Vơ Chân Cửu

Mặt tiền Nghệ thuật

(tản mạn nhiều kỳ)

Kỳ 14

Câu Thơ Giữ Lại

 

 Kỳ 1,  Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4,  Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13

 

Nghe điệu ḥa tấu của đủ loại côn trùng, người ta muốn biết hiểu  chúng chơi bằng “nhạc cụ” nào. Khi loài ong bay, đôi cánh mỏng vang âm vù vù…Chú dế nằm một chỗ, đưa cánh cọ xát thành tiếng nhạc. Nhưng chàng ve lại ép nhịp thành lời ca qua chiếc màng mỏng nó đeo trước ngực…

 

Với những người thi sĩ, âm vang tạo nên câu thơ và bài thơ phát lộ từ nơi đâu ?

 

       * Bùi Giáng

 
            Mắt buồn
                        

                                  Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
                                        NGUYỄN DU


Bóng mây trời cũ hao ṃn
Chiêm bao náo động riêng c̣n hai tay
Tấm thân với mảnh h́nh hài
Tấm thân thể với canh dài băo giông

Cá khe nước cơng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một Giêng
Tạ từ tháng Chạp quay nghiêng
Ấn trang sử lịch thu triền miên trôi

Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ h́nh hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
C̣n hai con mắt khóc người một con.

 

              (Mưa Nguồn-1962)

 

Câu cuối trong bài thơ nổi tiếng trên đây của Bùi Giáng từng được Trịnh Công Sơn chọn làm chủ đề làm nên một nhạc phẩm. Thế nhưng khi bài thơ được đưa vào Tuyển tập “Ngàn Năm Thơ Việt” (do một nhà sưu tập tư nhân thực hiện, NXB Văn Học phát hành ra cả nước, 2010), nhiều độc giả chưa quen với 20 năm văn học Miền Nam 1954-1975 vẫn bày tỏ không thể nào hiểu được cái hay, v́ có quá nhiều câu “tối nghĩa”. Bùi Trung niên Thi sĩ đă dùng hẳn một câu lục của thi hào Nguyễn Du: Dặm khuya ngất tạnh mù khơi làm “mưỡu”, như mong người đọc hiểu ngay nội dung của bài thơ, và đi vào “thế giới thi ca” của ông. Ai từng biết được nỗi đau của Bùi Giáng qua trận lụt thảm họa năm Nhâm Th́n (1952) ở Miền Trung, mới cảm thông  được từng lời, từng chữ của từng câu thơ. Nỗi đau lớn đến độ “c̣n hai con mắt”, nhưng chỉ c̣n có thể khóc nổi một con ! Nghệ thuật thơ ca không hề bắt thi sĩ phải nói rơ mồn một “hai lần năm là mười” như ư muốn cổ vũ cho luồng “văn nghệ hiện thực”của các nhà cầm quyền. Người vợ, tức người yêu tuyệt vời của thi sĩ, qua cơn nước lụt đă “Bỏ trăng gió lại cho đời / Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa…”. C̣n nỗi đau nào lớn hơn chăng ?

 

Thịt da huyền bí

 

Có nhà nghiên cứu từng đưa ra phân tích rằng “đất nào văn ấy”. Giải đất miền Trung với núi cao, rồi đột ngột hố  thẳm, truông dài; nước biển trong soi ghềnh đá dễ tạo cho tâm hồn thơ ca những viễn tượng siêu h́nh ! Đúng vậy. Sự khắc khoải siêu  h́nh chẳng những vang trong tiếng vọng ưu tư về kiếp người, về sự cao sâu của vũ trụ mà c̣n biến h́nh trong những vẻ đẹp của người con gái. Trước Bùi Giáng khoảng 20 năm, giải đất này từng sản sinh ra những thi sĩ tài năng. Nhưng do nhiều nguyên nhân, cái hay, cái đẹp trong thơ họ đến nay vẫn chưa được người đời nh́n thấy hết. Thi sĩ Bích Khê từ đất Quảng Ngăi là một dẫn chứng.

Hàn Mặc Tử trong Lời tựa cho Tinh Huyết (1939), tập thơ duy nhất được  in khi Bích Khê c̣n sống, đă viết :

…..

“Trực giác của thi sĩ mạnh quá, đến nỗi thấy  nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đang nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là mùa thu đang ngủ mơ.

      Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần, thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong t́nh mà thanh khiết cho giai nhân ? Để có cái ma lực huyền diệu cảm dỗ được ngũ quan của người trần…

      …………………………..

Ở cái địa hạt Huyền Diệu, ta thấy thi nhân chú trọng về âm thanh và màu sắc. Trong khi nói đến nhạc, thi nhân nghĩ ngay đến  những cung trầm chơi vơi, âm điệu rung động cả không gian. V́ bởi mê man với sự “nhẹ  nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương”, thi nhân đă sáng tạo được rất nhiều bản ca thần t́nh diễm ảo. Và nhạc lúc bấy giờ cũng không c̣n là nhạc nữa. Nó đă bay ra hương, ra hoa, ra thơm, ra mát, ra ngọt, ra ngào, ra ǵ mê tơi, run rẩy, hay âm thầm nức nở, lanh lảnh như giọng cười, mơ man như ân t́nh đ̣i hỏi:

 “Tôi qua tim nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu, lên cung thương

Tôi không bao giớ thôi yêu nàng

T́nh tang tôi nghe như t́nh lang

 

Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông !”

 

Bích Khê làm thơ rất sớm,từ năm 12 tuổi, bắt đầu với thể thơ Đường luật. Không phải đợi đến khi có tri âm Hàn Mặc Tử h́nh thành nên trường thơ “điên loạn”, Bích Khê mới có cái nh́n siêu h́nh. Ngay từ thuở ban đầu, khi nh́n, diễn tả những điều thật giản đơn, thi sĩ đă sớm nh́n ra sự “hư vô’ của kiếp người. Như trong bài:

 

Ảnh ấy

Anh thấy mớ màng trong ảnh ấy

Người em lăng mạn quá đi thôi

Anh nh́n trân trối, anh tơ tưởng

Anh ngỡ là em đứng đấy rồi

 

Anh tính ôm chầm lấy mắt mờ

Lấy môi, lấy má, lấy ngây thơ

Để anh nút ớn mùi hương ấm

Của một t́nh yêu giận hững hờ

 

Anh tính kề tay lên trái tim

Ta đ̣i nóng hổi với say im

Nhưng chao ! Sao chỉ không gian lạnh

Không bóng, không h́nh, không có em !

………..

 

Thi sĩ vốn được trời phú cho cái khả năng nh́n thấy ngọn nguồn sự khởi đầu, cũng như nét tàn phai khi kết thúc, nên khó có sự phân biệt rơ rang giữa sự thật và ảo ảnh. V́ vậy, Bích Khê đă đồng hóa được bóng h́nh vật chất cụ thể của người đẹp, với âm thanh, tiếng nhạc vốn vô h́nh. Xin thử đọc tiếp một bài cũng thuộc loại “ít phổ biến” của ông. Nó được viết đơn thuần theo thể thất ngôn, không phá cách bằng đơn âm như các bài “thơ loạn” có toàn âm huyền đă được truyền tụng:

 

Hiện h́nh

 

Gió thiệt đa t́nh hôn mặt hoa

Thơm tho mùi thịt bắt say ngà

Gió đi chới với trong khung trắng

Lộ nửa vần thơ, nửa điệu ca.

 

Tôi ráp lại xem. Ô, sự lạ !

Một người thiếu nữ hiện trong trăng

Khăn hồng chùi lệ ngấn đôi mắt

Da thịt phơi bày ư tuyết băng.

 

Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc

Mát như xuân mà ngọt tợ hương

Ôi sao là khúc ba sinh lụy

Dào dạt như đầy nỗi cảm thương.

 

Tiếng ngọc, màu trăng quấn quưt nường

Phút giây người lộ mỏng như sương

Nường tan ra nhạc ? -Tan ra nhạc !

Khung trắng trời mây trắng lạ thường !

 

Đọc thơ Bích Khê của 75 năm trước, rồi trở về với các nhà thơ “Việt Nam hiện đại” hôm nay, nhiều người không khỏi buồn khi có một số người làm thơ cố t́nh đưa sự thô tục, trần trụi như tin thời sự “xe cán chó” vào trong thơ. Và họ cố t́nh cho rằng nó tiếng nói của thời hiện đại, biện minh nó bằng các “trường phái” học mót của phương tây thời khủng hỏang. Ở trong nước, thế giới mạng đang rất muốn biến thành vũ khí độc quyền của những nhà hoạt động văn nghệ có thế lực. Rất may là tất cả đều không phải vậy. Tôi vừa nhận được tập thơ “Kư Ức Của Bóng” của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh. Đây là tập thơ thứ 7 của chị, nhưng là tập đầu tiên được xuất bản ở Mỹ, vào tháng 4-2013.

 

Bóng chữ

 

Từ tháng 4-2010, Du Tử Lê đă nhận ra “Những con chữ được sinh thành từ t́nh yêu Thi ca/Nguyễn Thị Khánh Minh, khoác nơi tay những h́nh tượng mới mẻ. Hắt trên dặm trường nhân thế, những chiếc bóng lấp lánh thương yêu và, những nhịp chuyển, di đầy tách, thoát hôm qua”.

 

Nguyễn Thị Khánh Minh lớn lên ở thành phố biển Nha Trang. Cô từng theo học và lấy bằng cử nhân luật khoa ở Sài G̣n năm 1974. Trước khi sang đinh cư ở Mỹ, từ năm 1991 đến 2002 Khánh Minh có đến 5 tập thơ được sáng tác và in tại Việt Nam. Một số nhà phê b́nh từng cố t́nh xếp chị vào nhóm các nhà thơ “tân h́nh thức”. Nhưng thực ra, thơ chị dù mang kết cấu câu và từ khá mới, lại vẫn rất trong sáng, dễ đi vào cảm nhận của người đọc.

 

               * Nguyễn Thị Khánh Minh

 

Bên Bờ

 

Ḍng sông hay giấc mơ

Chợt hoang vắng bên bờ, ḿnh tôi

Ơ hay ḿnh đă trôi…

 

Ḍng sông hay thời gian

Mở hai mắt đă tàn phai tôi

Xin c̣n lại con ngươi…

 

Ḍng sông hay ḍng lệ

Về đâu. Tan một bể xanh dâu

Xin c̣n lại nỗi đau

 

Để mà c̣n nhận ra nhau.

     

      Trong tập thơ mới, “Kư Ức Của Bóng”, có nhiều bài thơ ngắn. Nữ thi sĩ cố t́nh kết cấu những cặp câu 5/7 chữ, gieo vần theo yêu vận mà không làm người đọc thấy lợn cợn. Đó là thử nghiệm đáng quư. Nhưng ở những câu thơ đến tự nhiên, đến như lời th́ thầm, người ta thấy rơ sức mạnh của câu và chữ, như tiếng hát tự nhiên chú chú ve con khi bật nhịp ra tấm màng ngực.

 

               Nói nhỏ

 

               Hăy ngồi gần cho em nói nhỏ

               V́ em sợ

               Tiếng ồn ào sẽ làm nên khoảng cách

 

               Hăy ngồi sát cho em nghe nhịp sống

               V́ em sợ

               Khoảng cách xa gần của hơi thở

 

               Hăy giữ em đừng để em trôi đi

               V́ em sợ

               Mùa chạm vào khắc nghiệt của thời gian

 

               Hăy đọc cho em nghe lời thơ cuộn chảy của ḍng sông

               V́ em sợ

               Cây tháng ngày không c̣n xanh thảo mộc

 

               Hăy nh́n em cho em thấy ánh nắng

               V́ em sợ

               Bóng tối sẽ nuốt chững những giấc mơ

 

               Hăy mở cho em gấc mơ b́nh an

               V́ em sợ

               Cơn băo của mộng dữ sẽ làm đau lời t́nh tự

 

               Hăy bay cùng em vào màu xanh bầu trời

               V́ em sợ

               Bóng cột em vào u hoài nỗi đợi

 

               Hăy nắm bàn tay cho em nghe hơi ấm

               V́ em sợ

               Nỗi hoang vắng của tấm ḷng không ánh lửa

 

               Hăy giữ ánh sáng

               Soi gần lại bóng chúng ta

               V́ em sợ

               Đêm trong em…

 

Người đọc dễ cảm thông khi thấy thi sĩ mượn câu thơ để nói lên tiếng ḷng thực của ḿnh. Nhưng họ mong nhà thơ mới cách điệu chữ nghĩa hơn nữa, ḥa lẫn được nó vào ánh sáng, h́nh ảnh và âm thanh, như nhà thơ “xưa” Bích Khê đă từng làm. Có vậy th́ câu thơ mới được giữ lại lâu dài…

 

              

(C̣n tiếp)

 

 

http://www.gio-o.com/VoChanCuu.html

 

 

© gio-o.com 2013