Thi Vũ

TN Đ

Người thi sĩ ca s l�n đường

 

Buổi diễn thuyết đ�m qua tại th�nh đường th�nh phố Sion k�o d�i tới 1 giờ rưỡi khuya. Chỉ c�n non lưng ng�y để thăm Rilke, n�n s�ng nay t�i từ biệt sớm c�c bạn hữu trong ban tổ chức lấy xe đi Rarogne. Đường xa 40 c�y số. Rarogne l� một đo�n th�n nhỏ, ngh�o, bốn bề n�i cao, nằm trong thung lũng v�ng Valais Đức ngữ ở Thụy sĩ. Người đ�nh xe đưa t�i kh�ng biết Rilke l� ai, nhưng ở Raron ai cũng biết nấm mồ tường vi thương mến đ�. Khi t�i hỏi một mẹ gi� dưới ch�n n�i, mẹ c� biết mộ địa Rilke nằm đ�u kh�ng ? Mắt b� s�ng l�n với nụ cười k�o mời v� hạn: �ng phải xuống xe, đi bộ l�n ngọn đồi kia. Mộ Rilke nằm ở mặt Nam nh� thờ.

Dốc cheo leo. Con đường nhỏ. Tuyết giăng bốn bề. N�i pha m�u biếc, điệp sau cơn m� dựng n�n động phủ mang mang v�ng quanh thung lũng. L�n tới đỉnh t�i chồn ch�n nh�n tấm bảng yết : Die Burgkirche wird gegenw�rtig reatauriert. Der Besuch der Kirche und des Rilkegrabes ist nicht erw�nscht (Nh� thờ l�ng đang tr�ng tu. Xin chớ v�o thăm gi�o đường v� phần mộ Rilke). D� vậy t�i vẫn xăm xăm bước tới. Sau lưng nh� thờ l� một nghĩa trang nhỏ chừng hai mươi ng�i mộ. Nh�n khắp kh�ng thấy t�n Rilke, t�i đi v�ng ra mặt Nam. Một thớt đ� ong nằm trơ trọi, đầu g�c v�o tường gi�o đường, dưới ch�n l� thung lũng th�m u, b�n kia rặng n�i v�t. Thớt đ� ghi RMR � 4 Dez 1875 � 29 Dez 1926, ng�y sinh v� ng�y mất của Rainer Maria Rilke. Tr�n mộ một v�ng hoa �uillet trắng v� đỏ đ� lợt phai với d�ng chữ Hội Những Người Bạn của Rilke. T�i ch�o Rilke : một người l�m thơ từ phương Nam tới, thăm v� ca ngợi Rilke� anh nằm đ�y ngủ y�n kh�ng ?... c� lạnh lắm kh�ng ?... Phương Nam ấm �p nhưng nay c�n ngập m�u, m�u của h�ng triệu hoa hồng ! T�i chợt nhận thấy kh�ng c� một đ�a hồng n�o tr�n mộ Rilke, người thi sĩ của hoa hồng, kể cả c�u thơ bất hủ l�m bia k�. B�n tay tr�i t�i ấp sờ l�n đầu mộ gửi lại hơi ấm của một b�ng hường. T�i cũng ngứt xin ba chiếc l� b�m b�m tr�n d�y leo quấn nơi đầu mộ, m�u lục v� sức xu�n độc nhất giữa những ng�y tuyết băng b�n cạnh đ�, gạch, bụi ngổn ngang hoang phế.

Sau đấy t�i tiến thẳng v�o l�ng gi�o đường t�m người cai thầu. Xin lỗi �ng, t�i từ xa tới, sao mộ Rilke ti�u điều qu� ? �ng cai thầu dửng dưng bảo một người thợ dẫn t�i đi. Người thợ đưa t�i ra d�y nh� t�n mới dựng l�m kho chứa tr�n khoảnh đất ở triền đồi, mở kh�a mời t�i v�o xem bia. Cạnh những chiếc ghế bọc nhung đỏ v� đồ từ kh� của nh� thờ, một tấm bia m�u trứng g� lấm tấm c�t thời gian, n�t chữ khắc mỏng mịn theo tư th�i kiểu Diotima t� sắc v�ng Đ�ng phương :

������������������������������� ROSE, OH REINER WIDERSPRUCH

������� ��LUST

������ NIEMANDES SCHLAF ZU SEIN

�� UNTER SOVIEL

����� LIDERN

Trinh nguy�n m�u thuẫn

Tường vi

�Dưới mi hoan lạc kh�ng hầu giấc ai

C�nh hồng như mi mắt. Hai, ba, bốn, tr�ng tr�ng mi mắt nhung kh�p n�n đ�a hồng uy�n mặc. Những mi �m niềm Vui của con ngươi kh�ng c�n nh�n. V� kh�ng c�n nh�n n�n th�i ngủ, kh�ng c�n dậy, kh�ng c�n thức, cũng chẳng c�n m�. V� như vậy th� c�n ai đ�y m� ngủ nữa. Niềm Vui vừa giải tho�t, hết l� c�i buồn-vui-thương-nhớ-giận huy�n thường, th�i l�m sự đ�ng kh�p cho giấc ngủ� - chẳng c�n ai để ngủ. Sự m�u thuẫn thường nhật đ� biến ra niềm m�u thuẫn trinh nguy�n của đ�a hồng �- Rose, oh reiner Widerspruch. Đ�a hồng tự n� đ� l� niềm bằng an phiếu diễu, thế m� đối chọi với ng�y đi th�ng lại qua sự giả vờ ph� du của c�nh. Đ�a hồng tự n� đ� l� thơm anh trinh liệt, thế m� phải đối chọi với thế tục trầm lu�n qua c�i chập chờn huyền ảo của hương bay. Nhưng khi con mắt của thế tục đ� kh�p lại, kh�ng nh�n nữa, Niềm Hoan lạc đ�u đ� nơi v� bi�n, l� đ�a Hồng kia, sẽ kh�p hay mở dười trăm mi m� vẫn kh�ng l�m giấc ngủ cho ai cả.

T�i bỗng thương Rilke v� hạn. Thương như thương giấc ngủ �m đềm một em b� ng�y thơ hồn hậu. C�ng thương c�ng tự thấy x�t xa cho những nh� thơ Việt Nam. Sực nhớ Tản Đ�, người d�m sống cả cuộc đời cho thơ, bằng thơ, v� l�m n�n thi ca cho suốt 71 năm l�m lụy vừa qua.

Rilke đ� nh�n thấy một Th�nh đường mọc l�n nơi Phương Đ�ng (eine Kirche wo im Osten steht), đ� t�m gặp được t�m của mọi điểm t�m quy, cội của tất cả cội nguồn (Mitter aller Mitten, Kern der Kerne) (1), khiến hạnh ph�c rụng rơi v�o niềm trời chon von hoan lạc. Mộ phần Rilke h�m nay d� đi�u t�n theo sự đổ n�t của gi�o đường th�n Raron, th� nấm mộ đ� vẫn l� một đ�a Hồng tinh t� rung ren chớp �nh tr�n nỗi ồn buồn �m u của thế tục.

C�n Tản Đ� ?

Vị tr�ch ti�n sinh th�nh nơi Th�nh đường Phương Đ�ng kia ? Tản Đ� chỉ kịp cứu Rilke, nhưng kh�ng kịp cứu m�nh. Tản Đ� lo dọn đường cho kẻ kh�c, giống Bồ T�t Tr� Địa trong Saddharmapundarikasūtra, v� đ� h�a đi tr�n con đường gồ ghề đ�.

Rilke c�ng trầm đắm uy�n tư bao nhi�u th� Tản Đ� x�ng x�o bấy nhi�u. Rilke đi về m�i nh� phương Đ�ng, trong khi Tản Đ� bỏ Nh� l�n đường. L�n đường để dẫn dắc những kh�ch lạc đường trở về.

Suốt cả thi nghiệp v� thi sử của Tản Đ� biểu lộ qua � ch� nung nấu t�m lại c�i t�m đ� mất(2). �Trời cũng từng dặn Tản Đ� nhớ lo c�i t�m đ� cho hạ giới� - c�i thi�n lương. Thế rồi trọn đời người, Tản Đ� quyết thanh cao ph� trắng một c�nh mai(3). V� việc thi�n lương, v� một c�nh mai, v� c�i t�m đ� m� Tản Đ� mắc nạn� - v� c�i t�m n�n lụy c�i h�nh.

L�n đường bao h�m t�m lại c�i t�m đ� mất. T�m lại l� khiến mọi sự phải giật m�nh tỉnh giấc. Tỉnh giấc l� sống giữa qu� hương. Qu� hương l� kh�ng nơi chốn (v� sở tr�), bởi v� qu� hương l� sự tỉnh giấc (kiến t�nh). Tất cả ch�ng ta l� những kẻ lưu đ�y, những kẻ mất qu� hương m� kh�ng hay biết. Mất qu� hương v�o giờ nầy lại kinh khiếp hơn bao giờ, v� n� mang trọn nghĩa đen cũng như nghĩa b�ng.

� thức mất qu� hương, mất c�i t�m của mọi điểm t�m quy, mất c�i cội của mọi cội nguồn. � thức vong t�nh nầy đ� đeo đuổi Tản Đ� khiến �ng thao thức, ăn ngủ kh�ng y�n, bồn chồn hỏi b�ng, khiến �ng thở bằng thơ, n�i bằng ch�o, đi bằng hồn, chạy bằng kh�, gọi bằng tuổi thọ� cốt sao k�u lớn cho cả nước c�ng nghe. �ng t�m người đồng ch�, chạy quay quắt tr�n c�t băng năm th�ng. Song hỡi �i, đ�m tối (4) vẫn d�y đặc, đốt đuốc đố ai t�m khắp nước / t�m đ�u cho thấy mặt anh hung(5). �Thời buổi m� trước việc th� họ chỉ ngồi ng� th�nh bại, sau việc th� họ lựa s�ng theo chiều(6); thời buổi m� non xanh nước biếc sang người trắng da(7), khi cảnh cũ đ�i phen thay chủ mới / đường xa th�m nỗi suốt đ�m th�u(8).

T�nh cảnh vong t�nh truyền kiếp triền mi�n kh�ng c�n đ�u bi thiết hơn. Cho tới l�c l�m thơ tr�n thi�n đ�nh m� người họa điệu kh�ng ai kh�c ngo�i Chi�u Qu�n đ�nh Tỳ b�, Dương Q�y Phi say rượu m�a, v� T�y Thi h�t(9). �Một thi sĩ v� ba giai nh�n; một thời đại v� ba thời gian chung c�ng nơi kh�ng gian thế phận của sự vong quốc v� vong t�nh. Buồn n�o s�u hơn ? Cảnh n�o x�t bằng ?

Thế sự được chuyển bằng con mắt tr� (praj�ā) song đại sự l� nghiệp cộng của đ�ng người. Ai l� người tri kỷ, ai l� người đồng ch� của Tản Đ� ? Người đồng ch� c� k�ch thước của h�o kh� uy�n nguy�n h�nh động v� thi ca, chứ kh�ng phải l� người đồng sự qu�n, ngườới đồng kh�i niệm, đồng nịnh bợ, đồng đảng, hay đồng chịu nhẫn suy t�n. Một con người tri kỷ như vậy, thực chứng mới tạo nỗi ra h�nh, chứ l� luận kinh viện kh�ng c�ch g� nặn được. Tản Đ� đi t�m người tri kỷ như n�i Tản v� Hắc giang đ�m ng�y ng�ng, chảy : non nước gọi nước non h�y đời đời non nước.

Dung hạnh v� thực chứng của một thi h�o vượt ra ngo�i mọi tầm với của � thức chủ nghĩa v� giai cấp theo l� luận h�nh thức. Thường ta vẫn muốn b� rọ con người v�o tiếng n�i, nơi sinh v� tập qu�n họ ; l�m vậy ta mong t�m ra những định đề tr�ng ngẫu cho giải th�ch ph� hợp n�o đ�. Ta qu�n sự vượt thức m� bất cứ một người l�m văn học n�o cũng phải c� khi thi�n t�i ph�t lộ. Vượt thức ch�nh l� sự b�ng vỡ một nội tại trầm lu�n u �m chất chứa tự l�u xa. Một b�ng vỡ li�n hệ mật thiết tới cuộc chuyển h�a h�ng tr�ng hơn cả c�ch mạng m� con người vượt thức đem lại cho nh�n sinh. Chẳng hạn như con người vượt thức của Bồ t�t Quảng Đức. Thật trẻ con nếu ta bắt đầu một thi�n cảo luận về th�n thế ph� du v� thế tục chẳng ăn nhập g� đến sự chuyển h�a kh�ng ngừng qua từng gi�y từng gi�y tr�n t�m thức người, t�m thức x� hội v� thời đại. Ch�nh tri gi�c s�ng l�a khi vượt thức, tiếng sấm đ� b�ng tung thi�n t�i tới ch�n trời b�nh đẳng. Ở đ�y ch�n l� v� cuộc đời l� một.

Để cho ch�n l� v� cuộc đời l� một, Tản Đ� gọi k�u tri kỷ� - người đồng ch� -� c�ng bước l�n ch�n trời b�nh đẳng. Ba lần k�u gọi r�ng động n�i non trong v�ng t�m năm trời, tiếng d�i bằng g�n m�u, lời thiết như một kẻ tử t� sắp bị h�nh quyết : Thư gửi người t�nh nh�n kh�ng quen biết ; Thư tr�ch người t�nh nh�n kh�ng quen biết ; Thư lại tr�ch người t�nh nh�n kh�ng quen biết. Tiếc thay Chu Kiều Oanh c�n l� tiếng oanh thỏ thẻ, đủ h�t b�n thềm chưa theo kịp c�nh chim bằng ch�n dặm cao. Chu Kiều Oanh dễ y�u, đ�ng y�u, kiều nhị như bao người đẹp kh�c, song tầm thường như bao nhi�u thương, gh�t, buồn, vui, đạo đức, lễ nghi, vết m�n� của bao nhi�u đ�m hương quyện quanh ngọn đ�n hiu hắt, chưa l� gi� b�o tốc dậy mười phương, chưa l� sự nung chảy của ch�n vạn mặt trời, hay cơn m�t của ba vạn đ�a trăng.

M�nh ơi c� biết ta đ�y nhớ m�nh(10)

Gọi l�n bằng hơi gi� n�i rồi l�n đường. Đ� nhiều năm ngang dọc, th�n vẫn trơ, đường vẫn quạnh. Ch�ng ta c� n�n cười cợt người thi sĩ quạnh hiu ? Đương nhi�n, ch�ng ta c� thể đưa ra những lời giải đ�p sẵn, những ph� ph�n học thuộc l�ng, những l� thuyết in th�nh s�ch để ph�n định v� sao Tản Đ� c� đơn, v� sao Tản Đ� kh�ng th�nh tựu. Th�nh tựu c�i g� ? Tản Đ� kh�ng l� phu sĩ quan đi mộ l�nh. Tản Đ� k�u gọi người tri kỷ, k�u gọi t�nh trở về, k�u gọi t�nh hiện ra giữa x� hội vong t�nh. T�nh c� đ� trong mỗi người, qua mọi vật như d�ng điện v� h�nh lưu nhuận. Song con người đ� khuất lấp, ch�n v�i t�nh tự ngh�n năm, khiến cho nay đối mặt chẳng sao nh�n thấy. Chung quanh những đ� c�ng c�y / biết người tri kỷ đ�u đ�y m� t�m?(11). �Sao đ� mọc cao tr�n đỉnh ho�ng h�n vong t�nh, kh�ng lời đồng vọng, Tản Đ� lẽo đẽo nhưng tự tin bước đi, đường xa g�nh nặng xế chiều / cơn d�ng biển lớn m�i ch�o thuyền nan(12)

Tản Đ� trải qua những chặng đường thực chứng dị thường. Kh�ng đ�nh c�i nh�n đ�ng ch�nh v�o c�c x� ng�ch xa x�i, ẩn b� đ�, ta kh� hiểu v� sao Tản Đ� đ� vượt thức, đ� thăng hoa to�n bộ nh�n sinh �ng v�o ch�n bờ tr� gi�c thi ca v� h�nh động.

Những chặng đường nầy bước từ nẻo h�o hoa tiền sử v�o Li�u Trai ra tịch cốc, thần b�, để rồi hiển m�nh v�o h�nh thế. Từ buổi thiếu ni�n phong nh� y�u đương, Tản Đ� cũng muốn th�nh nh�n, thi đậu, hưởng an như mọi �ng quan nhỏ trong cuộc đời. Thế nhưng Tản Đ� quyết đứt với học đường u m� đang biến con người th�nh t�n cảnh binh n� lệ, mặc những �n huệ hiếm hoi m� Vayrac, gi�m đốc Trường Hậu bổ bấy giờ, d�nh cho một t�n da v�ng Annam. Sau đ�, v� buồn ch�n đẩy đưa như thường nh�n n�i, hay v� d�ng sống chồm l�n �m ĩ mu�n đời, m� Tản Đ� v�o ch�a Ti�u Sơn ở động Hương T�ch sống với c�c nh�n vật của Bồ T�ng Linh ? Rồi một đ�m Trăng s�ng, một đ�m rất đỗi ngọc tr�n chuỗi đ�m linh thi�ng th�ng h�a, Tản Đ� dựng đ�n tế Chi�u Qu�n. Tế người bị vong quốc. Tế sự vong t�nh của nh�n sinh. Đ�m h�ng tr�ng. Trăng mang mang. Gi� tư bề lặng. Ch�m hương đỏ rực như hỏa diệm, viết chữ kh�i v�o xanh u của đ�m những tr�t lệnh cho v� h�nh. Bỗng trong sự trầm mặc dị kỳ, trong niềm im lặng v� bi�n, giữa sự đợi chờ xao xuyến v� kinh h�i của mu�n cặp mắt th� vật l�e nh�n qua kẽ l�, Tiếng N�i xuất �m. B�i văn tế Chi�u Qu�n bi thiết, uy dũng cất l�n như một tiếng k�u trầm thống, rung rinh sao, g�o gọi qu� hương chớ qu�n mất đường về, để gọi sự vong t�nh chớ t�nh vong. Con người phải l�m lại giấy khai sinh, phải đổi đừng lấy t�n Chi�u Qu�n.

H�n cung nhất biệt

Hồ địa thi�n ni�n

Một đi từ biệt cung vua

C�n về đ�u nữa đất Hồ ngh�n năm(13)

Tiếng trống của thi h�o đ� gi�ng. Người đ�nh bỗng trầm ng�m. Tản Đ� rời Ti�u Sơn tự về ấp Cổ Đằng tịch cốc ba th�ng. Ăn to�n rau, ng�y một bữa, nhưng lại uống rượu v� hương đ�o sực nức chốn Dao Tr� c�n nhờn nhợ nơi tửu vị đ�u đ�y ? C� lần Tản Đ� nhịn ăn ba ng�y, mong t�m nguồn mạch của hữu cơ v� v� cơ. Những l�c đ� �ng cảm thấy trong bụng hư kh�ng, lại một phen say rượu m� ly, th�nh từ đấy về sau kh�c hẳn từ đấy về trước. Bụng kh�ng biết no, kh�ng biết đ�i, kh�ng biết vui, kh�ng biết buồn. Chỉ cứ một ng�y một bữa rượu, hoặc uống xu�ng, hoặc ăn một đĩa rau rưa nhỏ con, xong rồi đem ch�ng ra nằm dưới gốc c�y, hoặc l� xem những đ�m m�y đi tr�n giời, con chim bay tr�n kh�ng, xem kết cục đến đ�u l� hết(14).

Chứng được niềm v� thủy v� chung của trời đất, Tản Đ� rời ấp Cổ Đằng, về qu� sống những ng�y thần b�. L�c n�y �ng ăn ng�y một bữa, nhưng lại ăn to�n thịt hay c�. Đ�m thắp 28 ngọn nến (nhị thập b�t t�) hay bảy ngọn (thất tinh đ�n) để t�m long mạch về Nguồn. Những g� giao cảm trong c�c đ�m linh kia ? Ta chỉ c� thể nh�n những ngọn nến nhỏ giọt xuống kh�ng gian x�n lạn từng v�ng đen im lặng m� th�i. Sự im lặng h�a h�nh v� tương dự của sử linh. Những v�ng đen to lớn m�nh m�ng tr�m quanh thi mệnh một thi�n t�i. V� trong cơn ng�y ngất của dặn d�, nơi nhớ nhung v� đợi chờ kh�ng phụ t�nh v� đang dằn co n�u k�o, một tiếng nổ của ph�n ly x� ch�y tấm �o trăng:� Tản Đ� hiện về nguy�n vẹn nơi thế phận thường nhật. �ng từ giả qu� sang Vĩnh Tường sống với anh l� Nguyễn T�i T�ch . Cũng từ đ� Tản Đ� tập ăn cơm(15).

Con đường h�nh thế mở ra. Tản Đ� lấy vợ nơi v�ng m� ng�y xưa �ng sống c�i Li�u Trai. Tản Đ� lấy vợ cũng hồn nhi�n như nh� tu ph�t nguyện trọn đời sống độc th�n. Thi mệnh của thi�n t�i kh�ng cho đi v�o nơi dễ d�i. Sử t�nh của thi ca l� sự l�n đường chấp nhận c�i đời như một chuyển h�a lặng c�m, chứ kh�ng như niềm du ca ng�n ngữ, du ca tư tưởng.

Mang c�i nh�n th�m uy�n đ�ng ch�nh về nỗi vong t�nh của đời người, n�n Tản Đ� biết rằng phải giải quyết sự vong quốc trước ti�n cho thế phận Việt Nam, để từ đ�y bước l�n thang nh�n r� v�o sự vong t�nh. N�i thế, chứ kỳ thật vong t�nh hay vong quốc đều biểu thị trạng th�i m� chuyển h�a bị c� tịch trong nỗi chập chờn ma qu�i của du ca.

Tản Đ� xuống đường khuấy động sự an b�i của nền văn học n� dịch, xuống đường giật vứt những l� cờ x�m lược tr�n nẻo qu� tr� ph�.

Tr�n con đường ngh�n dặm, khi tới Thuận An, nơi m� ng�y xưa hai ngh�n qu�n đ�ng giữ nay một t�n l�nh trấn hải(16), Tản Đ� thốt l�n lời thề non nước(17), lời gọi về Nguồn. B�n nầy bờ l� sự vong quốc, b�n kia bờ vong t�nh, nhưng con nước sẽ nối liền hai miền thương tổn, k�o d�ng ly hương về nơi Nguồn Cội Qu� Cao.

Tiếng thơ Tản Đ� kh�ng gợi về hồn �o n�o, kh�ng k�o đắm v�o giấy tờ, trang s�ch, tơ tưởng, kh�ng luồng qua tiếng kh�c. Tiếng Thơ của Tản Đ� mở th�m t�m v�o tương dự với c�ng tr�nh vũ trụ, thở c�ng hơi gi� nước, nhịp theo điệu n�i non, h�a trong hồn linh sinh hoạt. Tiếng Thơ của Tản Đả gọi ra, kh�ng gọi v�o. Gọi lửa của sức. Gọi thơ của niềm. Gọi c�nh cho ng�i. Gọi gươm cho m�a. Rộng mắt nh�n sơn hải, m� nặng l�ng chủng tộc giang san. Tr�o l�n đỉnh n�i Ho�nh Sơn m� tr�ng quanh ngo�i bể trong non, c� hơn như phục dưới đ�n xanh đọc một thi�n luận thuyết tự t�n(18).

Nghĩa th�m hậu của Tống biệt trong vở kịch Lưu Nguyễn nhập Thi�n Thai(19) viết cho ban kịch Thắng � của Nguyễn Đ�nh Cao, l� Lưu Nguyễn kh�ng chịu SỐNG Thi�n Thai m� chỉ dừng bước chuyển h�a để NHỚ Thi�n Thai. Nhớ l� xa. Xa l� rời. Rời l� chỉ tư tưởng. Tư tưởng mới chỉ l� suy về, nhưng chưa về tới, chưa sống thực. Tản Đ� xem thường những ai kh�ng biết sống, nghĩa l� những ai cứ ngờ ngờ trong thực tại như một con đĩa tr�n dĩa m�u. C�c động vật tr�n mặt đất kh�ng cứ l� con lợn, dẫu to như con voi, dữ như con cọp, đẹp như con c�ng, bay bổng như con diều, cũng gọi l� � con � m� kh�ng gọi l� � thằng � ; duy con người gọi l� � thằng �. Thế th� đ� gọi l� thằng người, phải c� một c�i hơn con vật. Hoặc l� c�i đức hay, hoặc l� c�i việc hay, hoặc c�u n�i hay. Nếu kh�ng c� g� cả, m� chỉ từ l�c biết ăn cơm, mỗi năm mỗi lớn l�n ; lấy một, hai vợ ; đẻ ba, bốn con ; sống năm, s�u, bảy mươi tuổi, rồi chết, th� nghĩ hơn con lợn kia bao nhi�(20).

Đ�y l� l� do khiến thi�n t�i Tản Đ� bỏ trọn một đời cơ cực, ngh�o đ�i, chua ch�t, d�ng thi ca v� ng�i b�t tuy�n n�i c�i đức hay, ph� c�i việc hay v� ca những c�u n�i hay.

Đức của Tản Đ� kh�ng giản đơn như thứ đức của lu�n l� hủ nho, của thuyết ph�p, của kinh viện. Đức l� sự lật đảo thường trực mọi trạng th�i nh�n sinh đ� bị hủ h�a v� th�i quen, v� bạo ngược, v� b�c lột, cướp giựt, v� vong t�nh. Đức l� ph� vỡ lối nh�n m�u thuẫn của từng cặp tứ c�(21) tả-hữu, kh�ng-c�, thiện-�c, v�n v�n. Đức l� dấn th�n với sự cộng nghiệp tương sinh, chứ kh�ng bằng cưỡng bức hay s�ch động. Đức l� h�nh động. H�nh động to�n diện trong c�i nh�n, trong c�i suy, trong hiện thực. Phong tr�o �u hải tự tr�ng dương vạn l� ập tr�n v�o cửa bể Thuận An. C�i ch�nh thể cổ xưa đ� pha m�u văn minh mới mẻ, m� th�n thể của sĩ phu Việt Nam cũng từ trong c�c khu�n khổ kinh Th�nh truyện Hiền mở cạnh g�c rộng toang đường xử thế ! Đời c� d�ng ta hay kh�ng, chỗ đ� kh�ng cần kể ; nếu thật quả m�nh c� t�i, c� đức, th� tự ta kiếm lấy phương c�ch m� kinh lu�n c�ng việc trong thi�n hạ. Can chi m� � độc h�nh � ? Can chi m� �độc thiện� ? Can chi m� �ẩn� ? Can chi m� �t�ng� ? Nếu m� �t�ng� m� �ẩn chỉ l� tự m�nh kh�ng c� t�i ; �độc thiện� �độc h�nh� cũng chỉ l� kh�ng c� đạo đức chi chi vậy(22).

Một c�u n�i lật ngược tất cả thống hệ ch�nh trị v� h�nh động của nền văn học Trung-quốc. Luận ngữ của Mạnh tử với ngữ phong Trung-hoa �thi�n hạ hữu đạo tắc hiện, v� đạo tắc ẩn� (thi�n hạ c� đạo th� m�nh dấn th�n, thi�n hạ kh�ng đạo th� m�nh ẩn n�u) sang tới Tản Đ� biến ra thần tr� linh hoạt v� thực tiễn Việt Nam �Thi�n hạ hữu đạo tắc hiện, v� đạo tắc hiện� (Thi�n hạ c� đạo m�nh dấn th�n, thi�n hạ kh�ng đạo m�nh cũng liều m�nh h�nh động).

Tinh thần s�ng tạo v� tự cường cao, l�m nứt vỡ những vỏ k�n � l�, mệt mỏi của nền văn h�a ngoại lai n� dịch. Tản Đ� đ� ti�n liệu đ� cao v�t của tộc Việt, ch�ng ta phải đặt m�nh sống v�o buổi t�n tạ, nguy khiếp của qu� hương trong những ng�y đầu thế kỷ XX, th� mới ch�n nhận sự h�ng tr�ng của một thi�n t�i, trong khi biết bao kẻ kh�c chưa tới buổi dậy th�. Cứ � t�i nghĩ ra th� nước An-nam ta sau n�y, c� một ng�y bước rộng bay cao, xem với c�c nước Th�i T�y chưa biết sao, cứ như ở phương � đ�ng ta đ�y. Th� c� lẽ kh�ng nhường nước Nhật vậy(23).

Ng�y nay nước Nhật đứng v�o h�ng ti�n tiến, ngang với Th�i T�y rồi. Tuổi trẻ Việt Nam phải l�m g� đ�y trước sự ph� sản của một T�y phương hung bạo, v� khỏi phụ l�ng người đ� khuất ?

Thời vong n� đầu thế kỷ, thời Tản Đ� buồn gọi d�n hai nhăm triệu ai người lớn / đất bốn ngh�n năm vẫn trẻ con(24), thời m� một lũ quan lại, tướng t� c�i q�y thần tiền(25) v� bọn da trắng ; thời của con quốc v� con chẫu chuộc nơi phong cảnh kh�ng kh�c, t�nh kh�c xa(26). Thời đ� đ� chấm dứt chưa ? V� ch�ng ta c�n ng�m hay đ� qu�n hai c�u �i L� Trần L� đ�u mất cả / m� thấy hươu nai đủng đỉnh chơi(27).

TỘI �C NG�Y NAY KH�NG G� LỚN HƠN LỢI DỤNG SỰ �I QUỐC(28), 71 năm tr�i qua, mặt nạ c� thay m� người kh�ng đổi. C�u �Tội �c ng�y nay kh�ng g� lớn hơn lợi dụng sự �i quốc� l� c�u thứ 26 trong tập Nh�n tưởng. Nh�n tưởng kh�ng phải l� tư tưởng l�c nh�n cư, m� l� tưởng tới c�i nh�n của con người bất khuất chỉ biết nh�n trong mưu Sự. Nếu thanh ni�n ng�y nay chịu sống bằng m�u, bằng n�o với c�u nh�n tưởng thứ 26 nầy, tất tuổi trẻ Việt Nam sẽ dựng dậy sức mạnh kinh hồn bị phung ph� xưa nay để lột hết mặt nạ của bọn l�nh tụ hoạt đầu, lột hết cấp hiệu của bọn anh h�ng du thực, lột hết �o quần của bọn thầy tu giả hiệu đang m�-thư tuổi trẻ bằng lời dỗ d�nh ngon ngọt, bằng hoa hồng v� gai độc.

�������� Ai l�m Nam Bắc ph�n kỳ

X�t xa h�ng lệ đầm đ�a tấm thương(29)

Tản Đ� hỏi tuổi trẻ Việt Nam như vậy. Hẳn nhi�n, ch�ng ta biết ai l� bọn lợi dụng sự �i quốc. Bọn lợi dụng sự �i quốc đang gieo tội �c khắp non s�ng v� thế giới, v� ch�ng kh�ng c� qu� hương, ch�ng bị vong t�nh to�n bộ, qu� hương ch�ng được ch�ng đem đặt giữa l�ng c�c thủ đ� thần tiền v� thần chủ nghĩa. Sự vạch mặt chỉ t�n h�ng tr�ng nhất l� vạch mặt chỉ t�n niềm vong t�nh đang h�m v�y t�m thức Việt Nam giữa v�ng tay bạch tuộc. Muốn sửa b�ng phải chỉnh h�nh. Văn h�a tuy cần cơm ăn �o mặc. Nhưng �o cơm th�i kh�ng l�m n�n căn nguy�n văn h�a.

Căn nguy�n văn h�a Việt Nam l� g� ?

Đ�y kh�ng l� c�u hỏi. Đ�y l� sự sống c�n. Con người Việt Nam phải được sống, phải sống th� mới l�m căn nguy�n cho văn h�a Việt Nam. Sống kh�ng m� l�a. Mọi lời giải đứng ngo�i sự tồn sinh chỉ l� l� luận ngoại nhập ph� sản. Sống từ Việt m� ra kh�c với tranh đấu cho Việt Nam sống c�n. Bởi mệnh đề thứ hai đẻ ra h�ng loạt kh�i niệm về Việt, v� đương nhi�n những kh�i niệm nầy đ�nh giặc với nhau trước khi cứu viện hay giải nguy cho Việt Nam sống c�n. Sống từ Việt Nam m� ra l� cuộc trường kỳ chuyển h�a với c�ng lao tương dự của một khối người đ� l�a xa nỗi vong t�nh. Người c� mặt tr�n qu� hương kh�ng c�n d� dẫm t�m hỏi ngưới khuất mặt. V� kẻ ở xa đ� chờ im nơi t�m khảm của mọi trung t�m. Vạn Hạnh, L� Th�i Tổ, Hai B� Trưng, Ng� Quyền, Trần Hưng Đạo, Kh�ng Lộ, Hương Hải, L�n �ng, L� Thường Kiệt, Nguyễn Tr�i, Quang Trung� đều tập hợp về l�m l�nh trơn dưới Ngọn Cờ của Tuổi Trẻ Việt Nam H�m Nay. H�m nay đang ở đ�u ? Bao giờ mới xuất hiện ? Ch�nh l� mối lo của Nguyễn Tr�i.

L�c Tản Đ� gặp Nguyễn Tr�i ở trang 118 nơi Giấc Mộng Con, �ng thấy Nguyễn Tr�i vẻ mặt thật l� buồn rầu m� � trầm tư lắm lắm, n�n �ng vụt miệng nhắc việc Thị Lộ(30). �Kh�ng ngờ Tản Đ� cũng giẫm phải th�i thường của kẻ thế gian sợ Dục(31) n�n sinh l�ng diệt �i, lu�n canh c�nh việc tội lỗi nhị nguy�n. Biết Tản Đ� mắc nạn hoa đ�n, Nguyễn Tr�i b�n khai thị : C�i cảm gi�c của người đọc sử thế n�o, th� t�i kh�ng biết ; c�n như t�i m� buồn, kh�ng phải l� buồn về sự dĩ v�ng của t�i, m� chỉ buồn về vận hội sau n�y của nước nh�(32).

Ấy chỉ v� l� bởi thế gian chưa c� ph�p c�n, đo, lường v� h�nh, cho n�n chưa lấy g� chuẩn định c�i phải để trỏ cho người ta c�i c�ch ở đời vậy(33).

Ch�a kh�a mới r�n xong : ph�p c�n, đo, lường V� H�NH để trỏ cho người ta C�I C�CH Ở ĐỜI, C�I C�CH SỐNG.

Sau n�y Tản Đ� c� trước t�c g� đi nữa, cũng chỉ nhắm trỏ đầy nắng v�o tuyết băng l�m tan đi cảnh gi� r�t ti�u sơ. Thần tr� Tản Đ� đ� đặt cả v�o C�I C�CH SỐNG ĐỜI Đ�. Kh�ng sống đời như vậy, c�n chi l� niềm tự h�o d�n tộc, c�n chi l� t�nh thể uy�n nguy�n triều lộng ? Kh�ng sống đời như vậy, n�o kh�c chi đứa con thơ kia

Bồng bế con thơ b�n khắp nơi

-         Năm h�o một đứa trẻ l�n s�u

Cha c�n sống đ�, con mồ c�i(34)

Cha c�n sống đ� con mồ c�i. Nỗi niềm bi thiết của sự vong t�nh. L�m li�n tưởng tới mu�n ngh�n h�nh ảnh nhan nhản kh�c trong x� hội với bao thảm cảnh chia x� cuộc đời : N�i rừng đ�, đất nước mất ; Ch�nh quyền c�ng giống, d�n lầm than ; T�nh trong kinh s�ch, duy người khổ ; Tư tưởng th�m s�u, đời sống cạn�

Niềm vong t�nh ở đ�u, ở đ� :

Sự ch�nh trị tiến h�a bao nhi�u, sự tham nhũng cũng tiến h�a bấy nhi�u ; sự ph�p luật tiến h�a bao nhi�u, sự trộm cướp cũng tiến h�a bấy nhi�u ; sự văn học tiến h�a bao nhi�u, sự xỏ xi�n cũng tiến h�a bấy nhi�u ; sự vệ sinh tiến h�a bao nhi�u, sự giết người cũng tiến h�a bấy nhi�u ; sự lễ nghi tiến h�a bao nhi�u, sự t�n bội cũng tiến h�a bấy nhi�u ; sự c�ng nghệ tiến h�a bao nhi�u, sự giả dối cũng tiến h�a bấy nhi�u ; sự thương mại tiến h�a bao nhi�u, sự lừa đảo cũng tiến h�a bấy nhi�u ; sự n�ng tang tiến h�a bao nhi�u, th� sự d�m đảng cũng tiến h�a bấy nhi�u(35).

Thật qu� dễ để điểm chỉ v� quy tội cho một chế độ, một giai cấp hầu mong lật nh�o to�n diện, khi chưa giải quyết xong sự vong t�nh l� mầm nụ r�u cỏ trong mỗi con người thời đại, trong mỗi lớp lang chủ nghĩa, trong mọi th�nh � t�n gi�o.

Lạ. Ch�ng ta n�i nhiều tới d�n tộc t�nh, tới tư tưởng Việt Nam. Nhưng mỗi bận như thế ch�ng ta đều phải cứu cầu v�o một tựa điểm ngoại lai, như c�o ngồi đầu cọp. Ch�ng ta qu�n im những hồn linh tư tưởng như Tản Đ� l� một.

Những ph�t ng�n Tản Đ� thể hiện qua C�i Đời Mới mang uy lực của ngọn s�ng thần, của ngọn gi�o thọc v�o mặt trống v� nh�n v� vong t�nh của x� hội ng�y nay. C�i Đời Mới trong Giấc Mộng Con của Tản Đ� kh�ng chỉ l� niềm ước mơ kh�ng tưởng của Thomas More nơi đảo Utopia, hay của Tommazo Campanella tr�n Civitas Solis. C�i Đời Mới mang ngữ ng�n tố c�o v� ph� ph�n hiện trạng c� thực, khuyến thỉnh từ khước v� lập t�m x�y dựng, m� chữ thời thượng gọi l� l�m c�ch mạng. �Thực ra, một số cảnh v� dữ kiện trong C�i Đời Mới l� sinh hoạt hiện nay trong c�c Kiboutz ở Do Th�i.

Tuy nhi�n, chớ đ�i hỏi qu� nhiều ở một thi h�o như Tản Đ�. Người thi sĩ d�ng trực gi�c b�n nhạy thọc v�o thực tại, đối mặt c�ng thực tiễn v� chuyển h�a linh động d�ng sống thương đau của kiếp người. Trực gi�c khai thị v� ti�n tri, cần c� sự tiếp tay của �người t�nh nh�n kh�ng quen biết hay c� quen biết�, của �người tri kỷ�, người �đồng ch�.

Bản th�n h�nh động, việc nhỏ việc lớn Tản Đ� đều trung thực với sinh phong chuyển h�a liễu đầy thi t�nh. Tr�n phương diện văn học m� n�i, th� ba c�y số người đưa linh cữu về nơi an nghỉ, với h�ng tr�ng b�i viết của bao nhi�u nh� văn thuộc mọi giai tầng, thế hệ, khuynh hướng, trường ph�i, đủ chứng thực cương vị đầu đ�n văn học của Tản Đ�.

�Ảnh hưởng trong � văn hay s�ng t�c, ch�ng ta chỉ cần đọc kỹ cảnh một c� g�i 13 với c�nh tay trắng n�n h�i hoa đ�o trong hai tr�ng mắt thơ ng�y của Tản Đ� thơ ấu, hay cảnh ki�u bạc của người lữ kh�ch ra ga H�ng Cỏ m� Tản Đ� viết trong tự truyện buổi đầu Thế chiến, ch�ng ta sẽ nhận ra uy lực k�o theo h�ng loạt nh�n vật mang c�ng t�nh cảm, � nhị, d�ng v�c, khu�n thước trong gần như to�n bộ c�c t�c phẩm của giới văn thi sĩ lớp sau như Thế Lữ, Xu�n Diệu, Nguyễn Tu�n, Nguyễn C�ng Hoan, T� Mỡ, Ho�i Thanh, Lưu Trọng Lư, v�n v�n. Nhận x�t n�y khiến ta phải mở mắt nh�n lại khu�n mặt quắc thước, x�n lạn đ�.

Chỗ kh�c nhau giữa Tản Đ� v� một số lớn những người l�m văn nghệ lớp sau l� sự kh�c nhau giữa sự l�ng mạn tr�n đầy thi t�nh v� sự l�ng mạn yếu h�n vọng ngoại. Trong khi những thần tr� ưu t� nhất của T�y phương, sau cơn ch�m giết kinh ho�ng h�ng trăm triệu người qua hai thế chiến, quay về phương Đ�ng cầu cứu, th� một đo�n lớp văn nghệ sĩ Việt Nam lấp Nguồn, ph� M�i Nh� Xưa, b�n đứng Qu� hương như b�n đứng mỏ dầu hỏa, hoặc dang rộng v�ng tay đ�n nền văn minh kỹ thuật t�n ph� kh�ng hồn. Ai đ�y ra g�nh đỡ một vai cho Tản Đ�, nh� thi h�o ưu t�, kỳ vĩ của tộc Việt, hiện đang chắc lưỡi tự th�n

Sự nghiệp ngh�n thu xa v�t mắt

T�i t�nh một g�nh nặng b�n vai(36)

* * *

B�y giờ t�i hiểu v� sao khi đi thăm mộ Rilke tại một l�ng nhỏ b�n Thụy sĩ t�i lại nhớ tới Tản Đ�. V� khi t�i viết ở mặt sau tấm bưu thiệp của Rilke mấy chữ cảm ho�i

Kinh ho�ng

��� Hoa nở

�� ����Mắt th�u đ�m

t�i lại đề gửi cho T�NH Y�U v� địa chỉ l� Thế giới. Trạm bưu điện nhỏ hỏi t�i Thế giới ở đ�u, t�i n�i vội rồi đi nhanh ra cửa lấy xe : Một tỉnh nhỏ của � ch�u.

Dường như khi đang viết mấy chữ cảm kh�i tr�n, t�i nghe tiếng Tản Đ� ng�m nhỏ

Em về anh nắm lấy tay

Anh dặn c�u n�y em chớ c� qu�n

Con s�ng đ� nặng lời nguyền

Đừng non tay l�i cho thuyền lật ngang(37)

 

Viết để tặng anh Qu�ch Tấn

Thi Vũ

Raron-Sierre-Paris

9-11.3.1971

----------------

1.Buddha in der Glorie, RM Rilke, Der Ausgew�hlten Gedicht, Anderer Teil, trang 72, Insel Verlag

� 2. Giấc mộng lớn, Tản Đ�, H� Nội 1932

� 3. Thơ tự vịnh, Tản Đ� Vận Văn, Hương Sơn, H� Nội 1939

� 4. Đ�m tối, Tản Đ� Vận Văn, Hương Sơn, H� Nội 1939

� 5. Đ�m tối, s�ch đ� dẫn (sđd)

� 6. Ngục trung thư, Phan Bội Ch�u

� 7. Viếng Đinh C�ng Tr�ng, Tản Đ� Vận Văn, Hương Sơn, H� Nội 1939

� 8. Kh�ch giang hồ, Tản Đ� Vận Văn, Hương Sơn, H� Nội 1939

� 9. Giấc mộng lớn, Tản Đ� tự truyện, H� Nội 1932, trang 137

� 10. Thư tr�ch người t�nh nh�n kh�ng quen biết, Tản Đ� Vận Văn, Hương Sơn, H� Nội 1939

� 11. V� đề, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 12. Thư lại tr�ch người t�nh nh�n kh�ng quen biết, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 13. Bản dịch của Nguyễn Thiện Kế

� 14Giấc mộng lớn, sđd, trang 24

� 15. Giấc mộng lớn, sđd

� 16. Giấc mộng lớn, sđd

� 17. Thề Non nước, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 18. Giấc mộng lớn, sđd, trang 26

� 19. Lưu Nguyễn nhập Thi�n Thai, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 20. Tản Đ� Vận Văn, trang 109, Hương Sơn, H� Nội 1942

� 21. Xem Đại tr� độ luận củaLong Thọ (Mahāpraj�āpāramitāsastra, Nāgājuna), hoặc Prasannapadā Madyamakavriti của Kandrakirti

� 22. C�c sĩ phu về b�n H�n học trong nước ta buổi n�y n�n như sao đối với thời cục � An-nam tạp ch�, số 25

� 23. Tiền đồ của nước An-nam ta v� những đức t�nh, t�nh c�ch của quốc d�n ta đối với tiền đồ cần phải c� trong thời kỳ hiện đại � An-nam tạp ch�, số 1,1930

� 24. Gửi người tri �m, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 25. Thần tiền, tiểu thuyết, Tản Đ�, H� Nội 1921

� 26. Con quốc v� con chẫu chuộc, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 27. Chơi trại h�ng hoa, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 28. Nh�n tưởng, c�u thứ 26, Nghị luận, Hương Sơn, H� Nội 1924

� 29. Phong thi, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 30. Giấc mộng con, tiểu thuyết, trang 118, H� Nội 1917

� 31. T�m về Henry Miller để đọc C�ng �n của thế kỷ XX, Tiếng K�u Trầm Thống Trước Sự T�n Ph� Con Người, V� Văn �i, trang 481, L� Bối, Saigon 1968

� 32. Giấc mộng con, sđd, trang 119

� 33. Tản Đ� Vận Văn, sđd, trang 66-67

� 34. Khuy�n người gi�p d�n lụt, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 35. C�i đời mới, Giấc mộng con, sđd, tr.66-67

� 36. Năm hết hữu cảm, Tản Đ� Vận Văn, sđd

� 37. Tản Đ� Vận Văn, sđd

 

����������������������� http://www.gio-o.com/ThiVu.html

 

����������������������� � gio-o.com 2010