Trn th LaiHng

 

CÁT THỦY TRIỀU

 

truyện ngắn

 

Một ngọn sóng dâng lên, tôi từ ḷng biển theo con nước cuốn dạt vào bờ.

Tôi trong giải cát dài trắng tinh nằm dọc ven biển miền Trung Việt Nam, có cái tên rất nổi danh là Băi Thủy Triều thuộc vịnh Cam Ranh, nơi sản xuất hàng triệu triệu tấn cát trắng mịn đặc biệt dùng chế tạo thủy tinh, phẩm chất tuyệt hảo.

Chẳng thế mà từ thời nhà Nguyễn dưới quyền cai trị của Pháp, họ từng xúc đoạt hàng triệu tấn chúng tôi mỗi năm chở về mẫu quốc để gây danh tiếng kỹ nghệ chế tạo thủy tinh và pha lê.

 

Lũ chúng tôi là những hạt cát từ ḷng Thái B́nh Dương dồn tấp vào vịnh Cam Ranh nổi tiếng là nơi trú đậu an toàn, tránh gió băo cho các loại tàu bè, một trong số rất ít cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới, đồng thời cũng có vị trí rất quan trọng về mặt quân sự. Nhiều nhà chiến lược phương Tây đă đánh giá Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lư tưởng”, “một đồn pḥng vệ của Thái B́nh Dương.”
V́ vậy, ngay sau khi đánh chiếm Khánh Ḥa (1886), thực dân Pháp đă chiếm đóng Cam Ranh và biến vùng đất này thành một đồn binh, một căn cứ hải quân cho các lực lượng của họ tại Đông Dương.

 

https://www.vietravel.com/UserFiles/Image/Cam%20Ranh%203.jpg

Vịnh Cam Ranh nh́n từ trên cao

Đi đường bộ từ Nha Trang về phía nam, qua khu rừng dừa xanh mát ngút ngàn, đến Cà Ná, rồi bát ngát mênh mông sóng vào huyện Cam Lâm, trải dài mở rộng bao quanh những cồn cát trắng trùng điệp: Vịnh Cam Ranh, một cảng nước sâu lư tưởng, một trong những hải cảng tốt vào bậc nhất thế giới, sau San Francisco (Hoa Kỳ) và Rio de Janeiro (Brazil). Cam Ranh có thể tiếp nhận các loại tàu có tải trọng từ 10 – 20 ngàn tấn ra vào dễ dàng. Thời Tây Sơn, vua Quang Trung đă cho đặt căn cứ thủy quân tại Cam Ranh, giao cho tướng Trần Quang Diệu trấn giữ. Năm 1886, khi đưa quân sang xâm lược nước ta, thực dân Pháp nhận ra tầm quan trọng của Cam Ranh, nên đă nhanh chóng chiếm lấy làm căn cứ hải quân.

 

Lần đầu tiên Cam Ranh trở thành bến đậu của một hải đoàn quân sự vào năm 1905, đầu thế kỷ XX. Đó là các tàu thuộc Hạm đội Baltic Thái B́nh Dương II của Đế chế Nga gồm 45 chiến hạm và nhiều tàu tiếp viện dưới quyền chỉ huy của đề đốc Rozhestvensky, ghé Cam Ranh lấy than, trước trận hải chiến eo biển Tsushima trong cuộc chiến Nga - Nhật.

 

Trong thời gian hạm đội Nga lưu lại Cam Ranh vào tháng 4-1905, ba nhà chí sĩ yêu nước đất Quảng Nam là Phan Châu Trinh, Trần Quư Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, trên đường “Nam du” qua Khánh Ḥa, đă vào vịnh xem tàu chiến. Chứng kiến tận mắt hạm đội khổng lồ của người Nga – một cường quốc Châu Âu thời đó – có thể đă gây những suy tư trong chí hướng cứu nước của các cụ.

Ông Huỳnh Thúc Kháng thuật lại trong hồi kư: "Khi đi ngang qua Nha Trang, chúng tôi đă nghe nói có hải đoàn Nga đang dừng ở Cam Ranh. Chúng tôi quyết định đóng giả thương nhân, mua trứng gà, các loại rau, trái cây, thuê thuyền cá và sẽ leo lên một con tàu. Và chúng tôi đă làm được điều đó!" Ai trong số họ đă khởi xướng chuyến thăm này? Hẳn phải là cụ Phan Châu Trinh.

Với phương châm "không vào hang cọp, sao bắt được cọp" với kỳ vọng một sự cải cách triệt để ở Việt Nam, cụ Phan Châu Trinh luôn nỗ lực làm quen với đời sống của các nước tiên tiến, sang Nhật Bản quan sát những thay đổi của đất nước này sau cuộc cách mạng Minh Trị, và từng qua Pháp t́m hiểu nền văn minh công nghiệp. V́ vậy, rất có thể chính cụ đă đề nghị thăm tàu ​​tuần dương Nga để có sự h́nh dung ban đầu, về quốc gia này.

Vịnh Cam Ranh chiến lược trên Biển Đông

 

Cát Thủy Triều chúng tôi có đến 98% thủy tinh, là nguyên liệu quư cung cấp cho các nhà máy hóa chất cao cấp và công nghiệp thủy tinh, pha lê, chứa Silicát là điôxít silic (SiO2) trong dạng đa tinh thể như cát và cũng là thành phần hóa học của thạch anh. Khi được nung nóng trên 2 ngàn độ trong ḷ hồ quang sẽ chảy thành pha lê – và thủy tinh – chế biến thành nhiều loại gia dụng từ cốc tách, đèn chùm…kính xây nhà, giây cáp, màn h́nh computer, những con chip điện tử linh hoạt.

Thủy tinh, c̣n được gọi là kính hay kiếng, là một chất rắn vô định h́nh đồng nhất, có gốc silicát, thường được pha trộn thêm các tạp chất và màu sắc để có tính chất theo ư muốn.

Trong dạng thuần khiết và ở điều kiện b́nh thường, thủy tinh là một chất trong suốt, tương đối cứng, khó mài ṃn, nhưng rất dễ găy hay vỡ thành các mảnh nhọn và sắc.

Thủy tinh được sử dụng rộng răi trong xây dựng, làm đồ chứa (chai, lọ, cốc, chén, ly, tách v.v) hay vật liệu trang trí.

 

Pha lê là một dạng thủy tinh silicat kali có trộn thêm một lượng ôxít ch́ II (PbO) và có thể là cả ôxít bari (BaO) khi sản xuất. Ôxít ch́ được thêm vào thủy tinh nóng chảy làm cho thủy tinh có chiết suất cao hơn và như vậy độ tán sắc ánh sáng cũng cao hơn so với thủy tinh thông thường, nghĩa là lấp lánh hơn. Sự có mặt của ch́ cũng làm cho thủy tinh mềm và dễ cắt hơn.

Bản đồ chi tiết Vịnh Cam Ranh cuối tỉnh Khánh Ḥa

 

Vịnh Cam Ranh chụp từ vệ tinh

 

Tôi cùng cùng hàng triệu triệu lũ cát từ ḷng Thái B́nh Dương đùn dạt vào bờ Thủy Triều vịnh Cam Ranh, bị xe xáng xúc dồn dập ào ào đổ vào miệng mấy chiếc tàu hàng nặng nề vượt sóng qua biển Nam Hải, xuống eo Mă Lai, ṿng sang Ấn Độ Dương ngược lên Hồng Hải, xuyên kênh đào Suez vào Địa Trung Hải để đáp bến Marseille của Pháp. Từ đó, lũ cát lưu vong chúng tôi phiêu bạt lên tàu hỏa ́ ạch xục xịch đến khu kỹ nghệ Lyon, đưa vào nhà máy, sàng lọc, nhào trộn, rồi chui vào ḷ hồ quang cả 2 ngàn độ, đun chảy thành thủy tinh và pha lê nóng bỏng trôi vào những chiếc khuôn lớn nhỏ, biến thành muôn h́nh vạn trạng.

 

Lũ chúng tôi trở thành những bộ cắm nến trang trọng kiểu cách, cái cầu kỳ cái đơn giản; những chiếc lọ cắm hoa lịch sự đủ cỡ dài ngắn, tṛn bầu, thuôn dẹp; những chiếc b́nh nước cao sang eo thon nét lượn; những b́nh hũ đựng rượu hay nước uống thanh lịch; những bộ ly rượu lớn nhỏ kiểu cọ… Chúng tôi có khi c̣n được pha màu rất thanh nhă mà cũng thật kiêu sang, và có khi c̣n được chạm trổ hoa lá cành hay khắc h́nh chim muông thú vật thật khéo léo.

 

Riêng tôi trở thành một cốc đựng rượu vang, cùng với các bạn khác đóng thành một bộ bốn chiếc, h́nh dạng thon gọn vừa tầm ḷng tay, dù đó là một bàn tay phàm phu thô bạo, hay bàn tay dịu dàng óng chuốt của một nữ nhân qúy phái.

 

 

Từ Pháp, lũ chúng tôi lại phiêu bạt bốn phương du nhập qua nước Cờ Hoa, lênh đênh băng Đại Tây Dương vào hải cảng Nữu Ước.

 

Khi tàu đi qua pho tượng Nữ thần Tự Do, bà mỉm cười giơ cao bó đuốc chào đón và hỏi thăm về quê hương của bà. Bà tưởng quê chúng tôi là nước Pháp, nhưng khi nghe tôi trả lời bằng tiếng Việt, bà dịu dàng cho chúng tôi biết ngọn đuốc Tự Do từng định hướng cho không biết bao nhiêu làn sóng người tỵ nạn từ Đông Âu tràn sang, nhưng không đủ rọi sang phía Tây nước Mỹ, nên bà không tài nào soi đường dẫn lối được cho người tỵ nạn Đông Nam Á t́m thấy lối đi thẳng tới thế giới Tự Do. V́ vậy họ phải bôn ba vượt biển ba ch́m bảy nổi chín lênh đênh, băng rừng trèo đèo lội suối, qua không biết bao nhiêu cửa ải cửa ngục, tốn không biết bao nhiêu nước mắt và xương máu, của cải… mới thấy được ánh sáng Tự Do.

 

Lâu nay bị vùi dập, thiêu đốt, trui luyện, tôi đau cơn đau đổi đời không c̣n tâm trí nghĩ về dĩ văng, nay nghe nhắc về quê hương, tôi nhớ những giọng cười vô tư của lũ trẻ mùa hè ra biển đùa sóng tắm nắng. Những lời t́nh tự yêu thương gái trai hẹn ḥ trên băi vắng. Những câu ḥ khoan nhặt của bạn chài niên tráng. Rồi những đêm trăng đổ vàng trên sóng nước. Những b́nh minh điểm hồng long lanh ngũ sắc. Những trưa nắng trắng oi nồng tôi ngủ vùi trong vơng sóng ḥa điệu ru dào dạt. Những hoàng hôn rực lửa. Những cơn biển động cuồng nộ. Những trận cuồng phong. Những ngọn sóng thần.

 

Tôi nhớ luôn đến đàn dă tràng hoài công xe cát, lũ ṣ huyết ngốc nghếch trên băi Ba Ng̣i phơi ḿnh cạnh bọn…bà tiên dị hợm – nhưng rất được đám dân làng nhậu mê mệt. Nhớ bầy ghẹ tên nào cũng chắc nịch, những chị ghẹ mọng ứ gạch ́ ạch chạy không kịp với đám đàn bà trẻ con nhanh chân lẹ tay đuổi bắt xâu chúng lại thành chùm đem ra chợ.

 

Tôi chợt nghĩ đến những bạn chài kéo lưới làm nghề cũng đă trải bao gian truân. Máu họ thấm vào chúng tôi khi bị đám bạch chủng và bọn quỷ đỏ tước đoạt quyền hành nghề và họ cũng vượt biển t́m đường thoát thân. Nước mắt họ đă vơi đầy trên chúng tôi khi xao xác những mảnh thuyền vỡ tan tác trôi dạt vào bờ cùng những dấu vết thân nhân bạc phận của họ.

 

Bao h́nh ảnh cũ lần lượt hiện ra cùng bao kỷ niệm về quê hương xa xôi làm tôi quên nỗi nhọc nhằn va chạm khi bị di chuyển từ cảng Nữu Ước lên xe vận tải chở sang phía Tây nước Mỹ. Tôi mừng thầm khi nghĩ rằng chuyến viễn du vậy mà sắp nối trọn ṿng: đến bên này bờ Thái B́nh Dương, chỉ c̣n cách quê tôi một vùng nước mặn mênh mông bát ngát vô tận…

 

Người ta đem lũ chúng tôi bày trong khu bán bát đĩa ly tách nơi thị tứ, ngay trung tâm thành phố Seattle, nơi được mệnh danh là Đô thị Ngọc Bích, tiểu bang Washington Tây Bắc xứ Cờ Hoa. Rồi một hôm chúng tôi được trang trọng về với chủ mới.

Tôi hớn hở, v́ chủ mới là một đôi vợ chồng già người Việt tỵ nạn.

 

Từ đó, trong tủ kính, tôi nghe hai ông bà ngày ngày nhắc bao kỷ niệm quê hương. Họ là những người đi và sống nhiều, nên tôi được nghe nhắc lại không biết bao nhiêu là đường xưa lối cũ, từ:

                   Hà Nội băm sáu phố phường

          Hàng Mật Hàng Đường Hàng Muối trắng tinh…

Rồi những con đường mang tên Hàng Bạc Hàng Bát Hàng Buồm Hàng Cỏ Hàng Đào Hàng Đồng Hàng Gai Hàng Khay Hàng Lọng Hàng Mă Hàng Ngang… Và vô số những món ăn như hũ mắm tôm nặng mùi nhưng làm dậy khẩu vị cho những bát bún ốc bún thang bún riêu, những nồi giả cầy, nồi ba-ba chuối hột…, như giọt cà cuống chết đến đít cũng c̣n cố tăng hương vị cho những đĩa bánh cuốn Thanh Tŕ mỏng dánh kèm miếng đậu phụ rán ḍn, hay những miếng bún chả thơm ngậy dầm ḿnh trong bát nước mắm pha có những miếng nơn cải, su hào, cà rốt… Rồi cá thu kho nước chè, chả cá th́a là, bún bung bún mọc, canh bánh đa, canh rau rút, rau đay cà pháo…vv và vv…

 

Từ miền Bắc, họ lại nhắc đến Sơn La Lai Châu Yên Báy, Vịnh Hạ Long, Đảo Cát Bà, Hải Pḥng với Đồ Sơn Sầm Sơn… và không quên tắc lưỡi nhớ hương vị mắm rươi hay trứng đúc rươi.

 

Khi kỷ niệm cũ trôi về cố đô Huế trầm lặng có những mùa mưa dầm thúi đất, tôi nghe bà vợ khe khẽ ngâm:

                  Gió đưa cành trúc la đà

         Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương

Và nhớ lại có người từng tưởng Huế có món canh gà đặc biệt của huyện Thọ Xương!!! Có khi nhắc Tản Đà:

                  Đường vô xứ Huế quanh quanh 
         Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ 
                 Yêu em, anh cứ anh vô! 
         Kệ chuông nhà Hồ, mặc phá Tam Giang

Và trong Chiều Trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên:

                  Chiều trên phá Tam Giang

                  Anh sực nhớ em

                  Nhớ bất tận…

Hay Bùi Giáng:

                  Dạ thưa xứ Huế bây giờ

           Vẫn c̣n núi Ngự bên bờ sông Hương…

Sông Hương! Thường các thi nhân ca tụng con sông này hiền dịu uốn lượn không sóng gió, nhưng dưới mắt Cao Bá Quát th́:

             Trường giang như kiếm lập thanh thiên

    (Con sông dài như lưỡi gươm dựng giữa trời xanh)

 

Nhắc đến Cao Bá Quát:

            Văn như Siêu – Quát vô Tiền Hán

    (Văn của Siêu – Quát vượt cả danh nho đời Tiền Hán)

            Thi đáo Tùng – Tuy thất thạnh Đường

    (Thơ đến ông Tùng ông Tuy hơn cả đời Thịnh Đường)

 

(Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thời Tiền Hán phải thua
Thơ như Tùng Thiện Vương và Tuy Lư Vương thời Thịnh Đường c̣n kém
)

 

Những chuyện về quê hương nhắc kể lại không biết bao nhiêu cho hết.Trí óc của tôi quá nhỏ bé dù trong suốt – như pha lê – nhưng không thể ghi nhớ hết những ǵ được nghe. Tôi đắm ch́m, ngụp lặn trong hạnh phúc sống cạnh những người cùng quê hương, cùng cảm nghĩ, xúc động. Tấm ḷng nhỏ bé của tôi cũng ao ước theo những ước ao của họ, nhất là khi ông già nói đến một “xị” đế. Tôi cũng ước ao được chất “xị” trong suốt đó thấm tràn ḷng, như ông già ao ước chất đế thấm mềm môi.

 

Cho đến một ngày.

Ngày ấy, một ngày trọng đại của dân chúng nước Cờ Hoa: ngày lễ Độc Lập 4 tháng 7.

 

http://www.nairaland.com/attachments/1525218_independence_day_640x480_2_jpegb8e439e76438eadfd3d7f0a11fb6e736

Ngày ấy, một ngày đánh dấu cuộc đổi đời lần thứ hai của chúng tôi, thoát kiếp pha lê tinh lọc để trở về làm hạt cát tiền định.

 

Ông già trong nỗi buồn lưu vong đă hơi quá chén, và một phút nổi giận đem chúng tôi xuống bàn, dang tay ném cả lũ chúng tôi vào mặt bà vợ. Bà già nghiêng ḿnh tránh. Chúng tôi rơi ngay trên chiếc lưng gầy. Những đốt sống gầy chạm mạnh vào ḷng chúng tôi vốn rất mong manh. Chúng tôi vỡ vụn. Mảnh vỡ sướt trên lưng gầy, cắt làn da mỏng. Mồ hôi rịn trên vầng trán nhăn tít của ông già. Máu rịn trên lưng bà vợ. Nước mắt bà nhỏ giọt trên thân tôi…

 

Ôi ! Tôi nhớ những giọt mồ hôi, những giọt máu, những giọt nước mắt xa xưa…

 

Trong phút chốc, tôi nghe rơ tiếng cười trẻ thơ reo vui trong nắng, lời tự t́nh trong gió mặn, tiếng ḥ khoan nhặt thấm mùi biển khơi. Tôi thấy lại những đêm trăng vàng, những b́nh minh hồng, những trưa nắng trắng, những chiều xanh thẳm, những hoàng hôn rực lửa, những cơn biển động cuồng nộ, những trận cuồng phong, những ngọn sóng thần.

 

Giờ này cả lũ chúng tôi nằm yên trên băi vắng xám xịt dơ dáy của bờ Long Beach sau chuyến phiêu lưu cuối cùng từ thùng rác ra xe rác đến băi rác.

Tuy nhiên, ḷng tôi thật an nhiên, thật thanh thản.

 

Tôi ở đây, ngay bên bở Thái B́nh Dương. Tôi chờ đợi, không phải một trận cuồng phong, một cơn biển động, một ngọn sóng thần, mà chỉ chờ một làn sóng nhẹ khi thủy triều lên, êm ái nâng niu ôm cuốn tôi xuống ḷng đại dương.

 

Tôi sẽ trở về nằm trong ṿng tay êm ả của biển Thái B́nh. Tôi sẽ ngủ giấc thiên thu trong ḷng mẹ, v́ dù bên này hay bên kia bờ, mẹ lúc nào cũng mở rộng ṿng tay ôm cả giải đất hiền ḥa quê hương tôi, luôn sẵn sàng nâng niu che chở bằng t́nh thương bao la độ lượng. Trong ṿng tay mẹ, tôi sẽ quên hết mọi phiền muộn, mọi đau đớn đổi đời…

 

Thân cát, tôi trở về cùng cát bụi.

 

(nguồn ảnh: không ghi nguồn tác giả)

 

Trần Thị LaiHồng

 

http://www.gio-o.com/TranThiLaiHong.html

 

© gio-o.com 2017