
Tuý-Hồng
Nội về thăm Nam
tản mạn
Từ phương Bắc của qủa đất, giá băng bể vụn, gió cuốn bão tuyết rớt nhẹ xuống đời. Tuyết bay từ muôn phía, tuyết tái tê trùm lên cỏ lá rồi nằm đó báo đời. Mưa rơi gió thổi mới ồn, tuyết rơi không có tiếng động, vén màn cửa ra thấy mây trời trắng toát; tất cả các mái nhà trở nên đẹp như những khay bánh cưới bên trên phủ lớp kem dày. Và ban đêm tuyết bay xuống quanh những cột đèn điện bên đường trông như hàng hàng lớp lớp thiêu thân và côn trùng trắng biểu diễn nghệ thuật muá nhảy. Hảo, một kẻ ở Mỹ kêu lạnh như thế này, chị em Hảo, những kẻ ở Vietnam kêu nóng như thế nào?
Hảo xô cửa bước ra đổ rác, đụng phải ông hàng xóm đang dọn tuyết. Hai bên ớn lạnh chào nhau. Ông ta hỏi::
“ Bà có mua đủ thức ăn dự trữ không?”
Cái tủ lạnh trong bếp trống không, nhưng Hảo trả lời có. Ông ta xoa tay nói:
“ Nghe cô Souhand bảo bà sắp về Vietnam phải không? Thật hay quá., Thật thích quá..”
Hảo biết ông Mỹ này không ưa láng giềng Viêtnam, ông ta mong Hảo về nước mỗi năm một lần cho không khí bớt ô-nhiễm và làm ơn ở lại bên đó lâu lâu tí đi bà nội.. Ngày xưa quân Mỹ sang nước ta tham chiến, lính Mỹ kỳ thị lính miền Nam, tiền đồn của hai bên luôn luôn phải đóng cách xa nhau và, ngoại trừ một lần phi công Mỹ bay sang Hạ Lào bốc thương binh Vietnam ra khỏi hành quân Lam Sơn 719, hầu như Việt-Mỹ không thể nào hành quân chung được. Lần khác ở Khe-sanh, một đơn vị thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, đồn trú bên cạnh một đại đội Đồng-Minh gồm Đại Hàn , Tân Tây Lan, Đài-loan Úc Đại Lợi vv..và sát nách một doanh trại bộ binh Nam, các cậu lính Mỹ một ngày gây lộn mười lăm lần với lính miền Nam và tám lần với lính Đại-hàn. Tội nghiệp con cái Hảo lấy Mỹ, không biết mỗi ngày trong nhà chúng nó xẩy ra bao nhiêu vụ gây lộn...
Ông hàng xóm vui vẻ bảo :
“ Năm nào có tuyết tươi như thế này thì thời tiết tệ lắm, bết lắm.. Bà nhìn coi, trên đầu trời có một trần mây chói sáng..khí hậu Mỹ năm nay không khá nổi.. Chúc bà một chuyến đi xa an lành.. Tung cánh chim tìm về tổ ấm.
Năm 1975, miền Nam tiêu tùng bởi miền Bắc, vào đúng nhiệm kỳ của Tổng-thống Ford. Ông Ford tuyên bố với báo chí tại Hoa-kỳ sẽ đem một số người làm sở Mỹ sang Mỹ và vớt người vượt biên lên bờ. Hồi đó, dân Mỹ bảo: “ Vietnamese, người của ông Ford.”. Năm 2007, tài-tử điện-ảnh Brad Pitt và giai nhân Angelina Joly sang Viêtnam làm thư tục nhận nuôi một đứa con, Viêtnam từ chối ngay tức khắc.
Hảo có hai người bạn gái lấy chồng Mỹ là cô Hoa ở Cali và cô Tâm ở L.A. Hai người này mua vé máy bay đi Viêtnam dễ dàng như Hảo mua vé xe buýt đi công chuyện, nên Hảo đoán đại rằng cô Hoa và cô Tâm bị hai ông chồng Mỹ bắt nạt phải về nước đều đều mỗi năm chứ cứ ở Mỹ mãi hoài không chịu về Việt, thấy kỳ quá. Cách đây cũng lâu, thằng chồng Mỹ của con gái Hảo cũng bỏm Hảo một câu: “ Nếu you về Vietnam, I cho you tiền mua vé máy bay.” Người Mỹ chắc nghĩ rằng Viêṭ Kiều là kẻ vong quốc, phản thùng. Người Viêtnam chắc nghĩ rằng giá máy bay từ Mỹ về Việt rẻ rề như vé xe bus..
Hảo vào nhà mở vòi nước nóng rửa tay. Đợi một lúc mới có nước ấm từ vòi chảy xuống. Năm nay sao trời Mỹ lạnh lẽo một cách sân si .
Hảo lên lầu chuẩn bị xếp đồ vào hai hành trang. Bà láng giềng người Miên cho mượn cái cân Tàu.. Hảo cho thằng cháu bà hàng xóm người Phi gửi xe trong garage hai mươi lăm ngày bão tuyết , nó cám ơn, biếu Hảo hai mươi sáu cái bánh ngọt macadamia, đặc sản Phi luật Tân. Như vậy, mỗi ngày đêm gửi xe, nó trả tiền công một cái bánh bích- quy. Sự giao thiệp giữa hàng xóm trong hẽm kiệt này là sự trao đổi qua về mấy món ăn. Hảo gói vội số bánh đem về tổ quốc làm quà cho trẻ con.
Bà hàng xóm Miên nói:
“ Mày về Vietnam, khi trở lại, đừng đem tôm khô sang cho tao”.
Hảo nói:
“ Người Campuchia chỉ thích mắm bò hóc; người Vietnam cũng khoái món khô bò, nhưng người Mỹ thì cấm đem khô thịt vào Hoa Kỳ mà chỉ cho đem khô cá và khô tôm vào. .. mà thôi.”
Thằng con Út bảo không được đem thuốc nhỏ mắt, dầu Olive, dầu gió xanh, dầu Nhị thiên đường Vạn ứng nhị thiên dầu, và nước hoa về Việtnam..tất cả các chất ướt, nghiã là tất cả các chất lỏng đều bị cấm tại phi trường; tiếp theo, nó nói không nên quẳng về nước những dụng cụ bếp núc nặng . Nó dặn kỹ đừng mua biếu thân nhân kẹo chocolat, nho tươi, bánh ngọt Phi Luật Tân vì nó thấy những thứ đó bày bán tràn đià đường phộ́ Sàigon. Hảo xếp vào vali nào là khăn bông, thuốc gội đầu, kem đánh răng, bột giặc tide.. Lúc đó Hảo mê lú quên rằng người ở quê nhà rất khoái ăn nho Mỹ. Thằng con mở cái vali ra soát rồi kêu lên như cha chết ‘mẹ ơi sao mẹ không nghe lời Cutý dặn, không được cho cái nồi cơm điện cũ và cái chảo chiên vào đây.’ Hảo nhấc cái cối đá nhỏ và cái chày vồ lên, cầm lấy cái máy xay rau má, đặt cái bàn ủi xuống; thằng con la ‘ Trời ơi, God ơi nặng quá.’ Hảo giảng cho nó hiểu rằng Sài gon dạo này nhà nào cũng làm sữa đậu nành để uống, mẹ phải đem cái máy xay sinh-tố về. Hảo còn muốn đem cái máy vi tính xách tay cũ và cái DVD kinh niên về tặng cô em thứ năm của mình..thằng con giữ tay tôi lại..mẹ mẹ..sao cứng cổ̉, bất khuất quá chời..sao Cutý dặn bảo điều gỉ mẹ cũng cãi lại không vâng lời .
Đang xếp đồ thì điện thoại reo:
“ Mẹ. Có khoẻ không?.”
Hảo kêu vui:
“ Mẹ thường. Con gái của mẹ có thường không?”
Con Thuý hỏi:
“ Mẹ đã khai báo với sở Xã-hội chưa. Mỗi lần ra khỏi Hoa-kỳ để đi về bên kia biển, mẹ phải làm giấy tờ và cho sở xã hội biết số điện thoại của thằng Cu-Tý, để có gì, họ liên lạc với nó.”
“ Thằng Cu-nhớn giúp mẹ điện thoại cho sở Xã-hội rồi, bà worker gửi một lô giấy tờ bắt mình phải điền vào nhiều chi tiết..”
Hảo vừa gác máy, thì cái điện thoại lại réo:
“ Mẹ, tối nay mở máy vi-tính nghe hai đứa nhỏ hát.” Thằng Cu-nhớn gọi.“ Hai đứa nhỏ hát những bài ca Việtnam mà mẹ dạy chúng nó..”
Hảo nhấc cái máy may cũ nặng 20 pound đặt vào vali để đem về tặng cô em thứ năm. Máy may này mua đã lâu lắm nhưng vẫn còn mới ,vì Hảo chỉ may cho mình hai cái áo dài và khâu-vá độ mươi bộ đồ cho chồng con một thời gian ngắn rồi dẹp vào một góc. Thì giờ của tuổi già không thể lãng phí thêm vào aó quần được nữa. Nếu tôi phải hối hận những việc đã làm trong quá khứ thì, đầu tiên tôi tiếc nuối đã để mất quá nhiều thì giờ vào áo quần. Hảo đã thương yêu quần áo, đã ăn mặc quần áo quá kỹ, nhưng áo quần chẳng chồng lên tôi một tấm chồng để bao che đời tôi.......
Hành lý xếp đến chiều vẫn chưa dứt khoát xong. Thằng con Út hỏi mẹ có ăn phở không để nó đi mua. Hảo lắc đầu:
“ Mẹ ăn cơm nguội với canh măng chua.”
Thằng con đi ăn ngoài rồi trở lại để cân thử hai cái vali và dặn dò trước khi về nhà nó:
“ Mẹ..hãy nghe kỹ hai lời Cutý nói: không được mua băng nhạc bất hợp pháp ở Viêtnam. Chỉ mang theo được hai cái vali, mỗi cái nặng 50 pound..nếu quá cân, phải trả tiền phạt rất nặng.. nghe không?..”
Hảo mở computer thăm hai đứa cháu nội. Không biết giống ai, hai đứa nhỏ nhà này rất ham muốn ca nhạc và thuộc lòng nhiều baì hát .
Hai đứa cháu nội đứng bên nhau, cùng đội hai đầu tóc giả bằng len. Nửa mái tóc đỏ bung ra che mù bốn lỗ mũi, hai anh em cùng đưa tay vuốt và nhét vào sau vành tai, cử chỉ quá điệu, tha thiết như ca sĩ thứ thiệt. Con Sa nhún chân uốn mềm thân hình nhỏ.. Thằng Coi hất mái tóc giả xuống đất, ôm cây đàn, chơi một vẻ mặt điêu linh mênh mông buồn, tay quẹt phạch phạch, phèng phèng, phịch phịch trên mấy phím giây tơ, chân thỉnh thoảng nện một phát xuống nền nhà..trông không khác chi người nghệ sĩ rơi tuốt xuống mương.. Đã vậy, thằng Coi hôm nay rửa mặt sạch trơn, tóc chải dựng đứng lên nên mới ngó qua, Hảo tưởng đó là ca-sĩ Thiệu-Kỳ Anh, nhưng nhìn lại thì không phải vì ca sĩ Thiệu-Kỳ Anh đẹp trai chứ đâu có xí-xấu như thằng cháu xí-xọn của Hảo. Nó tập trung tất cả cố gắng để hát một bài ca cũ:
“ Bà nội ơi, hướng về thành phố xa xôi,.
Ánh đèn...
Con Sa xích lại gần thằng Coi hơn để cùng réo rắt song ca:
“ Bà nội ơi, mắt huyền trong cõi đê mê..
Tóc thề thả gió lê thê.”..
Bỗng con Sa xô thằng Coi ra xa, tiến lên một bước, lanh miệng nói hớt:
“ Chúc bà nội về thăm Viêtnam an lành.”
Thằng Coi bao giờ cũng thua em nó một nút, không lém, không lanh như con em.. Nó vội níu con Sa lại, vừa nói vừa thở ra một câu cụt:
“ Nội về thăm Nam.. an lành.”
Vé máy bay mua vào dịp khuyến mãi nên Hảo không được bay một lèo mười bảy tiếng đồng hồ từ Mỹ về Việtnam mà phải dừng lại ở ba trạm Seattle, Taipei và thành phố Hồ Chư Tịch… Vợ chồng thằng con Út tiễn đưa Hảo ra sân bay Portland. Chúng nó gửi gấm Hảo với nhân viên hàng không, nên khi đến phi trường Seattle, có một ngươì đàn ông tiến ra hỏi tên Hảo rồi đặt Hảo ngồi lên xe lăn tay. Người viên chức hàng không xách hai valy hành lý của Haỏ lên xe, bảo:
“ Tôi biết ngay bà là người Viêtnam, hoặc người Đông-Á.. Hành lý của quý vị quá nhiều,.. nào valy, nào thùng, nào hộp bự, nào túi lớn..đựng hết tất cả đồ đạc trong nhà để đem về nước. Sau bao nhiêu năm là nhân viên phi trường, tôi kinh nghiệm rằng người giàu có, người da trắng sang trọng.. là người đi du lịch mang theo rất ít hành lý.”
Thấy Hảo im, tên đó nói tiếp:
“ Có ngày máy bay sẽ rớt vì quý vị đem đồ về nặng quá.”
Sau gần hai đêm, Hảo mới đến phi trường Taipei..Vì phải nghỉ ở Seattle quá nửa khuya, ngồi ở Trung-quốc hơn nửa buổi nên khi đụng chân xuống đất nước thân thương thì Hảo sụm hai bánh chè.. Đối với tôi, đi tàu bay không có cái khoái như được đi xe lửa hạng nhất thời Pháp thuộc, cũng không có cái khỏe như khi bước lên xe bus, Hảo vốn khó ngủ ngay cả lúc nằm trên giường nệm quen thân của mình, nên ngồi trong phi cơ, ăn những món ăn dở ẹt, Hảo cứ nhúc nhích luôn trên cái ghế dựa lạ, đực mặt ra ngắm nhìn nữ tiếp viên hàng không..Nước Mỹ cho tôi một sức khoẻ èo uột, nên khi phi cơ đáp xuống Saigon thì tôi đau ê ẩ̉m hai bên xí oách, tê cứng xíú-mại. Khi khai báo với nhân viên phi trường, Hảo cúng cô hồn mười dollar; lúc lãnh hành lý, Hảo tế thần bốn dollar, nhưng tôi vẫn xúc động rạt rào khi nhìn một chàng cảnh sát mặc quân phục kaki màu vàng đi ngang trước mặt tôi .
Đủ mặt chị em tôi đang đứng đón tôi ngoài cửa phi trường Tân-sơn nhất. Tôi đã bỏ tất cả chị em tôi ở lại Viêtnam, tôi đã đá họ một cú móc hâụ té chổng mông, nhưng như một chuyện lạ, cả nhà không ai ghét tôi. Lang bang, tôi nghĩ rằng mình giống như một Thuý Kiều đi làm đĩ từ phương xa về. Việt Kiều, Thuý Kiều.. đọc lên nghe na-ná nhau.
Tôi được chỉ định ăn và ở tại nhà cô em áp út. Hai vali đựng áo quần và quà tặng để đó đã. Đem quà tặng về quê hương chẳng sang hơn ai. Tôi về nước chuyến này là do con gái chiụ phí tổn máy bay và bỏ ra mấy nghìn bạc để tôi biếu thân nhân. Thằng Cutý cho mượn cái túi luạ để nhét tiền vô rồi nịt lại ở bụng. Nếu xuất tiền ra mua đồ đẹp và đặc sản Hoa-kỳ đem về biếu bà con thì mấy nghìn bạc tôi đeo vào cái bụng bự của tôi còn chi ? Cái đồng dollar Mỹ bao giờ cũng hãnh diện đứng trên nóc trời thế giới. Tôi đã đem đồ cũ ở Mỹ về tặng người thân...
Mấy chị em lên xe của thằng cháu rễ, cô em thứ năm tên Trân nhìn Hảo nói:
“ Chị sang nhà em ở với em.”
Cô em thứ tư cầm tay Hảo:
“ Em sẽ dẫn chị đi Chùa Già-Lam và Chùa Hoằng-Pháp..Việt kiều khắp nơi đều đều gửi tiền vê ̀ tu bổ tất cả các ngôi Chùa cũ thành Chùa mới, nên Chùa bây giờ đây không thua gì Chùa ở Mỹ..Chùa bây giờ là những ngôi tân tự, không còn là những ngôi cổ-tự..”
Tôi nhìn vào khuôn mặt cô em thứ nhì, cả một khối mặt đang bị buồn đau vò xé và dĩ vãng đè nặng. Đôi mắt xếch giá lạnh như tranh tố-nữ xưa. Tôi nhìn cô em thứ chín, người đàn bà này cách đây hơn bốn mươi năm đã bảo tôi:
“ Chị không cho em út một đồng xu ten nào để mua đôi guốc, chị không một tình nghiã nào dành cho em út. ”
Tôi nhìn cô em thứ bảy và đặt tay lên vai cô em thứ tám. Bà chị tôi bảo:
“ Thôi mấy mụ giải tán về nhà đi, để cho mụ Hảo ngủ lại sức trước đã rồi nói chuyện sau.”
Tôi mê lú ngủ một giấc dài, sáu giờ chiều mới bật dậy. Cô em áp-út tên Phương kêu:
“ Ui trời ơi..Việt-kiêù về nước ngủ ngon quá trời.”.
Một phân số_con số ½ viết bằng hai số_của một giây đồng hồ im lặng, rồi Phương tiếp:
“ Tối nay em luộc trứng cút cho chị ăn, Saigon bây giờ thiên hạ nuôi cút nhiều lắm vì cút đẻ nhanh hơn gà.”
Phương nói thêm:
“ Một cái trứng gà, chất lượng bằng ba cái trứng cút.. Tiếc quá, chị về muà này không trúng vào muà lệ-chi, muà vải. ”
Từ ngoài xa, tiếng còi xe là tiếng lòng của thành phố. Từ bàn chân, Hảo duỗi dài những ngón cho đỡ mỏi. Bỗng dưng mặt trời rút lại những tia nắng, rồi có tiếng động từ cao xanh, rồi cơn nổ mạnh. Mưa thủ-đô thô lỗ đập ầm ầm trên mái nhà. Cơn mưa gấp rút, đùng ̣đùng một lát rồi quên ngay. Nếu mưa Sàigon kéo dai như mưa Huế thì mấy ông bạn chạy xe ôm làm sao sống.
Sàigon, người Hoa gọi là Xì-Coón, bốc hơi nóng sáng trưa chiều tối. Tiếng ồn cố dồn nén nhưng vẫn bật mạnh. Nền đường xi măng trong hẽm cụt tương đối sac̣h. Mặt tiền các nhà trong ngõ hẹp có cổng sắt rào sắt và cửa sắt , bên trên là những chấn song nhọn. Bên Mỹ, nhà cửa trong hẽm cụt đều chỉ có cửa sổ bằng kính trong veo, không biết giờ nào kẻ cắp sẽ ập vào. Mặt tiền đường sá Sàigon nhiều cao ốc, lầu cao, phòng chật và ốm, không phát phì rộng ra được mà phải rút vào sâu. Một trong những cô em của tôi ở trong một ngôi nhà đã thóp tiền lại thót hậu, một ngôi nhà không to béo, vòi nước máy chảy rỉ giọt như nước mắm nhĩ, như thằn-lằn đái. Đã thế, ban đêm lại phải đem xe vô phòng khách. Nước Mỹ mập, đất Mỹ nhiều chất bổ nên nhà ai trông cũng to ngang. ở Việtnam, mình có thể ăn uống sướng hơn nếu có tiền, nhưng ở Mỹ, mình có chỗ ở bự hơn.
Mặt trời cúi xuống và thời tiết Sàigon hơi khùng. Hảo ăn cơm chiều với cá lóc hấp và tráng miệng hai lát thù-đủ chín. ở Mỹ, Hảo chỉ ăn thịt gà thôi, đâu có đư tiền mà đụng tới cá và mua nổi một trái đu-đủ. Cô em bảo:
“ Tuần trước chị Hoa về nước , chị cho anh Hội bốn nghìn rưỡi đollar, tám lạng vàng, ba cân cao hổ cốt.”
Hảo gắp miếng cá lóc bự đút vào đầy miệng. Bên ngoài, một chàng trẻ đang lượn Honda vào xóm. Hảo chú ý ngắm chàng làm điệu bộ, nhích sang bên phải rồi nhích về bên trái, eọ qua eọ lại uốn éo mình dây. Trai Sàigon biểu diễn xe hai bánh, nếu tài tình bao nhiêu thì nguy hiểm bấy nhiêu. Sàigòn là một thành phố sung sướng nhưng cũng là một đô thị bất hạnh với nỗi khổ xe cộ.
Cô em nói tiếp:
“ Năm 1975, bà Phong cho sáu chuyến tàu bay tù̀ Texas về ViêtNam di tản sáu ông chú, em ruột của cha bà, sang Mỹ.”
Qua
hai câu nói, cô em chỉ trích rằng tôi đem
tiền về quá ít và tôi bỏ rơi cả
gia đình không bảo lãnh sang Mỹ.
****************
Ngày năm tháng tám năm 1964, B-52 bắt đầu bỏ bom miền Bắc. Người Mỹ chê đường lối chống Cộng của chính phủ Sàigon là trái cựa, không ̣được lòng dân, họ chi tiền thành lập một đài tiếng nói tình thương phát thanh sang bên kia Bến-hải: triệt để không nhắc tới bốn chữ đả đảo Cộng sản mà chỉ nói với nhau những lời tử tế: anh sinh Bắc tử Nam, anh còn mẹ già, anh còn vợ trẻ con thơ...
Năm ba anh nhà văn được trả tiền viết bài đọc chống Cộng kiểu đó. Đến khi miền Nam bị Cộng chống bại thì họ đi Mỹ. Ông xã Hảo phụ trách chương trình Tao Đàn ở đài phát thanh nên được kéo đi theo. .
Đến Seattle, Hảo đi may thuê rồi sau đó đi làm thư ký nhà băng, dành dụm được một nghìn rưỡi đô-la để đặt cọc mua nhà. Ông xã kêu lên như bị vợ bóp cổ:
“ Ôi em ơi, anh chỉ thích ăn ngon, anh không muốn ở đẹp. Thằng Mai Thảo bảo rằng ở Mỹ, chỉ cần có một tấm nệm đặt dưới lưng mà nằm cho khỏi đau là đủ rồi.”
Hảo nói:
“ Ông Đạt đã mua đến cái nhà thứ mấy rồi..Cô Linh Vang đi làm hai job, mua đất, mua vàng.. Tự do mà nghèo, độc lập mà túng..hai thứ đó đem cúng Chùa và lễ nhà thờ thì Chùa chê, nhà thờ chán vì business là business, nơi tôn nghiêm thờ phượng cũng cần có cái buyn-đinh bự bự một chút để con chiên, tín đồ đến lễ lạy và cúng tiền chứ đâu có cần cúng tự do..”
Ông xã đau thương như bị nha sĩ lấy gân máu trám răng:
“ Ăn tô phở sướng hơn mua được cái nhà. Anh nghĩ rằng được trời cho ngồi ăn phở và nhậu bia lai rai với bạn bè..là đúng. Người Việtnam mình cũng là một hồn ma Do-Thái lang thang mà em, mua nhà trả góp mỗi tháng là sai.”
“ Ăn phở mệt nghỉ như anh thì chỉ tổ đái ra calcium. Bác sĩ Danh bảo rằng nước tiểu của anh vàng khè như xúp gà, đục lờ như canh hến vì toàn cả vôi và vôi.”
Bằng hữu gần xa, đa số là các bà, hầu như ai cũng quý mến ông xã này hơn Hảo chỉ trừ một người chê ông ấy không có tham vọng.
Hảo nói luôn:
“ Ông Dân bảo anh là người thiếu tham vọng. Anh cọ xát với cuộc đời mới, nhưng anh không phát ra ánh lửa ham muốn nào hết.”
Cuối tuần, hai vợ chồng được mời đi ăn mừng ông bạn Minh mập đã mua được nhà, đã đạt được giấc mộng Mỹ: nhà to và con cái học giỏi thi đậu. Vài ba ngày lại có tin ông A đã mua cái nhà thứ nhì, và có thằng con vừa được nhận vào vào trường thuốc ở đại-học Washington.. Bà B mua ba lô đất. Sinh hoạt cộng đồng giờ phút nào cũng nóng như chả cá chiên thià-là.
Hảo lái xe đi Renton gặp riêng Đạt. Cuối tuần này, Đạt không về Seattle vì phải làm siding cho căn nhà mới mua.
Đạt hất hàm hỏi:
“ Chồng đâu?”
Hảo vào đề:
“ Ông cho tôi vay một ngàn đồng đi. Để đặt cọc một cái nhà..Cái nhà cũ này sắp sập.. người ta chịu bán cho tôi với giá 21 nghìn.”
Đạt gạt đi:
“ Nhưng ông chồng bà là dân rung đùi uống rượu, không sửa nhà, không đi cày làm vườn, không thức hai giờ sáng đóng ván ép được, chồng bà đâu phải là dân mua nhà cũ, mua xe cũ..đem về đập phá, tháo ra, lắp lại..như tụi này.”
Cơn sốt mua nhà chưa hạ thì cơn say bảo trợ thân nhân sang Mỹ bừng lên. Chồng Hảo xét nghiệm mắc bệnh ung thư. Trước ngày lên bàn mổ, ông nói một câu mà Hảo cho là ý nghĩa hơn bất cứ bài thơ nào trong thi tập Đất Khách:
“ Một thằng thích ăn ngon, thích nấu nướng như thế này mà Trời khoét một cái lỗ ở cổ nó..không cho nó nuốt và không cho nó nói..chắc là kiếp trước tôi đốt Chùa.”
Ông xã Hảo viết ra giấy: “ Tôi ít đau trên phổi, trong sườn như mọi lần mà đau ở lưng, ví như lưng tôi phải nằm lên mấy cục sắt nhọn, tôi đau liên miên ngày đêm, đau vòng lên cuống họng và phổi.
Những lúc chịu đựng không nổi, hai vợ chồng đi Chùa, nhưng không phải lần nào đi Chùa cũng dịu đau và tìm được sự thanh thản. Nhưng dù sao thì sau cơn đau, lòng cũng phải dịu lại. Ngồi một mình trong sân Chùa vắng lặng, nghe tiếng kinh tụng và tiếng chuông ngân rồi nhìn những cánh hoa rơi trước cửa Phật, và những con chim sà xuống để tìm cái ăn, một vài khổ đau cũng tạm lắng dịu.”
Chủ bút báo Đất Mới tung tin đoàn tụ gia đình trên giấy, đi xin đơn cho đồng bào, hướng dẫn cách thức điền giấy tờ. Ưu tiên, ông ta đến nhà hỏi Hảo có muốn bảo trợ đại gia đình sang Mỹ không. Ông ta kéo Hảo ra riêng, bảo:
“ Tất nhiên bà biết bệnh của hắn sẽ thế nào rồi, và bà biết bà sẽ phải thế nào rồi . Nếu Hảo cần bao nhiêu mẫu đơn, tôi sẽ lấy cho Hảo.. bảo trợ gia đình sang đây.”
Ông ta kéo Hảo trở vào. Ông xã trách:
“ Anh thì bệnh nặng như thế này, thằng Áp thì vừa mới đụng xe với ba vết thương trên người..Trong nhà này vẫn kê hai cái giường bệnh, em nhớ cho. Ngày mai anh chết, em một mình phải săn sóc nó cả đời, nó cần em mãi mãi.”
Tối đến, vợ chồng Đạt tới thăm, Đạt bảo:
“ Bà hãy dẹp tất cả mọi chuyện khác đi. Lo cho ông trước đã.”
Cuối năm, chồng Hảo chết và hơn một năm sau, Đạt bất đắc kỳ tử bởi tai nạn xe hơi.
Chủ bút báo Đất Mới bảo Hảo lần nữa:
“ Nếu Hảo không bảo trợ được cả gia đình thì..đem một mình cô Trân sang đây. Sao nỡ để em gái chết đói và chết nóng ở sàigon.”
Trong óc Hảo luć ấy, chỉ có tham vọng mua một cái nhà bốn phòng ngủ, chứ lương tâm thì hoàn toàn táng tận, không một tình nghĩa gì với em ruột ,với chị ruột hết.
Nhiều năm sau, khi ông em của Hảo đến Mỹ, ông ấy gầm lên như cá voi Phi-Châu vừa bơi vừa hát dưới biển mặn:
“ Chị không bảo trợ gia đình sang đây.”
Hảo biện hộ cho tội ác của tmình:
“ Nhưng sau đó, mấy mẹ con tôi đã rốc hết tiền trong nhà băng để gửi về, nhưng bên nhà không một ai can đảm vượt biể̉n sang. Người nào cũng quá sợ hải tặc.”
Ông em Hảo nhẹ khép đôi môi ngao ngán như con mèo léopard vùng Tây-Á bị người Âu-Mỹ dí năm mũi dùi sắt cháy đỏ vào bụng để hóa thành cọp ác canh giữ ngà voi chôn dấu trong rừng già. Nữa phút sau, câu chuyện tiếp tục:
“ Chị không bảo lãnh cả gia đình sang đây để người Mỹ đóng thuế nuôi họ ăn, chữa bệnh cho họ. Ở Mỹ, con người sống lâu hơn ở Viêtnam, tuổi thọ kéo dài ra được. ”
Kiếp
sau chắc tôi phải trà nợ cho tội ác
tôi làm trong giờ phút này của kiếp tôi đang
sống.
************
Từ những ngày xưa ngu dại, tôi đã mơ hồ yêu một người cảnh sát gác đường mặc quân phục kaky màu vàng. Các cột điện ở những ngã tư trung tâm thành phố Hồ Chí Minh đứng thẳng. Ánh mắt của đèn xanh đèn đỏ chớp nháy nhưng không liếc tình. Sài gon vươn vai tiến mạnh cùng các cường quốc văn minh, tuy phương tiện giao thông chính yếu vẫn là xe hai bánh. Nếu hơn thập niên về trước, người Mỹ đã đến Trung quốc mở tiệm bánh Mcdonald thì năm nay, các nhà buôn Vietnam đã ký hợp đồng sản xuất trái thanh long sang Hoa kỳ.
Hảo hỏi cô em:
“ Đây là thành phố Hồ Chí Minh, vậy có con đường nào hoặc công trường nào hoặc qủang trường nào mang tên Viêṭ Minh? Hồ Chi Minh và Việt-Minh sao có thể rời xa nhau?.”
Cô em sinh sau năm Ất́-dậu nên không biết Việt-minh là gì. Hai chị em đi bộ hết buổi sáng để Hảo đếm xem có bao nhiêu tên của các chiến sĩ và nghệ-sĩ tiền-chiến được nhà nước chọn đặt tên đường.
Mỏi chân, Hảo quay về nghe nhạc. Bài hát Ý Trở về mái nhà xưa của E. Curtiss, Phạm Duy đặt lời ca Việt khi ông còn hoạt động chính trị tại chợ Neo, Thanh Hoá. Hảo nghe lại tiếng hát Thái Thanh thuở làm con gái, làm cách mạng, làm nữ cán bộ văn-công Trung-đoàn và làm mật vụ cho cơ quan tâm lý chiến đồn trú tại làng Sim, Thanh-hóa.
Về đây khi mái tóc còn xanh xanh
Về đây với làn gió muà lang thang
Trở về Sàigon, nay là đô thị Hồ Chí Minh, Saigòn có gì khác lạ với miếng khẩu trang che bụi nắng và ly cà-phê ấm?
Các cô em có chương trình sẵn, mỗi người ít nhất một lần, nấu món ngon mời Hảo ăn và cho ở lại trong nhà. Và khi có việc cần phải đi đâu, họ cầm tay Hảo dẫn ra đường. Cầm tay một Việt kiều băng qua đường phố Sàigon là làm một công đức. Rồi cùng đứng đợi xe buýt với Việt kiều nữa....
Hảo nhìn lên trời tiên đoán thời tiết..Mống dài thì nắng, mống ngắn thì mưa, mống vừa thì lụt. Trời Sàigòn hôm nay không có mống nào. Mống tức là ráng, ráng chiều.
Sàigon giàu có với hình ảnh những chiếc taxi tối tân, và đoàn xe buýt cải tiến chạy thường xuyên ngoài công lộ. Từng chiếc buýt lớn trôi qua, nhẹ êm trên đường Phạm Ngũ Lão, con đường xưa kia vốn là xóm Sáu Lèo ở sau nhà ga xe lửa, dân nghèo chen lấn trong hẽm sâu nhà tôn vách ván. Xe buýt ngừng, rồi lại lứơt đi, rồi lại bóp còi, xe buýt tiếp tục lao vào đời không đứt đoạn. Xe buýt Sàigon có chàng lơ thu tiền và thối tiền lại cho khách hàng, giúp đỡ người già và người khuyết tật lên xe. Sức chưá của chiếc xe buýt Viêtnam to, và dài, tuy không tiện nghi bằng chiếc bus Mỹ nhưng sạch và thích nghi biết bao.
Hôm nay Hảo đáp xe buýt sang nhà Qủang,cháu gọi bằng dì, ăn bún bò Vĩ-dạ. Chiếc xe buýt chạy trờ tới, chàng lơ xe mở cửa cầm tay Hảo kéo lên. Xe buýt có máy lạnh, tài xế và lơ xe cùng đẹp trai, chàng lơ trẻ đụng vào vai Hảo, đâỷ Hảo đi tới hàng ghế trống, ấn Hảo ngồi xuống và ngọt ngào bảo: ngoại ngồi xuống đây đi ngoại.
Người Huế còn gọi bún bò là nóng sốt, món hàng rong buôi sáng, ít ai ăn vào buổi chiều. Phải đứng canh nồi nóng sốt là Trân, em gái thứ năm trong gia đình. Cô Trân này: nấu ăn, một cây; may vá, một cây; và vẽ tranh tĩnh vật xuất sắc hơn nhiều môn sinh của hai hoạ sĩ Thái Tuấn và Tạ Tỵ.
Hảo kêu:
“ Trời đã nóng, lại ăn bún bò cay, khi trở về Mỹ, lạnh tái tê.”
Cô em nhỏ, mặt tươi như chè ba màu, bắt bẻ:
“ Lạnh thì được lañh tiền trợ cấp nhiệt, chính phũ Mỹ không để ai chết cóng trên đất nước Hoa Kỳ bao giờ.
Cô em thứ năm hỏi mọi người đã sẵn sàng ăn chưa để cô gắp bún ra bát và tưới nước lèo vào tô. Nước ớt màu đỏ rực như máu dơi Phi-châu, ai khoái cay thì múc một muỗng nếm chơi cho bừng nóng, cho run lạnh, cho chua ngọt, cho chát đắng tìnḥ đời. Hành ngò, rau răm, húng lủi húng quế cũng dậy mùi như lòng người Huế rưá..Hãy vắt vài giọt chanh vào tô bún bò để thấy mắt gái Huế long lanh như nước giếng, để nghe hơi thở gái Huế nồng ấm mùi bắp nướng, để biết đôi môi gái Huế đỏ hồng vì qủa ớt cay. Hãy ngoạm một miếng thịt heo hầm nhừ cho lá gan gái Huế vàng tươm như trái bàng chín, cho tình dục trong lòng gái Huế hăng lên khi gió nồm thổi lá vằng rơi trong nội thành..Và hãy ăn hết tô bún bò bự cho sức khoẻ bừng lên trong buổi trưa mệt. Bún-bò giò heo do cô Trân nấu ngon dễ sợ, ngon chi lạ rưá thê, không thua chi bún bò Vĩ-dạ; cô Trân đúc bánh bèo dẻo hơn bánh bèo Ngự-Bình; cô Trân đổ bánh xèo dòn hơn bánh xèo Gia-hội. Tuần tới, cả nhà đề nghị Trân gói tré và nấu bánh canh Nam Phổ chan nước mắm Nam-Ô. Tuần sau nữa, ai nấy đòi cô Trân thực hiện món cơm-hến bến đò Cồn và xôi-bắp Đập-Đá. Hảo đem về nước ba mươi hai thước vải phin bắt cô Trân may cho Hảo sáu bộ quần áo mặc nhà.
Một cô em chỉ vào Hảo:
“ Mọi người hãy ngó Viêṭ kiều ăn bún bò : Viêtkìêu nhai, Viêt kiều nuốt, Việt kiêu húp..kiểu cách như công chuá trong Nội.”
Cô em út hỏi Hảo:
“ Chị đã đi chợ Sàigon chưa? Việt-kiêu về nước mua tôm khô, mua hạt sen nấu chè, mua cà-phê...”
Hảo hỏi:
“ Có bao nhiêu hạt sen trong một chén chè em biết không?””
Cô em áp-út nói:
“ Việt-kiều về nước mua băng nhạc, mua thiệp hoa ép khô.. và chị ơi, đừng quên ly cà-phê Sàigòn.. ”
Hảo ngừng ăn, kêu:
“ Nhưng chị hết tiền rồi..tiền hết là Tết hiền, vài ngàn như điên..”
Cô em tên Mười kêu:
“ Việt-kiều ơi hãy uống thuốc xỗ? Hãy bựa một tí đi, đừng quá kẹo rặn mãi không ra. .Haỹ iả chảy đi chị ơi cho bà con nhờ tí..Việt-kiều ở Mỹ được lãnh bao nhiêu món tiền trợ-cấp..Chị ơi, hãy tiêu tiền một tí đi, hãy hăng hái xài sang.. mua sắm hàng hoá Sàigon, hãy ngạo nghễ đi hết tất cả những con đường không còn mang tên cũ, hãy dạn dày đón ánh nắng từ xích đạo rọi tới..Việt Kiều về nước ai cũng đi tận biên giới Việt-Lào để mua đồ bán lậu, một cái nồi cơm điện bán lậu giá chỉ mười đô..Việt kiều ơi đừng đau bệnh trĩ, tiền chưa tiêu, răng và đít đã chảy máu. ”
Phòng khách nhà cô em lớn là một căn phòng sạch, thoáng khí, không bày bưà vật dụng thiếu ngăn nắp, kém vệ sinh. Sát vách tường kê hai tủ kính, bên trong chưng bày đồ sứ Minh-Thanh; bên trên, một bình bông kiểu Tàu từ đời nhà Hán đặt giữa hai chiếc lư đồng Tống-Đường. Đứng dưới nền nhà, mấy cái trống cũ đời nhà Hán mua ở Hà-Nội vào dịp cô con gái được nhà nước cho đi dự hội nghị phụ nữ. Ngoài sân, người cháu rễ vừa đi tập võ Tai-Chi về, tài xế mở cửa xe bê hai thùng nước ngọt vào nhà trước. Ngày chưa trưa, hơi ẫm và hương ấm của nắng từ trên mây bạc rọi sáng những nét điêu khắc trên bức tranh lục-mã phác hoạ dấu hiệu của nhà băng Trung quốc.
Cô em thứ sáu da mặt mát tươi như lá long-tu, bắt đầu kể tội Hảo:
“ Năm 1975, khi vừa đến Mỹ, mỗi gia đình Việt Nam được lãnh 500 đô. Tiếp theo, các cơ quan thiện nguyện, các nhà thờ công gíaó và Tin-Lành vào trại tị nạn bảo lãnh họ ra và nuôi ăn, nuôi ở,̉ và mỗi tuần lễ ký cho họ một chi phiếu để tiêu xài. Sau đó, chính phủ Hoa Kỳ cho họ tiền mua nhà..”
Hảo ngạc nhiên:
“ Sao em biết rõ chuyện nước Mỹ vậy ?”
Cô em thứ tám lấy nắm xôi vắt mang theo trong xách tay ra ăn vì̀ tính cô không thích ăn bất cứ món gì ở nhà ai hết.
Cô em thứ mười hỏi:
“ Chị bảo rằng ngôi nhà chị đang ở là do chị mua, chứ không phải Mỹ cho?”
Hảo ngạc nhiên:
“ Hỏi gì kỳ lạ quá vậy ta?”
Cô em thứ chín hỏi:
“ Chị kêu trời lạnh, vậy Mỹ trợ cấp tiền đốt lò sưởi.. chị để đâu?”
Hảo giảng:
“ Ở các tiểu bang lạnh, nếu mình nghèo, khi mình về hưu, mình làm đơn xin trợ cấp tiền mua khí gas hoặc mua củi đốt muà đông thì họ cho mình hai trăm rưỡi đô-la. Số tiền đó bằng 1/3 số tiền điện hoặc gas mình phải trả mỗi muà lạnh..Mấy đứa con phải thay nhau trả giúp chị phần còn lại.”
Cô em thứ một hỏi:
“ Phải làm đơn xin? Chứ không phải cứ về muà lạnh thì người Mỹ tự động nhét tiền vào tay mình hay sao?
Hảo giải thích:
“ Sáng nay báo Sàigon đăng tin nạn thất nghiệp ở Mỹ lên tới tám mươi lăm phần trăm, hầu hết các ngân hàng đóng cửa, và chó mèo uống sữa mélamine chết đầy đường phố..như vậy, nước Mỹ phá sản rồi, đâu có tiền nữa mà nhét vào tay Việt-kiều ..”
Cô em thứ sáu nói chậm:
“ Bà Thanh Châu mỗi lần về Việtnam ở lại ba năm, Bà Dung thì ở lại luôn không về Mỹ nữa cho tới khi chết, chị tôi về nước chỉ ở lại vài tháng.”
Hảo cố giảng rõ hơn:
“ Mấy năm trước, khi chị làm giấy tờ để lãnh tiền hưu trí, họ đưa cho chị đọc mấy tài liệu trong đó có câu: Hoa Kỳ không giao thiệp tiền bạc với Viet-Nam. Tiền hưu của mình, Mỹ chuyển vào nhà băng cho mình, mình phải có mặt ở Mỹ để mà lãnh, vì Mỹ không giao thiệp tiền bạc với Viêtnam. Và hằng năm mình phải điền đơn khai lại giấy tờ khá mất thì giờ . Nếu mình hoàn toàn hưởng trợ cấp xã hội, mình được lãnh thêm phiếu thực phẩm thì không ̣được ra khỏi Hoa-kỳ quá 29 ngày. Chị không thể ở lâu được ..”
Cô em cười nhạt :
“ Mớ giấy tờ chị đọc đó chắc do ông Bush soạn ra.”
Hảo nhìn khuôn mặt hẹp của cô em, khuôn mặt không to ngang, hai gò má không cao, xương quai hàm không vuông, nên trông Phương không có tướng sát phu như Hảo. Lưng Phương thẳng, cuối xương sống, cái mông không to ra mà dài và gọn, nên trông có chút mỡ, chút da thịt. Nếu mông ngắn và dẹp, ấy là do thiếu thịt mông , đã không quyến rũ lại còn có tướng sát phu như Hảo, cha già nào mà ưng nổi..
Cô em thứ mười nói:
“ Ông Bush đã đưa Hoa-kỳ vào chỗ phá sản.”
Mèn ơi..Tổng-thống Bush mà em tôi cân không nặng đủ một gờ-ram.
Cô nhỏ nói thêm:
“ Ông Bush đó phải đứng ra chịu tội với dân Mỹ.”
Ui chao.. Có lẽ ngày xưa Hoa-Kỳ đã nhúng đuã vào nội bộ Vietnam nên giờ đây chuyện gì xẩy ra ở nước Mỹ em tôi đều biết đủ
Ăn xong vắt xôi, Minh ra về một mình., Hảo sang nhà Trân ở lại hai tuần.
Nhà Trân toạ trên một điạ chỉ ̉ở ấp Thời-tứ, xã Thời-tam-Thôn, quận mười một, người đưa thư đạp xe ngang qua trước cổng sắt mỗi ngày. Ngôi nhà hai tầng trông ra một rẻo đất không rộng mấy, nhưng đủ cỏ cho trâu bò ăn và chim ác-là bay đậu trên lưng trâu bò. Những ngày ở nhà Trân, sáng nào hai chị em cũng đi bộ trên con đường trước mặt nhà, con đường xe đạp chiếm đa số, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe hơi chạy qua, và tấp nập đàn bà rảo bước tập thể-dục khi bên trên những đám mây hồng như được vẽ bằng mực và nước cho da trời thêm mịn. Hoàng hôn, bao nhiêu người đi dạo trên hai chiều, hít ngửi mùi rau xanh trong không khí, nhìn nước lặng lẽ tưới cây, nghe chuông Chùa.. Ai đó trồng mấy cây bắp trên nỗng đất hẹp. Dọc theo mương nước dài, hoa loa-kèn nín thổi và hoa cúc ngu-dại nở vàng khè trông xấu òm. Gần đó, nấm độc mọc lai rai.
Hai tuần sau, Minh sang nhà Trân dẫn Hảo đi chợ Sàigon sắm đồ. Khi sắp sửa bước tới quầy bán thiệp hoa, Minh dặn:
“ Chị đứng ở xa xa, không nên để cô bán hàng trông thấy , nó mà biết chị là Viêṭ- kiều là nó vắt chị teo luôn.”
Hàng hoá Sàigon bây giờ bán theo ba giá, phục vụ ba loại khách hàng: ngoại-kiều mua hàng với gíá nào không biết; Việt kiêù: giá leo; Việt nội: giá nổi giá chìm.
Về Việtnam, Hảo nhớ mua thiệp hoa. Hoa tươi và cỏ non phơi khô dán vào giấy cứng, làm thành những tấm thiệp hoa để khách mua gửỉ cho nhau những lời chúc mừng vào các dịp lễ tết. Hoa dại cánh rất nhỏ, nhưng màu sắc thắm đậm hơn hoa trồng trong vườn. Làm thiệp hoa là một công việc đòi hỏi đôi tay khéo và kiên nhẫn. Đầu tiên, nhổ cây hoa dại hoặc cắt một cành hoa trồng trong vườn rồi dốc ngược lên, đem phơi nắng trên giây phơi quần áo; tiếp theo, mua giấy cứng, cắt giấy ra rồi đem tới nhà máy ép, trả tiền nhờ thợ ấn xuống giấy một cái khung. Sau đó, phải khuấy bột nếp tinh chất để dùng làm keo và mua phẩm màu để nhuộm hoa. Sau đây, dí mũi keó nhọn cắt hoa ra, rồi cong lưng ngồi dán từng cánh hoa vụn và mỏng như chữ trinh của nàng Kiều vào tấm bià cứng màu trắng.. và cuối cùng.. đưa tay chụi mắt vì làm cái nghề này cũng đau mắt như làm nghề xâu cườm.. Hảo cần mua biếu mấy bà Mỹ để qủang cáo một nghề bằng tay, một nghệ thuật mới của quê hương. Chỉ có một bà trong nhà thờ trả Hảo hơn 7 đô la một tấm thiệp.
Mua thiệp hoa xong, cô em đưa Hảo đi mua băng nhạc sang lậu, bày bán công khai ở thương xá Sàigon.
Hảo hỏi :
“ Làm chuyện bất hợp pháp có bị cảnh sát bắt không?”
“ Cả nước bây giờ lậu hết, không ai mua băng gốc hết..cho đến các tu-sĩ, dù tu theo đạo nào, cũng mua băng lậu.”
“ Nói bậy, tu-sĩ ai lại nghe nhạc tình và mua đồ lậu.”
Ba bốn cô cậu bán hàng đem ra chào khách mấy trăm cuộn băng. Minh bảo:
“ Còn hết ? Đưa thêm ra đây.”
Hảo ngăn bọn trẻ lại:
“ Thôi..dì cám ơn các con, dì chỉ mua chừng mười cái điã thôi.”
Minh cười:
“ Việt kìêu này táo bón kinh niên không uống thuốc nhuận trường. Tuị bạn em ở Mỹ về, đứa nào cũng mua ít nhất là 300 băng nhạc sang lậu. Mỗi cái giá chỉ một đô-la.”
Hảo chợt nhìn lui sau lưng. Một người đàn ông trẻ đang ngồi trước cái máy sang băng ở phòng nhỏ đối diện, vui cười chào Hảo. Theo lời cảnh cáo trên các băng nhạc thì FBI với CIA và cảnh sát Sàigon đã điều tra và theo dõi việc sang băng bất hợp pháp này, nhưng tại sao chàng chuyên viên kia vẫn công khai ngồi hành nghề trước cái máy đang quay.? Một băng lậu mua ở Sàigon giá chỉ một đô la trong khi một băng không lậu lại bán với một giá quá đắt để lấy lại số tiền vốn bỏ ra làm băng..Vậy, làm sao chống lại sự cám dỗ của băng lậu và làm sao bài trừ được nó như bài trừ bệnh lậu tức là bệnh hoa-liễu ? Băng lậu, tạm gọi là băng hoa-liễu, hấp dẫn quá trời..
Đời Vịêt-kiều êm vui như một bản tango khi Viêṭ-kiêù ngồi coi băng hoa-liễu ngắm xem ca sĩ thể hiện nghệ thuật qua tiếng hát và qua bước nhảy. Hảo không đủ sức hiểu âm nhạc Âu-Mỹ mà chỉ đủ gôut để nghe nhạc chậm tiến Vietnam.
Nhạc mới bây giờ nóng, ngấm qua da thịt, gầm lên giữa hai đùi. Các nữ ca-sĩ nóng, thân hình thanh thon, nhất là ngực và nách. Ngày xưa, các nữ ca sĩ cũ khi bước ra sân khấu trình diễn, hầu hết đều dấu kín nách và rốn trong áo dài không cho khán giả thấy. Bây giờ, ca sĩ cần phải phô bày hai cái nách đẹp ra, họ không để nách lông lá um sùm như một cầu thủ bóng rỗ.
Hảo bảo nhỏ cô em:
“ Ở Mỹ, chị chỉ coi tivi khi ăn cơm tối; mỗi tháng, chị chỉ gửi cho bạn bè vài cái e-mail, chỉ gọi mươi cú điện thoại, rưá mà chị phải trả 120 đô-la..Chị sống phung phí như rưá đó, nhưng không thể̉ tiết kiệm lại được. Bởi đó, chị cảm thấy không cần thiết phải mua băng lậu. Hơn nữa, đôi khi chị ngồi coi hài, do hai hề Văn Chung và Tùng Lâm trình diễu, chị cảm thấy thương họ và thương mình, nếu chị mua băng lậu, chắc sẽ làm hai ông bạn đó buồn. ”
Nhưng cuối cùng, cô em cũng một tay xách 15 điã băng lậu, tay kia đưa ra cầm cùi chõ Hảo kéo băng qua đèn xanh đèn đỏ vào chợ Bến Thành mua cà-phê.
Đoá hoa cà-phê trắng và thơm. Những hạt cà-phê rời cất giữ nhiều ý và tình. Ly cà-phê ấm ở cổ và ấm trong cõi lòng. Nhà buôn in lời qủang cáo trên hộp giấy: Từ những hạt cà-phê chọn lọc của vùng đất Buôn Ma Thuộc, trộn chung với cà-phê giống vùng Trung nguyên, hoà tan trong cà-phê tươi của tổ hợp sản xuất giây chuyền thiết bị, ly cà-phê Vietnam giờ đây nổi tiếng tận phiá bên kia biển.
Sau đó, hai chị em vào sâu trong chợ Sàigon mua hạt sen.
Theo truyền thuyết, Sàigon xưa là rừng cây bông-gòn, Sàig̣n là chữ do người Miên đặt ra, Sàigoǹ là Thày ngòn, Xì coón, Chài Quành do từ cửa miệng người Hoa. Một vùng đất mỡ beó với một dòng sông sủi bọt đầy cá sấu, với hồ bèo và những ao rau muống bên dưới những dãy nhà lấn-chiếm kênh Nhiêu-Lộc, Thị-Nghè.
Năm 1868, người Pháp đặt viên gạch danh-dự xây cất dinh Norodoṃ, cơ quan đầu não hành-chính nòng cốt của Pháp tại Đông Dương. Năm 1881, bàn tay Bảo-hộ tiếp tục một công-trình an ninh đô thị: bót cảnh sát Catinat. Sau đó, đức tin và cơ đồ văn hóa của ông Tây thuộc-điạ dựng nên nhà thờ Chính-Quốc, tức là nhà thờ Đức-bà, bởi ông Tây muốn đạo Thiên Chuá là công-giáo ở ViêtNam. Hảo đọc một hai cuốn sách nhưng chưa gặp được tài liệu nào nói người Pháp có xây Chùa ở Vietnam. (Hảo nói điều này một cách dè-dặt, vì nếu nói tầm bậy, sợ lòi cái dốt của mình ra). Năm 1911, người Pháp cắt băng khánh thành Chợ Bến-Thành và chợ Cũ. Sở Thú và viện Bảo-Tàng ra đời năm 1928. Ngoài ra, người Pháp còn đặt ra chữ quốc-ngữ.
Việtnam đã chịu một ơn sâu xây cất, và cũng nhờ người Pháp, từ những năm 30 của thế kỷ 20, Sàigon mới có tên là Hòn ngọc Viễn Đông, một danh xưng hoàn toàn đúng với sự thật. Ngày người Pháp cuốn gói về Tây, chắc họ gạt nước mắt và ôm mối hận ngàn thu.. Hòn Ngọc Viễn đông xưa nay vẫn là một thương trường quốc tế sầm uất, một phiên chợ vĩ đại, một thành phố du lịch mời gọi, nhưng cũng là một đám đông khó giải tán. Sàigon xô bồ, hiếu động, một nơi chỗ mà đàn ông nổi tiếng ăn nhậu, đâm chém. Huyền thoại còn kể lạí chuyện một đêm xưa có một tiểu-thư Hà-thành bước vào một tiệm ăn Nam-kỳ, vô ý đánh rớt năm xu, người đẹp khom lưng cúi xuống mò nhặt. Một công tử Bạc-liêu thấy vậy, bèn đốt một tờ giấy bạc năm trăm soi tìm năm xu cho cô gái.
Sàigon tương đốị giàu-có giữa ba miền đất nước còn nghèo túng.. và đàn ông Nam đánh cái quần xà-lỏn, mở toẹt cái radio hết cỡ, ba gai chửi thề văng tục.
Khi nói đến gańh hàng rong là nói đến hình ảnh người đàn bà, ca ngợi sức làm việc của phụ nữ.
Trên phương diện khác, Sàigon không viễn mơ, không mấy ưa văn chương thi phú, nhưng sành điệu sáu câu và thích sửa đôi lơì ca các bài tân nhạc:
Dzú em bằng cao su
Bóp dzô thì thấy mềm
Hoặc:
Người yêu anh bé bự
̣Đá anh lăn một vòng.
Hảo hỏi cô em:
“ Em có ý niệm gì về Sàigòn sau thống nhất?”
“ Sàigon bây giờ tàn nhẫn hơn xưa, ań mạng nhiều hơn xưa.. nhưng bao giờ cũng như bao giờ: Ly cà-phê Sàigon mỗi ngày một thắm thiết hơn.”
Sàigon nay là viên ngọc trai được mài duã, được đổi mới mau lẹ để tăng thêm vẻ đẹp bên ngoài, để quyến rũ du khách.
Một khuôn mặt khác của đô thị Hồ Chí Minh, là Sàigon quậy. Suốt ngày, tiếng người, tiếng máy nổ, tiếng còi xe hai bánh vừa rượt vừa rú xua đuổi bầy chim rời mái ngói những ngôi tân-tự và những ngôi thánh-đường bay vút lên trời cao. Nhưng giữa cái náo động dữ dội của thủ đô với những khuôn mặt ăn chơi điếm đàng, Sàigon ngày nay tiến xa hơn Sàigon trước năm 1975 một điểm đạo đức: đàn ông đi bán hàng rong rất nhiều, đàn ông tảo tần kiếm ăn đỡ bớt gánh nợ áo cơm cho vợ. Nhiều hay ít đàn ông Huế đã vì vợ mà đưa lưng đỡ bớt gian khổ, xông xáo ra đường làm chuyện đó? Có bao nhiêu đàn ông ở các đô thị khác đã lao ra đường bán hàng rao quá nhiều như đàn ông thủ đô Hồ Chí Minh? Phan Bội Châu, Trần Tế Xương.. là những người đàn ông không hề chẻ cho vợ được bó củi, xách cho vợ được thùng nước. Hình ảnh luân lý của người đàn ông Nam kỳ với công việc bán hàng rong là một nguồn vui ngọt, một niềm tin mát lành sống lại sau cuộc chiến, nhắm vào tương lai một Viêtnam bừng sáng. Tiếng rao hàng rong trong ngõ hẹp là một làn hơi vọng cổ bình dị, là những nét vẽ vui mắt của tổ ấm gia đình, là những thắng cảnh sống động của nhịp đời hằng ngày: Thịt anh như múi sầu riêng. Má anh như trái xoài tượng. Môi anh như trái mãn cầu. Anh cho em chữ tình từ đáy bụng ngọt .
Cô em hỏi:
“ Ở bên nước Mỹ có nhiều gánh hàng rong không chị? ”
Tôi vụt nghĩ rằng tôi được ở bên kia trời, một cường quốc giàu hàng đầu của thế giới thứ nhất, còn em tôi ở một nhược tiểu quốc thuộc thế giới thứ ba, hàng rong bán đầy.
Bỗng điện thoại reo giật, cô em đưa cho Hảo nghe:
“ Ông Khanh gọi chị.”
Hảo áp máy vào tai nghe lại giọng nói cũ:
“ Tối nay mình đón Hảo đi chơi, rồi về nhà mình nói chuyện.”
Ngày xưa Huế, Khanh dẫn Hảo đi chơi các lăng, đi câu. Khanh và Hảo ngồi đò ngắm cảnh sông Hương chảy ngang trước Chùa Linh-Mụ. Khanh dẫn Hảo vô tiệm vàng mua một cái đồng hồ đeo tay. Ông chủ tiệm đưa ra một hộp giấy đựng mấy đôi vòng, xuyến, nhẫn, và đồng hồ, Hảo cứ cầm lên rồi bỏ xuống , ông chủ bảo:
“ Chủ tiệm vàng là người giàu..nhưng chuyện làm ăn bắt buộc họ phải bình dân tiếp đãi khách hàng, xin hai vị đừng làm eo chê bai chọn vọc mà chạm tự ái tôi, tôi vui lòng bán cái đồng hồ mạ vàng tây này cho hai vị với giá rẻ.”
Ngày xưa ấy, Khanh dạy lớp luyện thi tú tài phần một trường Bán công. Người ta đồn rằng mỗi lần có nữ sinh đến nhà thăm chàng và chào:
“ Thưa thầy.”
Khanh trả lời:
“ ừ.. Bích Hằng đó hả? Nằm chơi.”
Mỗi lần nam sinh đến nhà thăm và chào:
“ Thưa thầy.”
Khanh trả lời:
“ ừ.à .Tuấn đó hả? Ngồi chơi.”
Ngày xưa Huế và bốn làng phụ cận Cuồi, Nong , Siạ, Truồi, Khanh mang tiếng là một Don Juan của tỉnh nhỏ. Ở Huế, ai cũng mang tiếng hết. Đại uý Phan Đình Hồng bị mang tiếng là trùm mật vụ phòng nhì, chuyên tra trấn nữ tù binh bằng bàn ùi điện cháy sém ngực. Cố vấn Ngô Đình Cẩn bị mang tiếng tư thông với bà qủan gia têm trầu vấn thuốc cho ông. Hoa khôi trường Đồng Khánh, Như Quỳnh, học trên Hảo hai lớp, đẹp đến nỗi cá tràu trên sông Hương lặn hết và chim cu-cu bay qua cột đèn điện cũng sa xuống đất, bị đồn rằng đã mọc râu và biến thành đàn ông và sẽ bị gọi nhập ngũ khoá 15 trường bộ binh Thư-Đức.
Các gia đình Huế cổ kính, tránh tai tiếng, không cho con gái học nghề y tá. Lý do: mỗi tuần phải trực đêm tại nhà thương một lần, mỗi tháng phải ngủ xa nhà bốn đêm. Con gái con gung.. đêm hôm thanh vắng.. y-sĩ y-tá sờ mó bóp nắn rờ rị nhau rồi.. tuột quần ra.. cha mẹ đâu có vào được trong nhà thương mà ngó chừng. Cô Tố Trinh làm xướng ngôn viên đài phát thanh, đi chơi lăng Tự Đức với Quái kiệt Trần Văn Trạch. Cả xứ Huế cười ngất bảo đó là cô gái điện giựt, là cô gái bựa, bộ trai Huế xỉn rượu uống thuốc xịt rầy xìu hết cả rồi hay sao mà lại cập kè với quái kiệt cây cười.. Hắn khôi hài, rồi hắn chọt, hắn cù-lét vào nách vào bụng mình nhột thấy bà..
Những ngày xưa ấy, Hảo không thù Cộng sản bằng thù những người đẹp đất thần-kinh. Được làm một người đẹp ở đâu cũng không sướng bằng nơi danh lam núi Ngự, thắng cảnh sông Hương. Họ nắm hết hồn viá bọn trai Huế. Một gia đình tại đường Hàng Cau đẻ ra bốn đoá hoa khôi; 4 cô gái này, nếu lấy chồng võ nghiệp thì tên đàn ông đó phải từ cấp tướng trở lên tới bộ trưởng quốc phòng, nếu lấy chồng văn nghiệp thì kẻ sĩ ấy phải là bác sĩ với mảnh bằng đậu tại Pháp.. Bên trong Nội-thành, con số người đẹp hình như ít hơn nhưng huyền thoại về họ thì không ít: Cô Loan gốc Siạ, cô Thanh ở Nong, Cô Hương Lò Rèn.. kỹ sư canh nông chưa chắc dám đụng tới móng chân họ. Sau đó, sắp hàng sau những cô đẹp là những cô giàu và những cô giỏi, tức là nhũng cô học gạo đi thi hai cái bằng tú tài đều đậu hạng bình thứ: đàn ông ít nhất cũng phải là dược sĩ mới đủ điểm để chui đầu vào làm rễ nhà họ. . Những ngày xưa ấy, Hảo ẩn-ức ôm mối hận gái già nghiêm trang đi dạy học tại trường Hàm Nghi và ăn ở ̉hiếu thảo với cha mẹ cho đến khi đời Hảo khô queo tất cả tĩnh mạch và động mạch không ma nào làm ơn đến rước.
Rồi Hảo vào Sàigon, bỏ Khanh ở lại Huế lấy vợ.
Hảo trả lời Khanh:
“Ngày mai Hảo với cô Trân phải đi Phan Thiết thăm bà chị, khi về sẽ gọi điện cho Khanh.”
Nhưng mai lại, chuyến đi Phan Thiết phải hoãn ngày vì Hảo bị nhiễm trùng. ̣ Uống ưc̣ tám cốc nước lọc không lành, đến khi cơn đau bùng nổ, tưởng như bị rạch ruột ra cắt bỏ khối u, tưởng như chửa hoang đã đến ngày đẻ, Hảo mới bảo em gái dẫn đi ra tiệm thuốc tây khai bệnh với cô bán hàng. Người đẹp bán cho Hảo 5 thứ thuốc, ngũ sắc thuốc, và chỉ dẫn cách dùng: Mỗi ngày uống ba viên màu trắng trụ sinh, hai viên kháng-sinh màu vàng, ba viên kháng-viêm màu xanh, bốn viên kháng-độc màu đỏ, hai viên kháng-trùng màu tím.. Hai chị em không ghi lời dặn dò vào giấy, Hảo về nhà uống lộn thuốc. Thuốc ngũ sắc làm tui nhớ tới bộ bài tứ-sắc.. nhưng mai lại bệnh bớt, tui mua thêm mấy chục viên trụ sinh để đem về Mỹ xài.
**********
Sàigon nóng nảy, to tiếng, nhưng những tỉnh nằm ngoài vòng đai thủ đô thì mát gió. Trâu bò ăn uống trên đồng cỏ xanh ngược nắng. Ra khỏi thị trấn Biên Hoà, một lúc sau xe đò lao vào biên giới miền Trung, rồi xe đò đi song song với dãy Trường sơn một chặng đường. Núi Trường-sơn dài hơn quê hương miền Trung, phủ lên đầu hàng hàng giải mây màu vàng lát gừng, màu xanh lá vông-vang hoặc màu xám khói nhang đèn. Các mái tranh của sắc dân thiểu sắp hàng bên nhau dưới núi. Hai bên đường, khắp mặt đất hình như trồng toàn cây thanh-long. Mỗi cây thanh long đứng riêng lẽ trong tư thế thiền định, hút dưỡng khí vào, thở thán khí ra. Mỗi cây thanh long là hình ảnh một thiền sư khổ hạnh sống trong thinh lặng, tránh xa bụi trần. Đó là loại cây ngắn và gầy, không có cổ̉ nhưng có cái đầu lâu to và nặng trịch, tức là cái đọt khá bư,̣ rậm rịt lá làm thành cái lùm. Cây thanh long có dáng dấp hơi giống con lạc-đà nhẫn nhục băng qua sa mạc Phi-châu. Mỗi chiếc lá dài hơn một thước tây, không to bản nhưng dày, có ba góc, gai mọc đầy vì thuộc dòng họ cây xương rồng. Lá thanh long uốn cong trông như những giăi thắt lưng cứng có thể dùng làm roi quất vào mông tù binh nhưng vẫn cố ưỡn ẹo mình gai làm dáng. Từng chiếc lá làm tình và thụ trái ngay trên gai nhọn. Một cây thanh long rậm rịt có thể đẻ ra cả trăm trái tươi thắm . Không có thứ trái cây nào trên qủa đất ăn vào mát rượi như trái thanh long Phan-thiết. Không có một màu sắc nào trong thiên nhiên thắm thiết như da thịt gợi tình của trái thanh long. Có sao, tổng-thống Bush mới ký giấy cho phép các nhà sản xuất trái cây ở Mỹ nhập cảng trái thanh long vào Hoa Kỳ. Trái sầu-riêng - cái tên sầu-riêng nghe điêu đứng cuộc đời - từ lâu đứng hàng đầu trên danh sách trái cây ngọt lành, nhưng bị cái vỏ cứng nặng với lớp gai nhọn bên ngoài, nên bị trái thanh long thừa thắng xông lên tại Phan-thiết.. Có lẽ Tổng-thống Mỹ cũng cảm thấy trái sầu-riêng ăn nóng nổi mụn. .
Trên suốt chặng đường vào Muĩ Né, Hảo chờ đợi ngửi mùi nưó́c mắm nhĩ Cá vàng, và cố tìm cho ra những đống xương cá mòi khi nhớ đến câu tục ngữ điạ phương ‘Văn chương không bằng xương cá mòi’.. Không biết đàn ông trên bãi biển Phan Thiết có đẹp trai như chàng Vọi đánh cá trên mặt biển Sầm-sơn ngày nào trong truyện Trống mái của Khái-Hưng? Mũi Né, hàng cây đứng cao ngạo, đồi núi nằm duỗi dài, dã tràng xe cát và tắc-kè đẻ trứng, sáng rực trên mặt đất vàng, có lúc thay hình đổi dạng trước áp lực gió biển thổi đưa, dưới bầu trời nhàn hạ thả trôi những cuộn mây xốp không tên len lén vào mắt rồi vào hồn. Mũi Né, con cá chim không cánh, nhưng con cá chuồn có vây dài nên biết bay lên khỏi mặt nước.
Đến nhà bà chị kịp bữa cơm chiều, anh chị cho ăn cá nục kho nước với bún và vài món đặc sản miền duyên hải. Cháu gái Minh Châu cắt trái thanh long ra tám miếng mời hai dì. Võ trái thanh long hồng đậm như màu sắc của một loại son thoa môi; ruột nó màu trắng tuyết; hạt màu đen nhỏ hơn hạt mè nhai tan trong miệng, vị nó không ngọt lắm để được coi như là một thứ trái cây mọng nước ướt đẫm chất giaỉ-khát mát rượi. Rồi đây, nhờ phúc đức của Mũi Né, thanh long hoài vọng sẽ đứng ngang hàng vói trái nho và trái bom trên thương trường quốc tế. Con gái Phan-Thiết rồi đây chắc sẽ yêu màu áo thanh long hoang sơ ngày nào..
Bà chị khoe:
“ Nhiều người đã ký hợp đồng cung cấp trái thanh long cho nhà buôn, nhà buôn ký hợp đồng với Sàigon, Sàigon ký hợp đồng với Mỹ, Mỹ đặt mua một số ít thanh long Phan Thiết đem sang Hoa Kỳ.. nhưng hàng bị trả về vì trái hơi nhỏ..Lần sau hy vọng tráí sẽ bự hơn.”
Hảo hỏi :
“ Có chắc là chính phủ Mỹ ký hợp đồng cho nhập cảng trái thanh long vào Hoa Kỳ không.?”
Ông anh rể gật đầu:
“ Chắc. Đó là một cái gì người dân Phan Thiết đã làm cho quê hương mình.”
Các nhà buôn ở Mỹ đòi hỏi trái thanh long phải nặng một ký, các thương gia Á-đông bắt buộc trái xoài tượng phải cân hơn một ký và trái sâù-riêng phải từ hai ký trở lên nên dân ba tỉ̉n̉h Lái-thiêu, Bà-riạ và Phan-thiết càng hăng say vọc tay vào đất quyết cải tiến tiến vườn cây ăn qủa của mình.. Riêng cây thanh long đòi hỏi ban đêm phải treo đèn quanh nó, ủ ấm nó như cây giáng sinh thì nó mới ngủ yên để lấy sức sinh đẻ.
Phan-Thiết xưa nước mặn đất đắng, luống cày lê trên cát hột và đá cục, nhiều kẻ bỏ nhà ra đi vì cuộc chiến; nhưng bây giờ, Phan-thiết thay da đổi thịt, vùng lên với những công trình kiến trúc mới trên các đường phố lớn và với vườn ruộng, ghe thuyền đánh cá ướp muối làm nước mắm nhĩ, với sức lao động trồng cây ăn qủa, đem ra ngoại quốc trái thanh long ngọt lành. Tuy nhiên Phan Thiết vẫn còn túng, thiếu nhà thương lớn, thiếu thuốc tây, con cá mòi bụng lép nhiều xương, món hàng rong đi đâu cũng nghe rao là hạt lạc luộc.
Ông anh rể hỏi:
“ Dì Hảo, nghe nói Việt-kiều ở Cali trồng được cây thanh long phải không?.”
Hảo không biết, ông anh rể nói tiếp:
“ Ở đây ai cũng lo.. Nếu ở Mỹ trồng thanh long thì chúng tôi có mất mối không? Hay là Việt-kiều Cali cố ý chơi hơn dân Phan-thiết?..”
Hảo trả lời ngay:
“ Không lo.. Phan Thiết là nguyên rỗ trái cây, là khế ngọt, là nỗng cát ấm, là trái thanh long tươi mọng, Mũi-Né không né một khó khăn nào hết, Phan Thiết phất, như Nha-trang và Tam-kỳ đã phất.”
Hảo ba hoa tiếp:
“ Khi trở lại Sàigon, em sẽ hỏi giaó-sư Nguyễn Đức Bình hiện giảng dạy tại đại học Nông-lâm-súc Sàigon về cái tin các nhà buôn Viêtnam sẽ bán qủang cáo trái thanh long trên internet như người ta đã bán trái acai berry trên internet vậy.”
Buổi chiều tươi non, nắng thắm, mây hồng như môi. Vạt cải xanh cháu gái Minh Phú vừa tưới còn ướt như nước mắt chưa khô. Rau cải cay lá mỏng mịn như luạ, đùa dai với gió. Rau Phan-thiết hiền hoà như rau mọc sau lưng Chùa Bảo-quốc Huế nơi Thầy Thích-Mãn-Giác tu học ngày nào, Thầy nhổ rau tươi và hái chùm khế.. Quê hương là Huế, là Qủang Trị, Phan-thiết.. Thi-sĩ là Huyền Không, là Đỗ Trung Quân và nhiều người nữa..
Quê hương là gì hở mẹ?
Mà cô giáo dạy phải yêu.
Quê hương là gì hở Mẹ?
Ai đi xa cũng nhớ nhiều.
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày.
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng...
(Đỗ Trung Quân)
Chiếc Honda C50 chỉ mất chừng một tiếng đồng hồ từ nhà trọ phóng tới băi biển Phan Thiết. Ở Tam Kỳ, từ khaćh sạn ra biển, Honda đi hơn bốn tiếng. Ngày xưa, nhà thơ Tế Hanh dong thuyền ra khơi phải mất nửa ngày.
Mấy ông ngồi dưới cây dù rộng nhậu bia và nhai sò huyết vắt giọt chanh. Cô Trân cùng Hảo đi vào quán ăn món mực luộc cuốn bánh tráng. Hảo kêu thêm một tô mì Qủang. Món mì Qủang này nấu theo công thức Mũi Né nên khác với món mì Qủang chính hiệu phát xuất từ gốc Qủang Nam tuy cũng xếp đủ mọi thứ như là thịt nuột thăn, tôm tươi nguyên con, vịt tơ, mực luộc, hành ngò húng và giá chần nước sôi vào bát rồi tưới nước lèo vô. Hảo nốc một chai nước suối Vĩnh-Hảo mát lành có độ ấm 30 độ C.
Xa khơi, thuyền câu mực nổi rõ trên mặt sóng màu lưu-huỳnh. Ánh sáng rọi rộng trên nước mặn, nắng trùng dương soi xuống chóp Trường-sơn. Ngồi trên bãi biển vui với cái cảm giác một mình, ngó trẻ con nô giỡn và trai gái vọc nước, Hảo nhớ lại câu nói của một ngư dân làng An-Bường gần cửa biển Thuận-An: “ Vì đại dương bao la, vì thuyền đánh cá chật chội, vì cá chuồn bay vào ghe đông quá, nên tội lỗi loạn luân xẩy ra”. Người đi biển mê tín rằng nếu ra khơi làm nghề mà bị một đại đội cá chuồn bay vào khạp thuyền, và ngoài ra không đánh thêm được một giống cá nào khác cho bớt xui, thì phải quay thuyền về nhà ngay lập tức, vì đó là điềm báo trước tội loạn luân.
Biển thở ra hơi nước và hơi muối vào hai mắt, len vào tóc, thổi vào tai để nhập vào hồn theo một dòng cảm nghĩ len lén. Biển nặng gió, bẩu trời chất đầy mây ưu tư.. Thủy triều rút xuống, bờ biển quen hơi như một nơi chỗ cũ mình đã ra ngồi đó nhiều buổi chiều. Cát biển nướng khô dưới ánh mặt trời, rau câu mọc quấn vào nhau.
**********
“ Chị không thể ở lâu thêm một thời gian nữa sao?”
“ Giấy tờ đã hết hạn, chị phải về lại Mỹ làm đơn lại để xin lãnh trợ cấp. Vì bản năng sinh tồn, vì cái dạ dày, chị để lại ở Mỹ.”
Cuối đông năm hai nghìn lẻ tám.
Tuý-Hồng
http://www.gio-o.com/TuyHong.html
© gio-o.com 2009