
TRẦN HUIỀN ÂN
MƯỜI MỘT BẾN SÔNG
tản mạn
Sông Ba từ Tây Nguyên về biển, tới huyện lị Sơn Hòa (tỉnh Phú Yên) đang xuôi dòng về hướng đông nam thì gặp núi Lá phải quành ngược lên đông bắc, tạo ra một đường vòng cung. Làng Củng Sơn nằm trải theo vòng cung ấy, chia ra nhiều lý. Bửu Trung ly có huyện đường, trường học, nhà thương và nhà dây thép (bưu điện)..
Nơi này chắc chắn phải được quy dân lập ấp sớm, ngay từ buổi đầu, năm 1597, khi những lưu dân được Lương Phù Già đưa vào định cư tiếp tục khai khẩn cõi Trấn Biên, hoặc nếu muộn hơn cũng chỉ một vài năm sau. Bởi vì nhiệm vụ của Lương Công là kết lập gia cư địa phận trên từ đầu nguồn dưới tới cửa biển, vậy trước hết ngài phải lo cho nơi đầu nguồn này được ổn định mới có thể giữ vững sự ổn định ở vùng đồng bằng hạ bạn Bà Đài, Bà Diễn.
Tên cũ của Củng Sơn là Phước Sơn, là nơi tiếp cận giữa người Kinh và các bộ tộc Nam Bàn, sau này là Thủy Xá, Hỏa Xá. Các sứ bộ của hai tiểu quốc phiên thuộc này mỗi khi xuống tỉnh thành Phú Yên để về kinh đô Phú Xuân tiến cống đều dừng lại Phước Sơn. Phước Sơn là nơi giao thoa tập tục của nhiều sắc tộc, mỗi bên đều chịu ít nhiều ảnh hưởng của nhau. Và một trong những tập tục ấy là việc uống nước sông.
Đồng bào các dân tộc thiểu số luôn luôn sống gần các bến nước. Bến nước là linh hồn của buôn làng. Họ bảo rằng nước sông suối luôn luôn chảy, luôn luôn vận động nên sạch và hiền. Nước giếng đọng một chỗ nên không sạch và không hiền.
Củng Sơn cũng như thế. Mọi sinh hoạt ăn uống, tắm rửa, giặt giũ…đều dùng nước sông, không dám đào giếng. Muốn đào giếng phải là người có địa vị, có uy thế. Nếu hỏi : Sợ điều gì ? Kiêng điều gì? Tại sao sợ? Tại sao kiêng? Thì câu trả lời là : Không biết. Xưa sao nay vậy. Ngay trong công đường nơi quan Tri Huyện làm việc cũng không đào giếng. Có lẽ khi ông bà ta lên đây định cư, nhập gia tùy tục, bắt chước các bộ lạc của Nam Bàn uống nước sông, rồi thành nếp quen, thành truyền thống. Và vị quan cai trị dẫu nắm phép vua trong tay vẫn phải tôn trọng lệ làng. Cho đến năm 1960 trải hơn 60 năm là huyện lị, địa bàn khá rộng, dân cư khá đông, mà cả làng chỉ có ba giếng nước trong công sở : trường học, nhà thương, nhà dây thép, và hai giếng nước của tư gia : một Hoa kiều và một ông Hội đồng. Sau năm 1960 có mấy nhà giáo mạnh dạn đào giếng, từ đó về sau đến nay nhà nhà mới có giếng nước.
Từ Tây lý xuống Đông lý, Bắc lý…có cả thảy mười một bến sông. Trong mười một bến này có hai bến vừa là bến nước vừa là bến đò ngang. Mỗi khi lấy nước người ta gánh đôi thùng hoặc đôi vò xuống bến, mùa nắng ra giữa dòng, dìm xuống cho nước vào đầy gánh về. Trong khi ấy có người tắm, người giặt, việc ai nấy làm. Ông lái già vẫn chống đò đưa khách qua sông. Mùa mưa chỉ lấy được nước ở gần bờ, đục ngàu bèo bọt, phải để cho lắng xuống rồi đánh phèn chua cho trong, như lời ca dao :
Vũng bùn lòng nguyện thả sen
Bao nhiêu nước đục đánh phèn lại trong…
Khác với bên hữu ngạn bãi cát rộng, bờ sông thấp, nối liền vào đất thổ. Củng Sơn ở tả ngạn, bờ sông hẳm, đường xuống bến là dốc, là bậc. Mùa mưa nước sông đầy bèo bọt, chảy cuồn cuộn, mỗi lần nhìn ngắm trong trí tôi lại hiện lên câu thơ cổ :
Cổn cổn trường giang thệ thủy đông
Lãng ba đào tận anh hùng
Bưu Văn tiên sinh đã dịch :
Cuồn cuộn sông dài nước chảy xuôi
Anh hùng cát dập sóng vùi…
Mùa hè nước sông cạn, trong vắt, trẻ con tha hồ bơi lội nô đùa. Bọn chúng tôi không chỉ tắm ở một bến mà tắm cả ở mười một bến, hôm nay bến này, ngày mai bến khác. Thật thích thú là tắm vào những đêm trăng, dòng sông rực rỡ ánh vàng lóng lánh. Bãi cát cũng trở nên huyền ảo với những mộng mơ của tuổi trẻ
Trong đám chúng tôi, có một bạn đến tuổi trưởng thành sống ở nơi xa, mỗi lần về làng hành lý chỉ có cái xắc nhẹ nhàng, lần nào cũng vậy, anh đi thẳng ra sông, xuống bến bơi lội hụp lặn rồi mới về nhà với mái tóc ướt sũng.
Trong đám chúng tôi nhiều bạn theo lời người lớn bảo rằng: Phận gái mười hai bến nước, nhưng làng tôi chỉ có mười một bến, nên những ai nhan sắc và tài hoa đều phải đi tìm bến nước thứ mười hai ở một dòng sông khác. Đó là cái lý do để những người con gái lấy chồng xa xứ biện minh và những người con trai bị tình phụ tự an ủi rằng định mệnh đã sẵn từ dòng sông bến nước.
Trong đám chúng tôi không ít bạn đã đem một mái tóc óng mượt xỏa dài ví với gợn sóng mặt sông buổi chiều yên ả. Mái tóc ấy rồi cũng đã hớt ngắn, uốn quăn và rồi điểm xen bao sợi trắng, nhưng đôi mắt khi chợt gặp lại, thoáng nhìn đã cảm nhận được đầy đủ cái tinh anh của một thời, vẫn là đôi mắt mở tròn xa thẳm khi cùng lặn xuống tầm sâu tay nắm tay nhau…
SAY GIÓ
Không phải Tuy Hòa chỉ có mỗi thứ gió cay nghiệt, ngang tàng phóng túng…
Ngọn gió quê hương thật tình đã khiến ta say.
Vâng, ai đã từng say…say rượu, say trà, say cà phê, thuốc lá, cái say mong tìm khoái cảm…và cả cái say bị bắt buộc phải gánh chịu như say nắng, say sóng…chắc hẳn đều công nhận : chỉ có say gió là cái say tuyệt vời… Nó tạo cho ta sự lâng lâng, thật nhẹ nhàng nhưng không kém ngất ngây, nói là say mà hoàn toàn tỉnh. Phân tích thật chính xác là có một giọt say trong cái tỉnh, có một giọt ngủ trong cái thức, một giọt buồn trong cái vui, có một giọt nhớ thương xưa cũ trong cái hoan hỉ hiện tại, có một giọt xôn xao trong cái bình lặng. Những tác động của ngoại cảnh vào tâm hồn ta qua lối gió cứ lần lượt rất trật tự, tạo ra từng gợn nhẹ lăn tăn hòa tan cùng nhau tựa như khi ta nhỏ một giọt trà đậm xuống ly nước trong, trà cứ thế len lỏi vào nước, chầm chậm đổi màu.
Tất nhiên không ai say gió bấc, thứ gió hung hãn cuồng nộ quất những lằn roi lạnh buốt lên mọi sinh linh. Cũng không thể say vì gió nồm. Mát mẻ quá, yếu ớt quá, sắc hồng do nắng chiếu cũng mong manh quá.
Cái gió làm cho ta say, tạo cho ta cái cảm giác say ấy, chính là những cơn gió nam đầu mùa, khi hè vừa đến. Vào thời điểm này ngày bắt đầu sớm hơn, thức dậy ta đã thấy trời xanh mây trắng, rồi nắng cũng có chút phần gay gắt, đã gây ra nóng bức, hơi hơi khó chịu. Một cơn gió nam bất chợt thổi, bỡ ngỡ như từ nơi xa về lại cố hương. Chưa có tiếng xạc xào trên tán lá, chưa có cát bay bụi nổi, những cơn gió trẻ trung ấy có lúc khiến ta tự hỏi đó là nồm hay nam, và khi đã xác định là nam ta hiểu ra trời đất đang chuyển mùa, lòng ta như cũng dự bị sẵn sàng để đón tiếp sự đổi thay của Tạo Hóa.
Những buổi sáng thiếu niên, gió nam non trên đồi cỏ. Sương đã tan hết để rừng sim rực tím. Đám chim chiền chiện từ trên cao sà xuống thấp, bay là là rồi cùng vút lên. Tiếng chim ríu rít tan vào mây và gió. Bóng cây đổ dài tĩnh mịch. Hãy nằm xuống nệm cỏ nghiêng mắt mà nhìn lớp cỏ tai bèo. Mỗi cánh bèo bằng miệng ly con, từ đó ngọn hoa nhỏ nhô lên, cánh hoa tròn bằng hạt tấm, nõn nà xanh nhạt. Gió đi trên cao nhưng chân gió rơi đùa khẽ rung ngọn cỏ, chỉ khẽ rung thôi không buộc cỏ phải nép mình xếp ngã. Lòng ta cũng khẽ rung theo gió, theo cỏ, theo hoa. Trong tai ta văng vẳng tiếng chim chiền chiện trên cao. Mắt ta lim dim nhắm lại. Cơ hồ ta quên hết, những công thức hình học, những bài toán phân số tạp số, những tên đất tên biển xa xôi của bài địa lý. Cái nhìn nghiêm khắc của thầy giáo, nụ cười thán phục hay chế giễu của bạn bè. Tất cả tuy mới hôm qua đã quá xa xôi. Hôm nay là chủ nhật, ngày thứ hai chưa hề có trong dự định.
Những buổi sáng tuổi hai mươi. Tiếng chim chiền chiện đã thành vang vọng trong quá khứ. Không còn cái hồn nhiên nằm trên cỏ mượt tẩn mẩn đếm xem có bao nhiêu cánh tai bèo. Gió nam đưa lòng ta bay bổng về phương trời. Hôm nay là mùa cỏ tranh trên đồi vừa kín lá. Những giồng tranh xám nhạt nối tiếp nhau chạy đến nơi xa tắp. Gió vẫn ở trên cao và nhẹ nhàng đùa giỡn ngọn tranh, từng gợn từng gợn tạo ra làn sóng nhấp nhô.Ta cũng thấy giồng tranh thoi thóp như “lúa thành…(xưa cũ)…bên cồn”, nhưng liền nhận ra hai chữ “thoi thóp” sao mà già nua u trệ, không hợp cảnh hợp tình. Trên mấy đỉnh núi tròn tranh chảy dài như suối tóc. Cái say của gió nam bây giờ như có vẻ gì như nhắc nhở, không giục giã vội vàng nhưng hàm ý thôi thúc lên đường. Đi đâu và về đâu, ta như thầm hỏi gió. Gió không trả lời nhưng chỉ cho ta thấy: đó, trông vời trời biển mênh mang…
Điển tích Trung Hoa có nói đến giống ngựa Hồ phương Bắc thường được cống nạp về Trung Nguyên mỗi lần nghe gió bấc thổi hí lên những tràng thê thiết não nùng, có con bỏ ăn mà chết. Những con người của quê hương chúng ta dẫu không chút gì là đa sầu đa cảm, là giàu óc suy tưởng, làm sao không có ít nhất một lần trong tuổi trẻ tuổi trai được ngọn gió nam đầu mùa lùa vào tim óc để hiểu rằng đó là cái phong vị đặc biệt của quê hương. Trên mỗi bước đi xa, thành công hay thất bại, được hay thua, vui hay buồn… chợt nghe gió chuyển sang mùa lại nhớ về quê hương với bao nhiêu kỉ niệm.
Đối với lớp người vào tuổi xế chiều, “mắt phai xanh, đầu ngã bạc”, lúc ngọn gió nam sau một năm cách xa trở về tái ngộ, đố ai khỏi bâng khuâng? Một cái gì đó mơ hồ, huyền hoặc, nhưng nó sừng sững ngự trị, tồn tại đầy ắp trong lòng. Những lúc giữa buổi sáng, thời khắc nhiều thoải mái nhất, nhiều thích thú nhất để làm được mọi công việc, nhưng nếu như dựa người trên xích đu nhìn ra bốn hướng, màu xanh của trời, màu trắng của mây, màu hồng của nắng trong hương vị gió nam… chắc chắn là cứ muốn nằm yên đó tận hưởng cái bình yên trong hiện tại, nhớ về cái bình yên trong ký ức.
Mình ta với gió bên nhau…
Ta muốn bắt chước thiên hạ viết đôi câu thơ, nhưng chữ nghĩa của thi sĩ Bùi Giáng khắp cả bốn bên :
Mà hương quan vắng xa màu mây trôi
Sim ngàn đổ lá buông rơi
Cành nam ước hẹn sai lời tử sinh…
( Bùi Giáng)
Gió nam, ngọn gió trong trẻo ngọt ngào, cho nên ta say gió chân tình, hào sảng và tự tại. Còn như giống ngựa Hồ mỗi mùa đông ngẩng đầu nghe gió bấc chỉ có những thê thiết, nhớ thương…
Trần Huiền Ân
http://www.gio-o.com/TranHuienAn
© 2008 gio-o