trước đây vài thập niên. Các nhà thơ phải có vóc dáng ăn khách trước khi làm thơ. Nghĩa là diện mạo sẽ định đoạt sự nghiệp thi ca của họ. Thơ không được hay lắm nhưng thuộc phái nữ mà lại đẹp thì chắc chắn phải hốt bạc.

Một anh bạn nhà văn kể cho tôi nghe một trường hợp thật tức cười về người bạn của anh. Hồi trước năm 75 anh gởi thơ đến Nguyệt san Văn (không biết lúc ấy ai điều khiển tờ báo), anh gởi mãi mà Văn chẳng chịu đăng. Bực mình anh lấy một trong các bài mà báo Văn loại ra ngoài, anh ký lại tên khác thuộc phái nữ và lại gởi đến Văn. Vài tháng sau anh thấy bài đó đăng rất nghiêm chỉnh trên Văn. Từ đó về sau anh buộc lòng phải lấy tên ấý dù anh không bao giờ muốn vậy. Trong mọi sinh hoạt đường đường là một đấng nam nhi, nhưng đến khi làm thơ thì phải đội lốt nữ giới kể ra cũng thiệt thân, nhưng biết làm sao? Như thế mới hay người nữ ở đâu cũng được trọng dụng, ưu đãi. Cho nên trước đây ta không lạ gì với những cái tên như Trần Như Liên Phượng và một vài tên nữ khác mà quả thật họ là đàn ông chính hiệu, chứ không ái nam ái nữ gì ráo.

Ở hải ngoại báo chí nhiều quá, tiểu bang nào có người Việt sinh sống là nơi đó báo chí tràn lan, giành giựt quảng cáo, sẵn tờ báo trong tay, ghét ai là chửi xiên chửi xỏ, nên sinh ra cảnh đánh đấm túi bụi. Quả thật đây cũng là hiện tượng xô bồ và loạn xạ, gây cho ngành báo chí truyền thông một sự tổn thương không ít. Chính vì báo nhiều mà người viết lại ít, nên bài vở gởi tới là đăng ngay không cần kiểm soát, mà đôi lúc người chủ trương tờ báo lại không có khả năng nhận định, họ chỉ biết có bài trám vô chỗ trống là may lắm rồi. Đọc những tờ báo tại địa phương họa hoằn lắm chúng ta mới bắt gặp được một bài thơ tàm tạm. Hiện tượng nầy tạo nên những nhà thơ không cần qua sự gạn lọc nào cả, không cần độc giả chấp nhận hay không, ông chủ báo nhiều lúc thấy thơ chẳng ra gì nhưng vì ơn nghĩa nên cho đăng kẻo sợ mích lòng. Miễn có thơ đăng báo là họ hiển nhiên trở thành một nhà thơ, chuyện như vậy cũng chẳng có chi đáng nói, nhưng đằng nầy lại xẩy ra lắm chuyện lắm lời. Có một số ít họ tự thấy như vậy tức là mình đã thành công, tất cả người lớn kẻ nhỏ khi đã là nhà thơ thì đều là cá mè một lứa với mình, chẳng coi ai ra gì và có đôi lúc khiếm nhã với các bậc trưởng thượng. Họ không chịu đọc thơ của ai khác, không thấy cái hay của người khác, không biết cái mới lạ của thi ca. Thơ của họ là vô địch thiên hạ, họ chỉ thấy lời khen tặng xã giao tưởng là chân thật. Họ là người làm thơ mà họ lại quên một điều thật hệ trọng. Không ai dám mở miệng chê bai thơ của người khác, nếu có tình trạng nầy tức là người phê bình và tác giả bài thơ sẽ là hai kẻ tử thù. Ở đời ai dại gì gây thù gây oán với nhau và các nhà thơ của ta chỉ nghe toàn là lời khen. Lời khen đó làm họ tự đắc, họ tự sánh mình ngang hàng với những nhà thơ lớn. Tập thơ của mình cũng được xếp trang trọng trong các kệ sách ngoài tiệm giống như những tác phẩm lớn. Tình trạng lạm phát thơ kiểu nầy ở hải ngoại thật vô số, không sao liệt kê hết. Mỗi lần địa phương có tổ chức sinh hoạt gì, người xướng ngôn giới thiệu về sự có mặt tham dự của các nhà thơ, nhà văn thôi cũng đủ thấy mất thì giờ. Như vậy chúng ta đủ biết nhà văn, nhà thơ "local" nhiều quá chừng. Nhà thơ trung ương với nhà thơ địa phương có cái gì để phân biệt? Điều nầy thật khó khăn, và cũng chẳng có ai dám làm một cuộc thống kê. Chỉ còn biết nhờ vào sự thẩm định của người đọc.

Một anh bạn làm thơ nói với tôi tại sao anh trở thành nhà thơ vĩ đại (cũng là chuyện tự phong). Mỗi tuần anh gom lại một số báo địa phương, lật trang thơ ra đọc tên tác giả. Nếu tác giả là một nữ thi sĩ, thì lập tức anh họa ngay lại bài thơ của người đẹp, lời lẽ trong thơ của anh tâng bốc người đẹp lên tận mây xanh, thế nào người đẹp cũng rủ lòng. Tiếng thơ của anh réo rắc thật ảo nảo đọc lên trong đêm khuya nghe lạnh người. Từ đó anh thành một nhà thơ mà theo lời anh là có tầm cỡ ở đây. Một nhà thơ khác lại có cách nổi tiếng mà theo lời lẽ anh lý luận với tôi là làm thơ lục bát không cần phải gieo vận, miễn sao chữ cuối câu sáu vần bằng, thì chữ thứ sáu của câu tám cũng vần bằng là chỉnh rồi. Thời buổi tân tiến thơ phải thoải mái cần chi phải đúng vần đúng vận cho mệt. Anh cũng là một nhà thơ thuộc loại nổi tiếng ở đây. Người thứ ba mà tôi gặp, anh nầy thì cung cách làm thơ nặng phần thi sĩ hơn. Khi làm thơ anh phải pha một bình trà nóng, hút thuốc mơ màng, vặn nhạc nho nhỏ. Có các thứ đó thì anh làm thơ mới được, vần điệu và suối thơ mới chảy ra ào ào. Lúc nào bí anh bợ nguyên một câu nhạc để vào trong thơ mình, chẳng hạn như " mai ta chết dưới cội đào" thì cũng chẳng sao. Trong thơ anh thỉnh thoảng bắt gặp một số câu nhạc thì cũng đừng lấy làm lạ. Ai mà không chấp nhận, phát hiện điều nầy mà nói ra thì thế nào cũng bị chửi mắng thậm tệ.

Một lần ngồi nhậu với vài anh em, thì có một nhà thơ bước vào. Ông cũng lớn tuổi thuộc hàng trưởng thượng. Tất cả anh em trong tiệc rượu rất nể nang ông vì tuổi tác, qua vài tuần rượu ông mới bắt đầu khai mùi thơ của ông. Ông rút trong túi áo ra một xấp thơ và chia cho mỗi người một bài, rồi từng người một lên đọc thơ của ông. Thơ của ông giống như những câu khẩu hiệu, thế nhưng không ai được cười nhé, phải gật gù khen hay. Ai gật gù nhiều thì ông cho người đó đúng là bậc thức giả, hiểu tường tận từng chữ trong thơ ông, hiểu được ý ông. Còn ai yên lặng không nói gì thì ông chê là thứ dân kém hiểu biết. Ông thuộc loại ăn nói hàm hồ và lỗ mãng nên mọi người không muốn dây dưa đến sự rắc rối vào thân, người nọ truyền người kia nên khi ngồi nhậu, đến cái mục đọc thơ là tất cả đều gật gù như gà mắc đẻ. Ông hiu hiu tự đắc, ngồi rung đùi mãn nguyện. Ông chắc ăn thơ của mình đã đi vào lòng dân chúng, cần thiết cho mọi người, nên ông cho in ngay tập thơ. Ở hải ngoại nầy có một tập tục rất dễ thương, là khi in thơ phải tổ chức ra mắt cho bàng quan thiên hạ biết sự xuất hiện tác phẩm của mình. Ông cũng không thể tránh khỏi tập tục nầy, và có lẽ ông mong muốn có ngày ra mắt để ông được chễm chệ lên diễn đàn, nói về con người ngoài võ biền còn là con người văn nghệ của ông. Thơ của ông bán chẳng được bao nhiêu, và mọi người không chú ý tới thơ nhưng lại chú ý tới ngày giờ của ông làm bài thơ đó ghi cuối bài thơ. Sỡ dĩ có chuyện nầy bởi vì tất cả những bài thơ ông làm đều ở trong các trại cải tạo, ra ngoài nhớ để viết lại đã là điều khó khăn, đằng nầy ông ghi cả ngày tháng làm bài thơ đó ở trại cải tạo nào thì thật trí óc vô cùng vĩ đại, (mà quả thật chẳng cần thiết như vậy). Ông nhờ nhiều người diễn ngâm những bài thơ của ông trong dịp ra mắt, thế nhưng chẳng có ai chịu ngâm giùm cho ông. Có lẽ thơ của ông chỉ đứng ra hét chứ không cách nào ngâm được.


Khi còn phụ trách một tờ báo, một người quen biết của tôi mang đến cho tôi một bài thơ và bảo tôi đăng giùm. Sau khi đọc bài thơ tôi thấy có một vài lầm lỗi quan trọng, nếu đăng thì thật tội nghiệp, người ta sẽ đánh giá trình độ không tốt về cách làm thơ của anh. Vì vậy tôi cân nhắc giữa cái lợi và cái hại, giữa sự mích lòng và sự chê bai. Tôi chọn cái lợi và sự mích lòng, tránh đi cái hại và sự chê bai. Tôi không đăng mặc dù tôi đã layout xong. Sau khi tôi không còn cộng tác với tờ báo đó, thì người phụ trách sau nầy lấy bài thơ đó đăng lên. Bây giờ người đó xem tôi như một thứ thiếu văn hóa, không biết đánh giá tài năng. Trước đây chúng tôi rất thân thiện nhưng vì chuyện thơ phú mà chúng tôi có vẻ lạnh nhạt với nhau. Mới hay tôi đã thiếu tế nhị, thiếu suy xét nên gây ra cảnh bất đồng, đụng vào tự ái của người khác. Đây là một bài học mà tôi cần phải sửa đổi nếu sau nầy gặp trường hợp tương tự.

Một lần khác tôi được may mắn dự một bữa tiệc rượu gồm chừng năm bảy nhà thơ. Tôi không biết ai đưa ra sáng kiến là mỗi người đọc một bài thơ đắc ý nhất của mình. Thế là tôi có dịp nghe các ông đọc thơ của mình và nói về thơ mình. Có ông thì sợ người khác không hiểu thơ của mình nên đọc câu nào là giải nghĩa từng chữ, như ngày xưa học Hán Tự vậy. Có ông thì trình bày trường hợp nào mà ông đã xuất thần làm nên bài thơ vô-tiền-khoáng-hậu nầy. Có ông thì nhắm mắt lim rim đọc một bài thơ thiền, thơ thiền thì phải đọc một cách thanh thoát, êm ái, nhẹ nhàng thì mới đúng là thiền chứ không thì hỏng mất đi khí tiết của một bài thơ. Sau khi tham dự đêm thơ nầy, tôi mới nhìn lại cái cao ngạo của Cao Bá Quát còn thua xa các bậc hậu sinh thời nay. Cao bá Quát chỉ nhận có hai bồ, chia cho bạn mình một bồ, còn một bồ cho thiên hạ. Còn các nhà thơ bây giờ thì ôm trọn hết không chia cho ai cả, mỗi người là một ông trời.

Một hôm tới Santa Ana, ngồi nói chuyện với một anh bạn trong quán cà phê thì gặp một nhà thơ trẻ. Anh bạn tôi hỏi cho qua chuyện: "Thế nào, lúc nầy thơ phú ra sao rồi?". Thế là trúng được mạch chảy mà lâu ngay đã ứ đọng. Người bạn trẻ kéo ghế ngồi với chúng tôi, nói thao thao bất tuyệt về thơ, giảng cho chúng tôi nghe về thơ hiện đại, chê bai tất cả nhà thơ nổi tiếng trước đây. Tôi sững sốt không ngờ người bạn trẻ hùng hổ một cách thái quá như vậy. Thơ cũ, thơ mới, thơ tự do, thơ tân hình thức v.v...mỗi thời có một chỗ đứng của nó, tất cả trước sau đều góp công làm giàu nền thi ca của dân tộc. Làm thế nào cho thơ hay mới khó, Còn chuyện thơ mới, thơ cũ chúng ta không nên đố kỵ quá như vậy. Đừng sợ người đọc không hiểu thơ của mình mà hãy thả ra, nếu thiên hạ chấp nhận thì còn tồn đọng, còn thiên hạ quên đi thì xem như chúng bị chết non.

Có một nhà thơ kể cho tôi nghe về việc gây chú ý một cách ngoạn mục. Lấy một bài thơ của ai đó ra bình phẩm, diễu cợt. Phải lấy những lỗi lầm mắc phải của bài thơ mà người khác khó thấy được rồi chê, sài xể với một giọng văn đểu cáng, trịch thượng, kẻ cả. Tác giả của bài thơ là người đã nổi tiếng càng tốt, vì như vậy độc giả mới thấy kẻ phê bình trên cơ tác giả bài thơ đó nhiều. Rồi kề trang báo đó đăng bài thơ của nhà phê bình. Như vậy trong ấn tượng của người đọc bao giờ cũng nể nang kiến thức sâu rộng của người phê bình, nên khi đọc bài thơ của người đó lập tức thấy hay ngay (?). Không biết điều nầy có đúng không, nhưng tôi thấy thỉnh thoảng ông ta chạm đến những nhà thơ thật nổi tiếng. Họ càng nổi tiếng thì ông càng mạt sát, sài xể thậm tệ. Chủ ý của ông cho người đọc biết nổi tiếng cỡ thi sĩ kia mà ông coi chẳng ra chi, thì các cây viết khác phải coi chừng, đừng có léng phéng. Đây cũng là một hình thức nổi tiếng đốt giai đoạn, không cần qua sự thẩm định của độc giả, và cũng không cần sự gạn lọc của thời gian. Một quan niệm thật mới mẽ và cũng thật liều lĩnh. Thế nhưng hỏi ra thì mới hay tiếng tăm của ông chẳng bay xa, chẳng có ai biết tới. Họa hoằn lắm mới có người biết ông, nhưng không phải nức tiếng về văn chương, mà nức tiếng về chửi bới thô tục.

Ngày xưa, các văn nhân thi sĩ họ tương kính nhau, thuần phục nhau. Cung cách xử thế của họ thật mã thượng. Bây giờ thật hiếm thấy. Chơi với nhau theo phe nhóm, hắc bạch rõ ràng. Kèn cựa nhau từng li từng tí, chờ kẻ khác sơ hở là phang ngay, không kể chi đến tình thâm nghĩa nặng. Cõi thơ bây giờ không còn là hoa bướm mộng mị, không còn thanh thoát lãng mạn. Cõi thơ bây giờ chúng ta thấy thấp thoáng gươm đao, đè nhau cứa cổ. Hạ nhục nhau, mạ lỵ nhau. Các nhà thơ phải mặc áo giáp, sẵn sàng trong vị trí chiến đấu, gươm luôn luôn rút ra khỏi vỏ thọc ngay vào tử huyệt của đối phương nếu cần. Người làm thơ không cần phải đọc thơ của ai cả, chỉ biết đọc thơ của mình. Không có thơ của ai hay bằng thơ của mình. Quan niệm về thi ca mỗi thế hệ mỗi khác, mỗi thời mỗi thay đổi. Trong thời buổi tân tiến như hiện nay làm thơ cũng nhanh như chớp, người đọc chấp nhận hay không cũng chẳng cần, miễn sao có tác phẩm trình làng. Người thưởng ngoạn thơ bây giờ cũng dễ dãi, thơ nào hay thì đọc chơi, thơ nào tệ quá thì coi như mất năm bảy phút phù du. Chứ không bực bội, phẩn nộ như ngày trước.

Làm sao chúng ta tìm được một không khí thơ mộng của ngày xưa. Làm sao chúng ta đến với thơ bằng sự trung thực, không gian dối. Bây giờ mỗi lần đến cõi thơ, chúng ta mang một cái mặt nạ thật lố lăng như đi dự một cuộc hóa trang. Giả dối còn hơn một kép hát. Ai cũng biết vậy nhưng không có ai dám chọc thủng bức tường nầy bằng những lời lẽ chân thật. Chúng ta không tìm đâu thấy lời lẽ của Cao Bá Quát phê phán nhóm Thi Xã: "Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An" để họ chừa bớt đi cái tính hênh hoang, kênh kiệu, tự đắc. Coi thiên hạ chẳng ra gì. Chúng ta không chấp nhận cái lối ác độc như vậy, nhưng có phải chăng đây là cách duy nhất để dạy cho người khác bài học lễ độ của người làm thơ? (Như lời than van của một nhà thơ kỳ cựu khi đụng phải một vài kẻ hậu sinh thất lễ). Còn có biện pháp nào kêu gọi lòng tự trọng của mọi người khi đụng vào cõi thơ? Người nào làm được công việc nầy thì nó cũng to lớn bằng công của bà Nữ Oa đội đá vá trời.


Phan xuân Sinh

trích từ Nguyệt San Hồn Quê 20


Kính thưa các nhà văn trẻ

nguồn: netnam

Trong buổi lễ kỷ niệm 45 năm Hội Nhà văn Việt Nam có người ghé tai tôi: "Cậu nhìn xem, các nhà văn ta già khụ cả rồi". Tôi để mắt quan sát thì thấy đúng thế thật. Nào râu nào tóc, nào áo bông áo dạ, mũ mãng bịt tai, che đầu... lại cái dáng đi của từng vị nữa! Đúng là già cả thật rồi.

Nhà thơ Hữu Thỉnh - Tổng thư ký Hội - công bố một điều ai cũng biết nhưng khá nhiều người sững sờ: Hiện nay có đến 5 thế hệ nhà văn đang cùng sinh hoạt trong Hội. Trong một gia đình chúng ta thường thì có 2 thế hệ chung sống, 3 thế hệ đã ít, 4 thế hệ là chuyện hy hữu. Thế mà đại gia đình các nhà văn Việt Nam có đến 5 thế hệ! Thật là đại phúc!

Vâng, phúc thì phúc thật, nhưng mà già quá.

Thế hệ nhà văn thứ nhất, những người đã nổi danh trước Cách mạng tháng Tám, đến nay còn thọ không nhiều: Nhà thơ Huy Cận của "Tràng giang", Nguyễn Xuân Sanh của "Xuân thu nhã tập", Tô Hoài của "Dế mèn", Đoàn Văn Cừ của "Chợ tết"... đều đã ngoại bát tuần, có người đã 90. (Tố Hữu, nhà thơ cũng viết từ trước cách mạng, vừa mới ra đi ở tuổi 83!).

Thế hệ các nhà thơ chống Pháp, được các cụ trên coi là trẻ cũng đã ngoài thất tuần: Nguyễn Đình Thi, Minh Huệ, Phạm Hổ, Xuân Hoàng... Lại có người đã ngoài 80 như Hữu Loan của "Màu tím hoa sim". Cũng đã bước vào thế giới "cổ lai hy" là các nhà văn xuất hiện thời kỳ miền Bắc xây dựng XHCN còn miền Nam thì đấu tranh thống nhất nước nhà gồm: Nguyễn Khải, Vũ Tú Nam, Anh Đức, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Nguyễn Bao, Phạm Ngọc Cảnh... Sau đó nữa, thế hệ thời chống Mỹ thì cũng đã trong ngoài sáu mươi: Ma Văn Kháng, Triệu Bôn, Lê Lựu, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo... ít tuổi hơn một tí như Nguyễn Duy, Đỗ Chu, Lê Minh Khuê, Lâm Thị Mỹ Dạ... cũng đã ngấp nghé đợi hưu rồi.

Còn thế hệ nhà văn sau 1975 và thệ hệ mới bước vào văn học hiện nay thì sao? Thưa, cũng một đống tuổi cả. Các thế hệ nhà văn trước, trở thành hội viên Hội Nhà văn, thường là khi đang còn trẻ. 20, hoặc 30 đã thành một tác giả chững chạc, đã được Hội để mắt tới. Càng về sau này, số hội viên được kết nạp mỗi năm ngày càng nhiều, nhưng tuổi kết nạp hội viên càng cao lên. Thời mới hòa bình, nhiều anh bộ đội, thanh niên xung phong giải ngũ, vốn sống ứ đầy, bắt đầu cầm bút. Nhiều người thành nhà văn, tuổi mới ngoài 30, 40 là cùng. Như thế cũng đã là quá già so với các thế hệ trước.

Nhưng dăm mươi năm trở lại đây thì ngày càng có nhiều người tuổi cao hơn vào Hội, mà tuổi trẻ thì được vào càng ít đi. Cái mốt bây giờ là nhiều cán bộ, có cả những vị chức vụ khá cao, nghỉ hưu hoặc sắp nghỉ hưu bắt đầu hăng hái viết thơ, in sách. Rồi đã viết lách thì cớ sao không đâm đơn vào Hội? Chồng đơn từng ngày càng dày lên, năm ba trăm cái chầu chực, ấy là những anh mạnh thế lắm, tay trong tay ngoài mới dám đưa đơn. Lại có nhiều người tuy viết lách đã lâu, vài ba chục năm, hoặc có người đến gần nửa thế kỷ, nhưng văn chương làng nhàng, không ai mặn mà cấp giấy thông hành vào "làng". Nay nhờ sự kiên trì mà được "chiếu cố" bỏ qua phần tác phẩm! Số này cũng không ít. Thế nên tuổi hội viên mới già. Ngay như đợt kết nạp gần nhất, 37 người được "hóa rồng" (vâng, trong nghề viết văn có người ngầm coi như thế!), thì độ tuổi 50, 60, ngoại 60 chiếm đa số, đại đa số!

Hội Nhà văn có cái lệ đẹp: Hội viên 70 xuân thì được mời về khao lão. Xưa kia ít người được khao lão lắm, lâu lâu mới có một vài người. Nay thì đợt nào danh sách cũng khá dài. Có người vừa trở thành hội viên đã được mời khao, lên hàng trưởng thượng. Thế nên mới râm ran đây đó những câu nói đùa kiểu như: "Kính thưa cụ nhà văn trẻ!" 

Có lẽ Hội Nhà văn nên xem xét lại vấn đề kết nạp hội viên chăng? Hiện nay Hội có 700 hội viên, tuổi đời bình quân trên 55. Quá già. Năm qua người ta nhận xét thể hồi ký đang thịnh hành, đơn giản vì nhiều nhà văn ta hiện nay chỉ nghĩ đến viết hồi ký, tổng kết cuộc đời mình thôi. Hễ có dịp hội họp gặp gỡ, nhìn những mái đầu bạc, những bước chân run rẩy mà thấy thèm có thật nhiều, thật nhiều những hội viên trẻ trung, hăm hở. Ngày xưa các nhà văn ta đi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ bởi vì rất trẻ trung, rất hăm hở nên đã thành nghiệp lớn. Làm sao cho lứa tuổi hai mươi, ba mươi, lứa tuổi hình thành và bộc lộ tài năng văn học chiếm số đông trong hội, để họ, như các thế hệ trước, dựng nghiệp lớn cho văn học nước nhà?

NetNam - Hoàng Hoa

Giải Nobel cho văn chương Việt Nam?
Vừa khóc vừa buồn cười vừa mơ mộng!

nguồn: vnn.vn

VietNamNet) - Giải thưởng Nobel văn chương trao cho nhà văn của cộng đồng nào, cộng đồng đó sẽ có được niềm tự hào, hãnh diện về ngôn ngữ của mình. Điều này sẽ khiến ngôn ngữ phát triển mạnh hơn và khiến cho những kẻ vọng ngoại tin rằng, ngôn ngữ mẹ đẻ của mình cũng có thể chứa đựng những tư tưởng minh triết nhất của nhân loại.

Người Việt từng từ chối giải Nobel

Trong đời sống hiện đại, Giải thưởng Nobel trao hàng năm cho các nhà văn, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, là giải thưởng có uy tín nhất và tác động vào dư luận thế giới mạnh mẽ nhất. Vinh quang mà giải thưởng mang lại không chỉ dành cho cá nhân người đoạt giải mà còn làm vẻ vang cộng đồng của người đó. Trong các giải thưởng Nobel thì giải thưởng dành cho văn chương được đón đợi nhiều nhất. Xét về mặt giá trị văn thực sự, Giải thưởng này không nói lên điều gì. Bằng chứng nhỏ là dù thế kỷ hai mươi có hơn một trăm nhà văn đoạt giải, nhưng các cuộc điều tra về sách văn học của nhiều tổ chức khác nhau cho thấy, trong một trăm cuốn sách hay nhất của nhân loại, chỉ có bốn hoặc năm cuốn của các tác gỉa đoạt gỉai Nobel văn chương.

Như vậy, không hẳn đoạt giải Nobel văn chương mà có thể thẳng tiến vào ngôi đền thiêng bất tử như L. Tolstoi, J. Joyce,... những thiên tài không nhận giải thưởng Nobel văn chương. Tuy nhiên, xét về giá trị xã hội, nó có một giá trị vô cùng lớn. Giải thưởng Nobel văn chương trao cho nhà văn của cộng đồng nào, cộng đồng đó sẽ có được niềm tự hào, hãnh diện về ngôn ngữ của mình. Điều này sẽ khiến ngôn ngữ phát triển mạnh hơn và khiến cho những kẻ vọng ngoại tin rằng, ngôn ngữ mẹ đẻ của mình cũng có thể chứa đựng những tư tưởng minh triết nhất của nhân loại.

Theo tổ chức UNESCO, trên thế giới ngôn ngữ nào có khoảng gần trăm triệu người sử dụng liên tục thì ngôn ngữ đó là ngôn ngữ lớn, đặc biệt cần phải phát triển mạnh hơn. Dân số Việt Nam có khoảng hơn tám mươi triệu người cùng với vài triệu người Việt sinh sống ở nước ngoài. Như vậy tiếng Việt có một vị thế quan trọng trong đời sống xã hội nhân loại. Hơn nữa trong bốn nền văn hoá truyền thống lớn của các dân tộc sinh sống ở Châu Á, ba nền văn hoá kia đã sinh ra các tác phẩm đoạt giải Nobel văn chương là Ấn Độ, Nhật Bản và Trung Quốc. Như vậy theo vòng quay của thời gian và của... giải thưởng, chúng ta có thể dần cảm nhận được sức nặng đang tới từ tấm huy chương Nobel trong tiếng Việt. Tuy nhiên, có thêm một nền tảng khá vững chắc cho niềm tin ấy lại chính là sự việc người Việt Nam đã từng từ chối không nhận giải thưởng Nobel. Sau khi ký hiệp định bắt buộc quân Mỹ phi rút khỏi Miền Nam năm 1973, đồng chí Lê Đức Thọ và ngoại trưởng Mỹ Kissinger được uỷ ban xét giải thưởng Nobel Hoà Bình đồng xét trao giải thưởng. Nhưng nhà nước ta đã kiên quyết chối từ. Hoà bình chúng ta giành được là do mồ hôi xưng máu của hàng triệu đồng bào. Quân Mỹ buộc phải rút chạy khỏi Miền Nam vì thua trận chứ đâu vì tài ngoại giao của Kissinger. Chính phủ Mỹ muốn qua giải thưởng này để che dấu sự thất bại và tội ác của mình. Chính sự khước từ này đã làm cho toàn thế giới hiểu thêm về sự mạnh mẽ, bất khuất của tinh thần Việt. Tinh thần này cũng là thứ rượu được ủ trong Tiếng Việt lâu năm và đã đến lúc cả thế giới phải ngây ngất vì nó!


Những giấc mơ không vỗ cánh

Giải thưởng Nobel văn chương bắt đầu trao vào năm đầu của thế kỷ hai mươi với một nhà thơ Pháp. Đó cũng có thể gọi là thời điểm bắt đầu cho sự phát triển của nền văn học hiện đại Việt Nam với chữ Quốc ngữ ngày nay. Tiếng Việt phát triển mạnh mẽ và thu được những thành tựu trong văn học. Các nhà văn viết sách và bắt đầu mơ xa xôi về những thư mời từ Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển, nơi trao giải Nobel. Tuy nhiên, Giải thưởng không trao cho một bài thơ hay, một tiểu thuyết hay, một vở kịch hay...mà trao cho toàn bộ hệ thống sáng tác của một tác giả. Chính điều này bỗng nhiên trở nên thành vật cản rất khó chịu đối với các nhà văn Việt Nam. Họ có thể viết một tác phẩm gây cho bạn đọc chú ý đến. Nhưng ngay lập tức và mãi mãi, người đọc mỏi cổ chờ đọc tác phẩm tiếp theo của nhà văn đó. Thay vì tiếp tục làm việc, nhà văn chạy đến tất cả các nơi để thu hoạch vinh quang từ cuốn sách đầu tiên và tất nhiên kết quả thường là một câu nịnh vô bổ nào đó. Hoặc giả dưới áp lực viết lách, họ đành phải cho ra những tác phẩm nhợt nhạt mà gọi bằng thể loại gì cũng được. Tuy vậy, giấc mơ Nobel văn chương vẫn thường trực trong dầu họ. Một nhà văn trẻ sưu tầm tất cả các tác phẩm văn chương đoạt giải Nobel đã dịch ra tiếng Việt. Anh ta đọc và ngộ ra một điều rất khủng khiếp là”Tưởng gì, chứ tôi viết còn hay hơn”. Quả là anh ta có làm việc và in nhiều tiểu thuyết. Hiện tại anh ta vẫn đang làm việc và bạn đọc có ai phát hiện được anh ta trong đời sống văn học thì xin báo lại.!..Nhưng có lẽ giấc mơ không tưởng ấy lại được những người Việt sinh sống ở nước ngoài...mơ nhiều nhất.

Chúng ta có một dòng văn học Việt nam hiện đại ở nước ngoài không? Điều này còn phải xét lại tận gốc ý nghĩa và những giá trị mà những tác phẩm tiếng Việt được xuất bản tại nước ngoài. Do giải Nobel văn chương có tác động xã hội lớn nên nhiều nhóm Việt Kiều cũng khao khát có một nhà văn hải ngoại...đoạt giải này. Tuy nhiên hầu như những gì mà họ viết ra rồi tự chuyển sang ngôn ngữ khác đều không gây được tiếng vang nào. Loại trừ những mơ ước nhưng phi thực tế như vậy, một vài nhóm Việt kiều cũng muốn dùng uy của giải thưởng này để làm những việc khác. Trên một số tờ báo tiếng Việt ở nước ngoài trước đây đây có một vài ý kiến đề cử Ng...... vào giải Nobel văn chưng. Ng.. là người có viết những khúc tạp văn ngắn và chất lượng của nó khiến cho chính một nhà văn có uy tín ở hải ngoại thốt lên rằng:”Thật hổ thẹn khi đề cử Ng vào giải Nobel văn chương. Đó là cách tốt nhất để làm bẩn tiếng Việt”. Cuối cùng như chúng ta đã thấy, thời gian không cần trả lời và nếu không có bài báo này thì hầu như không ai còn nhắc đến tên nhà văn này. Khi sống tách hẳn khỏi nền văn hoá sinh ra Cha Mẹ mình, nhà văn rất khó có thể tạo nên những tác phẩm lớn thực sự. Cho dù họ có tấm lòng chân thành đến mấy thì họ cũng chỉ tạo ra những dòng cảm xúc nhớ quê xa. Tư tưởng và cái Đẹp không thể bắt rễ và nẩy nở ở những tâm hồn không thường xuyên được nuôi dưỡng bằng chính dòng sữa đã sinh ra tâm hồn đó. Chúng ta không nên lấy các nhà văn Nga sống ở nước ngoài như Bunin, Brodsky.... làm ví dụ được vì họ trước khi buộc phải sống xa quê hương, họ đã là nhà văn thiên tài được xã hội thừa nhận. Hơn nữa, do sống trong một thế giới ngôn ngữ hoàn toàn khác với cách biểu cảm, tư duy của tiếng Việt nên nhà văn không thể phát triển và làm giầu Tiếng Việt của mình thêm được. Nếu có tấm lòng chân thành, tài năng văn chương thực sự thì cố gắng lắm nhà văn hải ngoại đó cũng chỉ giữ lại được trong tác phẩm của mình cung cách sử dụng tiếng Việt như hồi còn sống ở trong nước. Mà ngôn ngữ cứ mười năm lại có những thay đổi rõ nét, loại bớt những từ không thông dụng, thêm vào các từ mới... thành ra ngôn ngữ của nhà văn đó vẫn lỗi thời so với ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại. Để hiểu rõ về đời sống tiếng Việt trong các cộng đồng người Việt ở nước ngoài chỉ xin nêu một ví dụ nhỏ là: Trong bộ sánh Tiếng Việt dành cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 xuất bản ở California, bài tập đọc mở đầu có viết về cảm giác của các em học sinh lần đầu đến trường là:”Hôm nay là buổi đầu tiên đến trường, lòng em cảm thấy rất hoang mang”. Từ cảm giác “hồi hộp” chuyển thành cảm giác “hoang mang” cũng đủ nói lên tất cả.


Theo những dự đoán trong thế kỷ hai mươi

Những năm trước đây, một số nhà văn, nhà phê bình cho rằng nếu Nguyễn Tuân còn sống thêm mươi năm nữa (vì giải Nobel chỉ trao cho người còn sống) thì rất có thể ông sẽ đoạt giải Nobel văn chương. Tuy vậy chúng ta phải hiểu rõ rằng, giải Nobel văn chương trao cho cả sự nghiệp văn học với những tư tưởng nhân văn không chỉ vượt trội lên so với các nhà văn trong nước mà còn so với tinh thần của toàn nhân loại hiện đại. Chính vậy nên dù với những tập truyện ngắn và bút ký tài hoa như vậy, Nguyễn Tuân khó lòng có thể giành được giải thưởng này. Nhưng có một nhà văn khác nếu còn sống lâu hơn thiên phận của mình, rất có thể sẽ nhận được vinh dự từ giải thưởng này. Đó là Nam Cao với những tập truyện ngắn đặc sắc và tiểu thuyết “Sống mòn” hoàn hảo Tư tưởng của Nam Cao thống nhất, thông suốt trong tất cả các trước tác kỳ lạ của mình, cùng với một thứ tiếng Việt đầy minh tuệ. Đây chính là nhà văn có thể tiêu biểu cho cả thời đại của mình. Ngoài Nam Cao, chúng ta cũng cần phải nhắc đến một nhà tiểu thuyết tài danh bạc mệnh là Vũ Trọng Phụng...

Nửa cuối thế kỷ hai mươi, khi quan hệ văn hoá giữa các nước được phát triển, những tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại tìm được nhiều dịch giả hơn để có cơ hội xuất bản bằng thứ ngôn ngữ khác. Uỷ ban xét giải thưởng Nobel văn chương của Viện hàn lâm Thuỵ Điển quy định các tác phẩm được lựa chọn xét giải phải được dịch ra một trong năm thứ tiếng là tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Thuỵ Điển để ban giám khảo đọc được. Những tác phẩm văn học hiện đại, chủ yếu là tiểu thuyết và truyện ngắn được dịch khá nhiều. Có nhà văn được dịch đến ba bốn cuốn tiểu thuyết... Nhưng do cuộc chiến tranh Việt Nam có ảnh hưởng quá lớn trên thế giới nên độc giả muốn qua văn học để đoán được ý nghĩa xã hội trong đó. Đó là một trong lý do khiến tiểu thuyết và truyện ngắn được dịch nhiều. Và đó cũng lại là hạn chế lớn trong cách chọn dịch và cách cảm thụ của độc giả nước ngoài. Họ chọn dịch những tác phẩm có vấn đề thiên về những khía cạnh xã hội chứ không thực sự là những “giá trị cá nhân”, nền tảng nhân văn đích thực. Do đó, chỉ cần thời gian ngắn sẽ khiến các tác phẩm đó trở nên lỗi thời ngay chính trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại chứ chưa nói đến sự giao lưu với văn học thế giới. Thời gian đã xoá hết những dự đoán chân thành nhất, ngây thơ nhất và ngông cuồng nhất.

Lời kết

Như đã nói, việc trao giải thưởng Nobel văn chương ngoài mục đích tôn vinh cá nhân nhà văn còn có mục đích quan trọng không kém(đôi khi còn lớn hơn cả những mục đích văn chương) là tạo dộng lực phát triển ngôn ngữ xã hội đó. Chính vậy mà ngoài tiêu chí văn chương ra, giải thưởng còn tuân theo vòng quay (không thường xuyên) phân giải thưởng ra các vùng của năm châu lục. Cho nên rất có thể văn chương Việt Nam sẽ được tìm hiểu, lựa chọn đầu tiên khi vòng quay giải thưởng trở lại với Châu Á. Giải thưởng sẽ đựợc trao cho nhà văn, nhà viết kịch, nhà thơ nào làm cho tiếng Việt trở nên lộng lẫy, kỳ diệu và minh triết hơn nữa trong các tác phẩm của mình. Và để làm được điều đó thì nhà văn chỉ có thể uống nguồn sữa ngọt tinh thần từ cội nguồn dân tộc mình. Bất kể một tư tưởng vọng ngoại nào, một tưởng tượng phù du nào cũng ngay lập tức làm hỏng tiếng Việt vì ngôn ngữ chỉ có thể toả sáng bằng chính dòng sữa đã sinh ra nó. Một tác phẩm văn xuôi đích thực, đồ sộ chỉ có thể có được khi dòng văn học sử dụng ngôn ngữ ấy đã tôi luyện được vài trăm năm. Dòng văn chương hiện đại sử dụng chữ Quốc Ngữ mới được hơn một trăm năm nên theo quy luật bất biến của tinh thần và của sự phát triển của ngôn ngữ thì chúng ta chưa thể có được một thiên tiểu thuyết đồ sộ ngay được. Vậy công việc sẽ dồn lên trái tim của các nhà viết kịch hay các nhà thơ!

Nguyễn Quyến



 

Biểu Tình tại VN quá hiền hay chỉ cho vui!???

ttvnol.com/forum/t_168577/2

Đất nước ta từng chịu nhiều đau khổ mất mát do bom đạn Mĩ gây ra.Cho nên khi Mĩ gây chiến với IRAQ ta cũng đi biểu tình.Nhưng quan sát với và so sánh với các cuộc biểu tình của các nước khá,Mình thấy nó có vẻ sao sao ấy.Chẳng khí thế gì cả,ý mình ko đề cập tới bạo động.Nhưng dù gì thì cũng nên có cảnh đốt cờ Mĩ hoặc hình nộm của tổng thống Bush chứ sao chỉ có đứng nghe đọc diễn văn rồi hô khẩu hiệu đả đảo...Thế thì ai đi biểu tình chứ mình chẳng đi đâu.Nhìn thấy chán,chẳng lẽ vì vài đồng viện trợ mà ta hiền thế sao!??? Chu_thap_ac Gửi lúc :08:27, 24/03/2003

theo như con nít được biết những buổi mít tinh diễn ra.. ai đi thì sẽ có những quyền lợi : 10k /người nếu bạn là Đoàn Viên/ thanh niên khu phố hoặc nếu bạn là sinh viên thì sẽ được phê vào sổ đoàn ... là ĐV giỏi.. hay đại loại là gì gì đó..  tin này xác thực nên ... hihì...mít tinh ở SG ấy hả... đi cho vui thôi.. đi cho biết là à... tao có đi mít tinh nè.. tao cũng là người ưa chuộng hoà bình nè... nhảm hết sức... Nếu bạn có lòng .. hãy đi hack các site của Mỹ đi.. bạn con nít nói vậy... chứ đưng đó mà la ó....VN mình.... ba chấm..còn nhiều điều phải bàn lắm... tự do công bằng dân chủ.. nó chỉ mang ý nghĩa tương đối và tương đối thôi..... hic. Con_nit Gửi lúc 10:02, 24/03/2003

Đi biểu tình sẽ được 10k ?? Thiệt là hết nói nổi . Vậy ai bỏ tiền ra và tổ chức vậy bác ?? mebongda Gửi lúc 10:05, 24/03/2003

10k đó ném sọt rác đi.  themmogorth Gửi lúc 10:07, 24/03/2003

hey người bạn à.. 10k á... nhiều lắm dấy 20 ngày giữ xe nè.. hay 10 bịch chè nè.. hay 5 thanh kẹo " ngọt ngào như vòng tay âu yếm " nè.. chậc chậc.. tội gì mà không lấy.. tất nhiên nói cho vui là vậy..... có thể có 1 số người đi là do họ tự nguyện vì mục dích của cuộc mít tinh... nhưng khi trở về .. chậc chậc .. người ta phát tiền... tiền đến tay bạn.. ai cũng lấy.. bạn không lấy thì xiền đó cũng thuộc về người đang phát..chậc chậc... còn quỹ ở đâu ấy à... đoàn thể nào đi sẽ tự trích quỹ gọi là tiền bồi dưỡng .. nghe có vẻ hay ho một chút ấy mà... Con_nit Gửi lúc 10:15, 24/03/2003

Phải hiểu rằng với tình hình hiện nay ở Việt Nam, biểu tình chỉ là hình thức, chủ yếu đại diện kiểu như mít tinh thôi. Những buổi mít tinh như vậy thì phải có một tổ chức có tư cách pháp nhân đứng ra tổ chức..thường là mặt trận tố quốc địa phương hay doàn thanh niên...Và thường thường có một số chi phí được sử dụng. danangman Gửi lúc 11:03, 24/03/2003

Xem biểu tình của các em thiếu nhi trước cửa Sứ quán Mỹ hay vật! Nghe bên VNN nói các em làm là hoàn toàn tự phát, bên VNexpress lại bảo do Đoàn trường. Mà các em vừa giơ chữ No war for Iraq (sai mợ nó giới từ rồi), nhìn thương lắm. Martin-Luther-King Gửi lúc 12:43, 24/03/2003

Hey, mọi người có nghĩ chiến tranh ở Iraq là rất đúng logic không. Đương nhiên nếu nghĩ đến chuyện Nhân Đạo thì ngay cả cái thằng Mỹ nó cũng không muốn động đến dân thường rồi. Những chuyện dân thường chết chỉ là do vô tình mà thôi. Mọi người cứ đi biểu tình rầm rộ làm cái gì. Thử nghĩ xem, nếu Việt Nam mình mạnh như Mỹ, liệu có mang quân đi thôn tính không; Iraq với mấy trăm mỏ dầu như thế, dành được nó thì lợi bỏ xừ nên đừng có đi chửi thằng Mỹ. Mình mà mạnh như nó thì cũng thế thôi. Chỉ hơi buồn là nó độc tôn quá, giả sử có mấy thằng như Mỹ, thì vui hơn..!!!!! phamhoangkien Gửi lúc 14:53, 24/03/2003

Bây giờ là nền kinh tế thị trường , chuyện gì thì cũng phải có TIỀN thì mới làm nên chuyện thôi !! Chuyện đi mít tinh , hô hào khẩu hiệu , giơ cao băng rôn biểu ngữ ...do các đoàn thể tổ chức đều có dự trù kinh phí cả nên tất nhiên cũng có tính đến chuyện " bồi dưỡng " cho anh em tham dự !! 10 ngàn hay 20 ngàn là tùy theo kinh phí được duyệt thôi !!
Nếu có bác nào nói ở VN mà có chuyện TỰ NGUYỆN đi mít tinh thì tớ thấy hơi ....LẠ !! Đừng ru ngũ nhau các bác ạ !!! ngchuong60 Gửi lúc 15:13, 24/03/2003

Em đang đi học xa nhà nên không biết ở nhà học sinh,sinh viên của mình biểu tình ra sao nhưng em ủng hộ việc làm đấy của họ.Vì chúng ta đã có rất nhiều mất mát do chiến tranh,chúng ta hiểu được thế nào la hoà bình,thế nào la tình yêu thương giữa con người với con người.Chính phủ Mỹ cũng là người nhưng tại sao họ luôn hiếu chiến như vậy???Tại sao cứ fải có chiến tranh?Chẳng nhẽ họ không cảm thấy chiến tranh tàn khốc lắm hay sao?????  THANH NGA Gửi lúc 15:15, 24/03/2003

ở mình không có luật biểu tình, chỉ có mít tinh thôi, mà đã đi mít tinh là có tiền bồi dưỡng, he he, cho nên mới có 10K Milannistra Gửi lúc 15:17, 24/03/2003

Theo em biết thì ở mình vẫn được phép biểu tình nhưng phải báo cáo trước và thông qua đảng uỷ của cơ quan chủ quản Các bác biết biểu tình ở mình khác với các nước khác trong vụ phản đối Mẽo thế nào không? ở họ cảnh sát đứng trước những người biểu tình để phòng quá khích. Ở mình, công an và chi đoàn đứng dưới, đứa nào dám lùi lại thì... *****! Sáng nay cơ quan em được yêu cầu tập trung để nghe nói chuyện thời sự. Em háo hức nghe, hoá ra Duật khoằm đến nói chuyện , mang theo biểu ngữ đẹp không chịu được  hoangnguyen79 Gửi lúc 16:26, 24/03/2003

Ông Duật có phải cái ông gày như ho lao, mồm bem bẻm, viết cái bài Tiểu đội xe không kính không bác? Fade_To_Black Gửi lúc 16:33, 24/03/2003

Đúng đấy bác ạ. Muốn biết mặt thì 6 giờ chiều cứ đến quán rượu Lý ở Lê Văn Hưu, thấy bác nào mũi nhòm mồm, phóng xe vào, ực một cốc vại rượu tên lửa rồi lại phóng đi thì chính là bác Ruật
Em nhớ hồi xưa, xem Mỹ đánh Apganistan, có thằng bạn gào lên: đả đảo đế quốc mỹ. Không ngờ ông sếp phê bình: Hô như thế bây giờ bị coi là phản động. Vui cực  hoangnguyen79 Gửi lúc 16:52, 24/03/2003

Ở Vn thì nói làm quái gì cho thêm tức. Biểu tình làm gì có, mà chỉ là meeting thôi cho nó có lệ, chẳng lẽ cả thế giới phản đối mà mình lại không nói gì thì chối quá nên đành phải bỏ một ít tiên ra làm cho có hình thức. Mà có làm hay biểu tình rầm rộ như các nước khác có ăn thua gì đâu, đến LHQ còn bất lực huuóng chi là dư luận
VN là biểu tượng của hình thức mà ! Toannt Gửi lúc 17:34, 24/03/2003

bây giờ người ta coi trọng hình thức lắm, thế mới xảy ra lắm tệ nạn, tham nhũng hối lộ, biển thủ công quỹ, Milanistra Gửi lúc 20:00, 24/03/2003

 

bác Milanista, em tưởng vì có lắm tệ nạn , tham nhũng, hối lộ, biển thủ công quỹ...nên người ta mới coi trọng hình thức chứ ạ?
Không biết tại sao thiên hạ lại không xuống đường tuần hành( em o nói là biểu tình đâu nhá, kẻo các mót lại úp sọt em) phản đối cái tai hoạ ngay trước mắt là nạn tham nhũng nhỉ? hoangnguyen79 Gửi lúc 21:09, 24/03/2003

Ai lại đi tổ chức cho người ta biểu tình phản đối chính mình nhỉ, bác này hỏi lạ. Malchik Gửi lúc 21:46, 24/03/2003

Hihi, em thấy biểu tình rồi các bác ạ, trên đường Lê Duẩn ngay trước Đại sứ quán Mỹ đấy thôi, cách đây một hai năm, bà con ta lên ấy lều chõng, phụ nữ và người già, hic hic... toàn là nông dân. Thuở ấy vì cái vụ đất đai ở Bình Chánh mà thế!
Ăn uống ngủ nghỉ trên vỉa hè quận 1, có mấy bác dân quân đứng canh. (còn nhiều chuyện tức tưởi hơn mà không dám kể, sợ bị del nick thì nguy)
Thế mà có báo đài nào dám đưa tin đâu, em đến gần xem còn bị mấy bác dân quân mặt mày hăm doạ, đuổi như đuổi tà. Biểu ngữ họ làm cũng giăng đầy, rồi mấy bà má đem huy chương huân chương gắn đầy người nữa chứ.
Tả cho các biết thế thôi, Mod nào không ưng thì xin xoá bài này cũng được, đừng del nick em tội nghiệp. Em chỉ nói toàn sự thật tai em nghe mắt em thấy, không chút giả dối!  xanxan Gửi lúc 22:52, 24/03/2003