Võ Đình

Nước Mắt Nước Đái

truyện ngắn

Nhân không được coi như một người "tình cảm".  Chữ "tình cảm" này đã thường bị lạm dụng quá nhiều rồi, chỉ cần nói rằng anh là một người tình cảm, nhưng không sướt mướt.  Chẳng hạn, trong rạp xi-nê, nhiều người chung quanh anh sụt sùi, rút mù-soa chặm mắt thì anh ráo hoảnh, tỉnh như không.  Lắm khi đọc truyện, đến đoạn thương tâm, nỗi éo le của hoàn cảnh, của nhân vật cũng không làm cho Nhân đau lòng xót dạ.  Anh thường nói, tình cảm, như  ống thuốc đánh răng.  Muốn ra chừng nào, bọp ống thuốc chừng ấy.  Hoàn toàn chủ động.  Mạnh, nhẹ, tuỳ tay mình.  Anh cư xử với bạn bè, người quen kẻ biết cũng thế: người, anh cho xích lại gần, người, anh chận đứng lại xa xa.

Trong đời sống hàng ngày, với ngay bản thân, anh cũng không dễ dãi hơn.  Anh hay nhắc câu nói cha anh thường sử dụng lúc sinh thời để la rầy con cái khi chúng thiếu ngăn nắp và sạch sẽ.  Đó là hai câu ngạn ngữ Pháp (cha Nhân thuộc thế hệ khi nước ta còn bị “Tây” “bảo hộ”:  Mỗi vật ở một nơi – Mỗi nơi có một vật*  và  Sạch sẽ là mẹ của thánh thiện**

 

Tính Nhân dứt khoát.  Anh không ưa cái gì lằng nhằng, rời rạc, lôi thôi.  Có hồi anh yêu chị Hoa.  Chị đẹp, ai cũng tấm tắc.  Anh say mê chị, anh đắm mình trong tình yêu chị.  Cuộc tình gây nhiều sóng gió trong cộng đồng.  Rồi sau mấy năm yêu nhau điên cuồng, có chuyện trục trặc giữa hai người.  Những trục trặc thường tình: nơi ăn chốn ở, công việc làm,v.v…  Trục trặc mãi, không giải quyết được.  Rồi một hôm, chị nói một câu làm cuộc tình ai cũng nghĩ là lý tưởng (trai tài gái sắc!) tan vỡ.  Sau này, nghĩ lại, anh thấy rằng đó không phải là ngôn ngữ của Hoa mà là lời xúi dục của người khác, có thể là anh em trong gia đình bên chị.  Câu nói định mệnh ấy là:  “thôi, thì cho nhau tự do vậy.” Nghe chị nói câu đó, anh đứng phắt dậy, tái tê, ghé má chị hôn nhẹ một cái, rồi túi xách trên vai, bước ra khỏi chung cư.  Nhân lái xe về nhà, ở miền quê, lòng dạ ngổn ngang.  Vừa lái xe, anh vừa lẩm nhẩm mấy câu thơ.  Không ngờ trong một lúc như thế mà anh lại nhớ đến những câu thơ thuộc lòng hồi mười mấy tuổi:

Hoa nở để mà tàn
Trăng tròn để mà khuyết
Bèo hợp để chia tan
Người gần để ly biệt
Hoa thu không nắng cũng phai màu
Trên mặt người kia in nét đau***

Từ đó, anh không gặp chị Hoa nữa.  Chị điện thoại cho anh mấy lần, anh bực bội gác máy.  Một lần, anh bảo chị rằng nói câu “cho nhau tự do” là cầm chén nước đổ xuống đất, không vớt lại được.  Về sau, nhiều người, thân quen cả hai Nhân và Hoa, nói anh sắt đá quá:  chị vẫn yêu anh, chị đau khổ vô cùng, anh làm lơ, không muốn nghe chuyện cũ.  Nhưng trên mặt anh, rõ ràng có “in nét đau”.
Có thể nói tình yêu (nỗi mê say, đúng hơn) cho chị Hoa là biến cố tình cảm của đời Nhân, cho đến ngày xảy ra chuyện anh về thăm làng cũ, một mình.  Kể lại cho tôi nghe, anh cười rộn rã.  Cái cười vừa tự chế nhạo, vừa bẽn lẽn.

Cuối năm 19…, Nhân về Việt nam.  Lần đầu tiên.  Anh qua được những nôn nao, bồn chồn, xao xuyến khi rời đất định cư, khi đang trên đường bay, khi đến không phận Việt nam, khi thoát khỏi hải quan Tân sơn nhứt.  Ngày sau đó, anh bay ra miền Trung, quê anh, về nhà cũ.  Nhân tìm lại được cha mẹ già, bụi chanh, cây  khế… Rồi, mồng hai Tết, anh đạp xe về làng nội, ở ngoại ô, cách thành phố chỉ vài cây số.

Muốn đến làng Nhân, phải vượt một con hói.  Hói là con sông đào nhỏ ở miền Trung, chắc trong Nam người ta gọi là con lạch.  Bến đò thấp hơn mặt đường, Nhân phải nhấc bổng xe đạp lên, rồi từ từ từng bước một xuống bến.  Mấy lần anh suýt té nhào.  Nhân nhìn mấy người dân quê đi chân đất, bấm ngón chân vào bùn lầy, đi xuống một cách dễ dàng, và cảm thấy chính mình thật là “quê” vì chân mang giày da!  Nhân ngồi với đám đông, quần áo anh trắng  quá, mát mẻ quá giữa đám nâu, đen tối tăm của người dân quê mùa.

Bến đò bên kia hói, cũng giống như bến đò bên này.  Cũng dốc, cũng trơn trợt, cũng khó đi.  Nhất là với chiếc xe đạp mượn mà Nhân vác trên vai.  Từ bến đò về nhà thờ họ anh, đường làng quanh co, đầy lá tre và phân trâu.  Nhân gặp lại bà cô già, người cháu họ.  Từ một người đàn bà không chồng, tự do, phóng túng, quyền biến (cha anh từng nói, “o tụi bây là một người đàn bà quân tử!”)cô anh đã trở thành một bà già ho hen lụm khụm.  Con bé hai mắt tròn vo, nhí nhảnh, vui tươi ngày xưa đã trở thành một người đàn bà trung niên, mặt mũi chai sạm, âu lo, nói gì, nghe gì cũng khóc.  Nhân thấy tâm hồn mình giao động, tình cảm lung lay như chưa từng.

 

Nhân ăn cơm trưa với bà cô già và con cháu họ.  Cơm gạo lứt, cá rô kho, dưa cải muối trường, canh nhiều thứ rau, canh “tập tàng”…  Cũng những thức ăn ấy, mấy chục năm về trước, anh đã nhận ra rằng, ở “thành phố” có hương vị khác, ở “làng” có hương vị khác.  Vậy mà hai nơi chỉ cách nhau có vài cây số . Trong bữa cơm, toàn là chuyện nắng mưa, chuyện nhà cửa đất đai, chuyện trong họ, chuyện chòm xóm.  Cơm xong, Nhân mắc đái.  Anh không hỏi phòng tắm ở đâu, chỉ lững thững ra sau nhà.

Ngay sát mái hiên, bắt đầu khu vườn cau.  Nhân nghĩ bụng, ở đây chẳng có ai dòm ngó.  Tiện chân, anh đi tận cuối vườn.  Bên kia hàng rào chè tàu, thấp thoáng một mái tranh; chắc là nhà hàng xóm.  Nhân quay trở lui, thấy một gốc mít lớn, bèn đứng bên nó, mở nút quần, cười thầm trong bụng là trong mấy chục năm anh đã đái vào những cái bồn men trắng tinh!  Bây giờ đây, trong không gian ngát hương cau, nắng lồng lộng trên đọt cao, trong tiếng gió trưa rì rào, anh yên tâm là mình đã về chốn cũ.  Anh đái.  Nước đái Nhân phóng ra thành vòi, xối vào đất, xoi mòn những lỗ hổng lớn, chảy lênh láng.

Bỗng nhiên, từ vườn bên vẳng qua tiếng ru con.  Giọng đàn bà, có lẽ không còn trẻ lắm, chèn bẹt, nhưng đậm âm sắc Thừa thiên:

Ru em, em thét cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam phổ, mua trầu chợ Dinh

Phản ứng của Nhân là ngay lập tức ngưng đái, thu hồi lại, gài nút quần.  Nhưng anh chặc lưỡi: mình đâu ở Pháp, ở Mỹ, mình đang ở quê cũ.  Kệ!  Với lại, một khi nước đái phóng ra mạnh mẽ như vậy, khó ngưng lại lắm.   Từ bên kia hàng rào, vẫn vẳng qua tiếng ru con:

Chợ Dinh bán áo con trai
Triều sơn bán nón, Mậu tài bán kim…

Những câu ru con thông thường, nhưng mấy chục năm qua anh đâu có nghe.   “Cau Nam phổ” thì anh biết.  Nam phổ là một làng dưới miệt Vĩ Dạ.  Nhân nhớ mang máng là hồi bé mẹ có dắt xuống đó thăm “O Thừa”.  Anh chẳng nhớ gì về “O Thừa", và đường đi cả.  Chỉ nhớ, chao ôi, là cau.  Những cây cau thẳng tắp vươn lên trong vườn, trong nắng gió sáng loà…  Nhân nhớ hình như được “O Thừa” và mẹ cho ăn bánh canh.  Bánh canh Nam phổ ngon có tiếng, Nhân biết.  Sau, lớn thêm, ở tuổi mười lăm, mười sáu, anh còn biết cả câu "Con gái Nam phổ, ở lỗ trèo cau" câu nói đùa cợt của dân Thừa thiên.  Hèn chi người ta nói bánh canh Nam phổ ngon đã đành mà cau Nam phổ cũng ngon lắm.  Cau ngon vì có “o con cấy"**** ở lỗ trèo cau” mà hái đó.  Ngoài Nam phổ ra, các nơi khác như chợ Quán, chợ Cầu, chợ Dinh, những địa danh như Triều sơn, Mậu tài hoàn toàn xa lạ đối với Nhân.  Thế nhưng từ đâu sâu thẳm trong lòng, anh nghe lại tiếng ru một thuở xa xôi.  Anh đã từng nghe chúng rồi…  Triều sơn bán nón, Mậu tài bán kim… Nhân bồi hồi, trào trực.  Nỗi xúc động dâng lên, dâng lên, rồi trước khi anh kịp chận đứng lại, oà vỡ.  Nước mắt anh trào ra, đầy mặt!

Trong khi đó, nước đái Nhân vẫn chảy rong rỏng.  Trong một thoáng, anh biết là mình kỳ cục:  trên, nước mắt, dưới, nước đái.  Hôm ấy, ở vườn cau sau nhà, Nhân vừa khóc vừa đái.

Một lát sau, Nhân lững thững vô lại nhà,  Anh bước những bước chân hơi xiêu vẹo.  Con cháu họ, liếc thấy anh, mới hỏi:

“Chú ơi, chú, tại răng mắt chú đỏ rứa?”

Nó không ngờ rằng chú nó vừa trải qua một cơn xúc động dữ dội bất ngờ.  Từ hôm ấy trở đi, Nhân hiểu rằng “tình cảm” của mình phức tạp hơn là mình tưởng.  Anh không bao giờ nói tình cảm như ống thuốc đánh răng nữa.

Võ Đình  
2005                                                                                                          

____________________________________________________________                            

Chú thích
            *   ngạn ngữ Pháp:  Chaque chose à sa place; chaque place a une chose

          **    ngạn ngữ Pháp:  La propreté est mère de la sainteté

        ***    Xuân Diệu, “Hoa Nở Để Mà Tàn”,Thơ Thơ , Huy Xuân, Hà nội, 1940

       ****   “o con cấy” = tiếng địa phương Thừa thiên, có nghĩa là “cô con gái”