Vũ H�ang Thư

Trong nng, gi�,

v� bướm h�,

đọc Hoa Nng ca Thi Vũ

 

Th�ng bảy vỡ nắng. Người nung n�ng ẩm rịn cơn hầm. M�y ở tầng cao đen x�m t�ch lũy điện �p cao thế đợi chờ một tia l�e để trở về l�ng đất như cơn gi�ng của ng�y th�ng cũ đang t�m lối băng về trong tr� nhớ. Tất cả chỉ cần một cơn sấm. Một cơn sấm động vỡ tung những chờ đợi tr�n đầy v� th�i th�c ch�y bỏng của hạ. Nhưng cơn gi�ng chết vội khi chưa kịp th�nh h�nh. Đ�m m�y đen bay đi mất, chỉ c�n h� ch�i chan tr�n từng mảng l�.

V� như thế cơn gi�ng kh�ng bao giờ đến, người ngồi ng�ng trong sự kh�ng đợi chờ. Nhưng thế n�o l� đợi chờ trong sự kh�ng đợi chờ ? V�o giữa thế kỷ trước, khi Hiện Sinh l� l� thuyết đầu m�i, l� thời thượng trong văn học v� lối sống, Thi Vũ, một thi sĩ Việt tại Paris l�n đường, kh�ng phải đi về hố thẳm t�n ph� của hư v� chủ nghĩa, m� bằng những bước như nhi�n trong hoa nắng,

Gi� mai n�y trĩu nặng những ch�m hoa.

Mấy lẵng hương lưng trời đưa vất vưởng.

(Hoa nắng)

Hoa Nắng [1] l� Gitanjali của ng�n ngữ Việt, l� Lời D�ng giữa những "tiếng k�u trầm thống" [2] của chiến tranh đi�u t�n tr�n đất nước ở thế kỷ trước.

Hoa Nắng, t�n một lo�i hoa đầu thai từ thi t�m, đ�ng hơn từ một thiền t�m. Thi sĩ mượn b�ng nắng vẽ h�nh hoa. Mượn �nh s�ng phiếu chiếu h�nh h�i. Như l� phương tiện. Thơ bay c�ng hoa nắng như m�y Cirrus trắng phau thượng tầng, như c�nh phượng chao v�t v�o kh�ng gian xanh. Hoa nắng tan, Thơ ở lại với người v� Thơ ở đ�y, viết hoa, l� qu� tr�nh của những suy tư ẩn mật chứ kh�ng phải loại thơ "mới" lập dị, m�u m�, kiểu cọ, r�ng sức cho tối tăm kh� hiểu như một số thơ mới v�o thời ấy, thập ni�n 60, v� c� lẽ vẫn c�n thời thượng ở v�o thời điểm n�y. Hơn nữa, chẳng n�n n�i đến mới v� cũ v� mới/cũ thuộc phạm tr� so s�nh. Mọi so s�nh chi li giết chết thơ. H�y qu�n đi những ph�n biệt mới, cũ, mặc dầu cấu từ ở Hoa Nắng rất kho�ng đạt, trong s�ng v� rất mới.

Như thế ta kh�ng đọc Hoa Nắng từ thư viện v� l�i k�o s�ch vở để đối chiếu, ph�n t�ch. Ta phải đọc Hoa Nắng trong nắng v� trong gi�. C� bướm bay, dĩ nhi�n c�ng n�n. V� bằng thi t�m. C� như vậy ta mới v�o đến trung t�m Hoa Nắng. Thơ v� người đọc thơ ở đ�y trở th�nh một.

�i c� độc như sợi nắng chiều trong rừng ngủ.

Qu� hương vờn những đ�m gấm. Bạn về trong chiều lụa."

(Nhớ Tưởng)

Ng�n ngữ nhấp nh�y đầy ắp h�nh v� m�u. V� nhạc. V�ng lụa như sợi nắng chiều trong rừng. Ngủ. Im ắng ho�ng mơ. Mơ g� ? Vờn tr� nhớ những đ�m đầy sao ở nh�, qu� nh�. Chỉ c� bầu trời sao ở qu� hương mới l� gấm, chứ kh�ng nơi n�o kh�c. Với gấm đ�m c�ng tơ chiều đan �o đắp v�o ngực, nơi tr� ngụ của tim để "đ�n ch�o một d�ng mới v�o tim" (Nhớ Tưởng). Đ� l� nh� nhạc mặc �o Thi Ca. Thảnh thơi lật trang thơ thật ngẫu nhi�n m� kh�ng cần phải theo một thứ tự n�o v� mỗi b�i l� một thế giới ri�ng, kết tinh của trầm tư d�i hạn. C�i trầm tư mang h�nh đeo đẳng. Đeo đẳng của "l� sim kh� m�u m�y trong rừng � hồ ". Đeo đẳng l� �m mối đợi, l� ủ k�n hương xa trong lẳng lặng. Hương một c�nh sen sững hạ từ hồ Tịnh T�m. Hương một đ�m kh�ng động đậy c� lời kệ ng�n kh�ng bằng tiếng,

Dĩ khứ v� hữu khứ

Vị khứ v� hữu khứ��� [3]

Đ� đi kh�ng c� đi

Chưa đi kh�ng c� đi

Kh�ng thể t�ch l�a sự chuyển động ra ngo�i vật đang chuyển động. Tương sinh th�nh nhất thể trong ng�y nắng. L� sim kh� khơi m�o li�n tưởng. C� lời thơ đeo đẳng quyện lấy từ kinh. C�i đang l� v� c�i đang đi,

Ng�y nắng đi rồi như ng�y nắng chưa đi, bởi y�u ho�i một buổi nhớ

(Đeo đẳng)

Thi Vũ kh�ng d�ng thơ để chuyển tải tư tưởng Phật học. Tự lời thơ đ� đ�nh thức diệu hữu nơi ch�n kh�ng. Như ng�y nắng bừng l�n. Như d�ng hoa bung rộ. Rung động với b�n ngo�i kh�ng qua trung gian gi�c quan. Nghe thế giới bằng lời v� ng�n. Khởi từ Tuệ.

Hương kh�ng về qua khứu gi�c. Lời kh�ng vang trong �m thanh.

Tất cả n�i năng bằng tr� tưởng. Tr� tưởng kh�ng l� tưởng tượng m� ch�nh l� con đường in dấu h�i đến tự trăm phương.

(Đeo đẳng)

Với tr� tuệ, thi sĩ mở l�ng, kh�ng ngăn ngại, cho d� đối với kẻ lạ. B�i thơ "Kẻ Lạ" dựng bầu kh� hậu kỳ b� v� si�u thực.

Ng�y d�i đ�m cũng d�i, v� ta sống trong hiu quạnh v� c� đơn. Bỗng chiều nay c� kẻ lạ đến g� cửa. L�ng x�n xao chan chứa mừng vui đ�n kẻ lạ đến từ xa.

Một kẻ lạ m� ta đ� quen biết.

(Kẻ Lạ)

Một kẻ lạ m� ta đ� quen biết! Sao vừa lạ lại vừa quen ? C� phải người ch�nh l� ta, c�i ta đ� đ�nh mất trong c� đơn v� hiu quạnh ? C� phải người l� tự th�n của ch�nh ta bị đ�nh mất trong lối sống vong th�n ?

Kẻ lạ nhếch m�i cười rồi ra đi, một nơi n�o rất xa.

Ng�y d�i đ�m cũng d�i, v� ta sống trong hiu quạnh v� c� đơn. V� kẻ lạ đ� đi rồi, một nơi n�o rất xa.

(Kẻ Lạ)

Bao l�u ta c�n ch�n k�n m�nh trong hiu quạnh v� c� đơn, c�i l�ng kh�p chặt, ta sẽ kh�ng gặp v� kh�ng giữ được người. Người l� khoảnh khắc bừng rộ của bản lai diện mục trở về. Người đ� đến. Như thế. D�ng dấp Ch�n Như.

Lối đi kh�ng l� ng� cụt khi người bước với t�m b�nh. �ng nh�n về biển, nghe h�t lời triều. Hải triều �m. Lời diệu �m, vượt l�n tr�n mọi �m thanh của thế gian, từ đ� biết lắng nghe tiếng đau thương của cuộc đời, qu�n thế �m. Thi sĩ viết như thế n�y giữa l�ng Paris dưới mansarde thi�u đốt của h� v� c�ng r�t của đ�ng,

Biển xanh xa vời vợi, m�nh m�ng buồm gọi nhớ nhung về.

Nắng đẹp chảy đầy đ�i mắt biếc.

Tiếc người xa kh�ng gần để n�i ch�t niềm trời rộng r�i.

(Luyến tiếc)

Biển xanh xa vời vợi một m�u từ khi Nagārjuna đi v�o l�ng Nam Hải thọ kinh v� mang về lưỡi gươm v�ng tr� tuệ ch�m n�t lối tư duy biện chứng v� hư v� của lo�i người. Thi sĩ tiếp nối sứ mệnh đi v�o l�ng vực, chỉ ở nơi th�m u c�ng cực, đường kiếm ch�m l�e v�o b�ng đ�m cho lời đứng dậy th�nh thi ca.

�Tiếc người xa kh�ng gần để n�i ch�t niềm trời rộng r�i.

Tiếc chỉ l� một lối n�i. C� hề chi, gặp hay kh�ng, niềm trời vẫn rộng r�i thế kia. Thi sĩ l� niềm trời, sống trong kh�ng gian v� bi�n ở từng mọi mọi s�t na.

Gi� mai n�y khẽ� n�i lọt tai người : Hoa nhiều sao kh�ng h�i ? người cười thưa với gi� : L�ng l� vườn hoa, h�i rồi biết cất đ�u ?

(Hoa Nắng)

Thi sĩ tiếc m� thật kh�ng phải tiếc cho m�nh. Tiếc cho người chưa thấy được sự bao la ch�n thật đấy th�i. Đợi m� kh�ng đợi. Đợi chỉ l� c�i nh�y mắt kh�ng thời giữa hai ứng thế h�nh động. V� đợi v� tiếc l� ng� tắt của lo�i người chia ph�n, hai động từ kh�ng hề c� trong ngữ vựng của thi sĩ. Thi sĩ vỗ đ�i c�nh lớn, kh�ng phải bằng đ�i c�nh vụng về L'albatros của Baudelaire m� bằng c�nh đại b�ng cao v�t th�i hư.

oOo

 

Cơn gi�ng đi vắng, buổi trưa c�n lại niềm im lặng của thinh kh�ng. Hi�n nh� ngo�i hanh nồng, khu vườn th�nh tụ điểm của bướm h� bay về đậu. Những c�nh bướm lững lờ v� định trang điểm m�u nắng lung linh. Người ngầy ngật chập chờn mộng mị. Bi�n giới giữa thực v� hư mờ nh�e. B�n tay muốn �m chầm lấy mộng, người vươn tay bắt bướm. Bụi phấn của sắc m�u l� mộng, th�n bướm l� mơ hay ch�nh b�n tay tự thể đ� l� cơn mơ ? Huyễn hoặc theo c�nh bướm về đậu tr�n hoa xưa,

Bướm đến tự đ�u ? Con bướm đẹp ng�y đầu th�ng mới m�a tươi, ngỡ như đ� thấy ng�y n�o xa trong xa dĩ v�ng : con bướm ủ hoa mơ nơi giấc mơ trắng thời xanh mượt mướt nhung v�ng

(Hoa Xưa)

Bắt bướm l� bắt lấy mộng, trong một ước mơ tự bắt lấy m�nh, c�i "m�nh" cứ tr�i m�i trong mộng, giữa cơn mơ sinh nảy những cơn mơ, sống thực trong mộng v� mộng trong đời sống thực.

Nhắc đến bướm v� mộng l� để đập vỡ cơn mộng cho những c�nh bướm sống lại. Trả bướm về với hoa v� h�. Con bướm sẽ "d�ng m�nh cho ho�ng lạp" v� "trở về với �nh s�ng" của Bướm S�ng.

L�ng m�u hoa nắng, người ng�y với bướm hoa,

�i c�nh bướm non.

Hoa kh�ng c�n l� hoa xưa nữa. Hoa đ� d�ng hương v� hương về trời trong s�ng.

Hoa kh�ng c�n l� hoa nữa hay vẫn c�n hoa trong bướm hoa.

(Hoa Xưa)

V� con người trở về với đời sống thật. Thật l� kh�ng đ�nh mất ch�nh m�nh giữa những thế lực trầm ph�, kh�ng lưu vong ngay trong đời sống lưu vong. Thật trong � nghĩa uy�n nguy�n. Thật như Người-đến-v�-đi-như-thế, Tath�gata.

Khi cơn gi�ng đ� thật sự kh�ng c�n, khu vườn nắng rộn r� lời v� hoa, một con bướm chao c�nh về đậu giữa m�a.

 

Vũ Ho�ng Thư

Th�ng 7, 2006

 

 

[1] Hoa Nắng, thơ Thi Vũ, Rừng Tr�c, Paris, 1966, lần thứ nhất; An Ti�m, S�ig�n, 1970, t�i bản

[2] V� Văn �i, Tiếng k�u trầm thống trước sự t�n ph� con người, L� Bối, Saigon, 1968

[3] Long Thọ, Trung Qu�n Luận � Phẩm Qu�n Khứ Lai