Thi Vũ

 

Ng�y Xu�n

đọc thơ Thiền

 

 

Thực ra kh�ng c� một d�ng thơ ri�ng biệt gọi l� thơ Thiền. Nhưng c� thể khẳng định b�i thơ n�o k�u gọi tới chữ thiền, sử dụng từ thiền sư đều kh�ng phải thơ thiền, ngo�i sự cố c�ng buột kết, tấn phong.

 

Xưa nay người ta thường liệt c�c b�i thơ do c�c vị sư trước t�c l� thơ thiền. Sư được hiểu như c�c nh� tu Phật gi�o, cạo đầu, mặc �o gi�, xa l�nh trần tục bon chen. Theo hướng đ�, thơ thiền nhan nhản c�c h�nh ảnh đơn điệu của tr�c, suối, b�ng s�ng tinh kh�i, chim hạc bay t� t� nơi c�i xuất thế gian. Tạo h�m oan cho thơ thiền.

 

Từ 1963 lại đ�y, c� lớp người quay sang l�m thơ thiền. Họ để t�c, mặc �o veste, quần jean. Thiền kh�ng xuất thế nữa. Thiền nhập thế. Nhập v�o qu�n rượu, la c� từ hộp đ�m n�y tới qu�n c�c kia. Nhậu la de, lăn lộn tr�n th�n thể đ�n b�. Quằn quại bằng tư duy trong cuộc sống kh� an nh�n, sung m�n. Nếu c�n mang h�nh th�i sư, th� sư biết đ�nh đ�n piano, cắm hoa hồng, vung tay viết chữ thảo hay tương tư em. Từ đ� họ r�t xuống những b�i thơ khi khinh bạc, khi cao cả, oai phong, khi l�ng mạn anh em� - �nhưng rất thiền. Người l�m thơ ốp b�ng v�o h�nh ảnh thời thượng thiền sư. Kh�c chi những năm 1940, người l�m thơ l� tr�ng sĩ. Những năm x� hội chủ nghĩa, người l�m thơ l� liệt sĩ, vi�n chức bộ c�ng an, nếu kh�ng l� c�ng nh�n nấu th�p (Nay ở trong thơ n�n c� th�p � �B�c�). Th�m một h�m oan kh�c. Cho thơ thiền.

 

Thực ra kh�ng c� d�ng thơ ri�ng biệt n�o gọi l� thơ Thiền. Chỉ c� những tấm l�ng thiền đọc thơ. Cho n�n phải c� một tấm l�ng thiền, thơ thiền mới xuất hiện.

 

Thiền l� sự ph� vỡ u t�m t� ngục, chung h�a v�o thực tại đời sống vốn si�u việt hết thảy � niệm v� danh từ[1]. Đặc t�nh của thiền l� th�ch hợp, đặc sắc của thiền l� linh hoạt. Chấm dứt th�c loạn trong � nghĩ, trong t�m tưởng v� ng�n ngữ, thơ thiền tu�n như khe suối m�t giữa l� rừng v� chiều nắng, như lời n�i �n tồn giữa chợ b�a tranh đua. Ph� mở mọi xiềng x�ch : tự do v� hạn ch�nh l� thiền. C�i � t�i � vỡ ra, căng l�n th�nh thế giới diệu hữu, th�nh khoảng kh�ng lồng lộng vũ trụ. C�i � t�i � d�i th�nh trăm tay sờ m� những tương quan n� với c�i kh�c, kẻ kh�c. Li�n hệ tương duy�n lập th�nh hợp thể vui h�a, an lạc. Ở đ�, n� tự do.

 

Thiếu hiểu biết căn bản về l� sống đạo Phật v� thiền, c�i nh�n bị m�o lệch, ph�n đ�i th�nh xuất thế v� nhập thế khi đ�nh gi� c�c b�i thơ tự gọi l� thơ thiền. Thực tại vốn kh�ng ph�n hai. Bị ph�n hai v� � niệm đ�nh gi�. N�n c�i-ta-nghĩ với c�i-ta-được-cảm-nhận kh�c nhau dị kỳ, ly l�a thực tại tối hậu. Một h�m T� Đ�ng Pha, thi h�o đời Tống, đọc hai c�u thơ của Vương An Thạch :

 

�������� Minh nguyệt đương kh�ng khiếu

Ho�ng khuyển ngọa hoa t�m

nghĩa l� :

Minh Nguyệt k�u giữa trời

Ho�ng khuyển nằm trong hoa

 

T� Đ�ng Pha thấy hay v� h�nh ảnh v� �m điệu, nhưng cho l� chối nghĩa b�n sửa lại :

 

Minh Nguyệt đương kh�ng chiếu

Ho�ng khuyển ngọa hoa �m

nghĩa l� :

Trăng s�ng soi giữa trời

Ch� v�ng dưới b�ng hoa

 

Thơ vẫn hay nhưng thường, kh�ng độc đ�o. Vương An Thạch bực nhưng kh�ng n�i. Vương ph�i T� Đ�ng Pha, l� quan đại phu, đi sứ Ho�ng Ch�u. Tới nơi, T� mới biết ở đ�y c� lo�i chim chỉ h�t khi trăng l�n, v� một lo�i s�u ưa nằm giữa l�ng hoa. Người địa phương gọi l� chim minh nguyệt v� s�u ho�ng khuyển.

 

Sau b�i học r�t từ thực tại kh�ng hai ấy, T� Đ�ng Pha bẻ g�y sợi x�ch xiềng cố t�n v� ngu muội. �ng phơi phới sống c�i thơ tuyệt diễm. C�i thơ ấy cũng l� cuộc đời �ng sống. Phơi phới v� phi�u nhi�n. Phải chăng cuộc sống mới đ� lộ r� v�o b�i thơ L� sơn của �ng ? Thơ man m�c như nhi�n, th�m trầm � vị của kẻ đ� chứng v� đ� ngộ :

 

�������� L� sơn y�n tỏa Chiết giang triều

�������� Vị đ�o sanh b�nh hận bất ti�u

Đ�o đắc ho�n lai v� biệt sự

L� sơn y�n tỏa Chiết giang triều

Tr�c Thi�n dịch :

Kh�i ng�t non L� s�ng Chiết giang

Khi chưa đến đ� luống mơ m�ng

Đến rồi h�a vẫn kh�ng g� kh�c

Kh�i ng�t non L� s�ng Chiết giang

 

B�i thơ bốn c�u, m� hai c�u đ� lập lại nơi c�u mở đầu v� c�u kết : L� sơn y�n tỏa Chiết giang triều. Tuy lập ngữ nhưng kh�ng lập �. Bởi chưng con người ở c�u một kh�c với con người ở c�u bốn qua qu� tr�nh thực chứng. Con người hạ sinh nơi c�u một h�a sinh sang c�u bốn th�nh niềm thong dong, phiếu diễu, chủ ngự c�i ph� sinh. N�i kh�ng c�n danh thốt l�n khi mắt va chạm tảng đất sững dựng che trời. N�i lột k�o tấm m�n che mắt. Mắt thấy điều trước kia m�nh chỉ biết nh�n. Hơn thế, n�i cũng biết nh�n bằng hiện hữu m�nh tr�n b�nh nguy�n trải h�t c�i nh�n sinh ra tới những tinh h�.

 

Giảng b�i thơ T� Đ�ng Pha tưởng kh�ng g� bằng lời tự thuật của sư Thanh Nguy�n Duy T�n viết trong Truyền đăng lục, quyển 22 : �S�i t�i ba mươi năm trước khi chưa học Thiền, thấy n�i l� n�i, thấy nước l� nước. Sau nh�n theo học bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ v�o, n�n thấy n�i chẳng phải n�i, thấy nước chẳng phải nước. Rồi nay thể nhập chốn y�n vui tịch tĩnh, thấy n�i chỉ l� n�i, thấy nước chỉ l� nước�. C�ng một sự vật, nhưng qua ba t�m cảnh đi từ m� muội, gi�c h�a đến gi�c ngộ n�n c�i b�ng của sự vật được hiển lộ th�nh h�nh sự vật.

 

Tưởng như lẩm cẩm, nhưng l� diễn tr�nh chặng đường tri thức hay đạo t�m phải trải qua hầu gạt bỏ cuộc đời người ngợm. Mọi vĩ nh�n tr�n mặt đất đều t�i luyện, thăng hoa cuộc đời như thế. Khổng Tử từng t�m sự : �Ta mười lăm tuổi để ch� v�o sự học, ba mươi tuổi th� trụ vững, bốn mươi th� hết ngờ, năm mươi biết mạng trời, s�u mươi nghe thuận tai, bảy mươi th� t�y l�ng muốn m� vẫn kh�ng ra ngo�i ph�p tắc�.

 

Qu� tr�nh chứng ngộ cần 70 năm để đạt c�i t�m thiền. Nhưng 70 l� con số. Kh�ng phải khu�n ph�p cố định. C� người sống trăm năm vẫn như con đỉa trong dĩa m�u. C� người v�i mươi tuổi đ� c� thể �t�y l�ng muốn m� vẫn kh�ng ra ngo�i ph�p tắc� vũ trụ. Bay như diều tr�n gi�. Lội như hạt nước giữa l�ng s�ng.

 

Đời l�m chi c� hai chuyện xuất thế, nhập thế ? Xuất về đ�u ? Nhập v�o đ�u ? Sự sống �m ỉ, cường tr�ng, dữ dội, cuốn ch�m hay n�ng đỡ những tế b�o nh�n sinh. Cuốn ch�m những tuổi mười lăm (d� đ� bảy mươi) k�nh kiệu, th�c loạn, m� muội. Hoặc n�ng đỡ những tuổi bảy-mươi-phi-thời an nhi�n tr�n chốn gập ghềnh.

 

Xuất thế c� chăng chỉ l� tho�t ly khỏi thế giới th�c loạn, tranh chấp, vị kỷ, m� muội, vong th�n. Xuất như thế l� đ� h�o h�ng, trang nghi�m nhập thế. N�n kẻ mang t�m thiền kh�ng xuất, kh�ng nhập, chẳng bận t�m sinh tử. Nh� sư tr�ng sĩ c� t�m thiền đời Trần l� Tuệ Trung Thượng sĩ trả lời bằng thơ khi c� người hỏi lẽ sống chết :

 

�������� Trường kh�ng t�ng sử song phi cố

�������� Cự hải h� phong nhứt điểm �u

Th�ch Mật Thể dịch :

�������� Ngại g� bọt nước s�i ngo�i bể

�������� Phỏng c� v�nh xe liệng giữa trời

 

H�nh ảnh, tứ thơ bạo v� mới, vừa si�u thực vừa hiện thực. Vừa tỉ giảo, vừa nhận thức bằng thi t�nh. Sống chết kh�ng quan ngại, th� thịnh suy trong đời tỉ như kẻ l�m vườn h�i tr�i ch�n, tr�i ung. Chẳng �y n�y n�n thảnh thơi giữa chốn ba đ�o :

 

�������� Th�n như điện ảnh hữu ho�n v�

�������� Vạn mộc xu�n vinh thu hựu kh�

�������� Nhậm vận thịnh suy v� bố �y

�������� Thịnh suy như lộ thảo đầu ph�

������������������������������� Vạn Hạnh (thời L�)

nghĩa l� :

�������� Th�n như b�ng chớp, c� rồi kh�ng

�������� Tới xu�n c�y trổ, sang thu rụng hồng

�������� Nh�c tr�ng suy thịnh, l�ng kh�ng sợ

�������� Đầu c�nh, suy thịnh giọt như sương

 

Nh�n v� đ� thấy. Chất thơ ng�o trộn tư duy. Cảnh thơ th�nh l� sống. B�i thơ th�nh m�n qu� truyền t�m. Mi�u tả th�n x�c như �nh, như chớp, mong manh tho�ng hiện nhưng m�nh liệt trường tồn. Giữ lại g� nơi đ�i mắt ng� v�o kh�ng gian thăm thẳm mịt m� ? Nếu kh�ng l� n�t sấm chớp rạng ngời nơi nh�m nh�u khắc gi�y khiến thẫn thờ trời đất ? Mong manh m� trường cửu. C� đ� rồi kh�ng đ�. Kh�ng chẳng mang nghĩa hết, dứt. Kh�ng c�i vừa c� cho c�i c� được trọn vẹn trong c�i kh�ng-ti�u-t�n. Như cỏ c�y mướt lục v�o xu�n, d� đ�, hay sẽ, h�o kh� nơi chặng đường thu chớm. Những c�i c�, kh�ng, thịnh, suy, kh�c chi ngọn cỏ ch�m c�y nơi tr� trốn bắt giữa hai mốc thu xu�n ? L�ng kh�ng sợ h�i trước mọi bạo t�n, phụ bạc. Khi biết v�ng tr�n hương rực lửa quay trong đ�m chỉ từ một đ�m hương l�c tay quay ngừng lại. Sương cứ rơi đều đầu ngọn cỏ mỗi s�ng, d� thất t�nh ta buồn hay vui. Ngở sương mất đi trong l�ng đất, ai ngờ đ� cất tự trời cao chờ rơi khi đ�m tới.

 

Thơ d�ng nhạc để chuyển lời. D�ng vần l�m d�y xuy�n. D�ng h�nh ảnh bắt mắt. D�ng t�nh cảm n�u t�nh. Thơ vẽ h�nh bắt b�ng. T�c dựng suy tư l�m xương sống cho h�nh h�i. Thơ vạch đường chỉ nẻo. Thơ nắn nụ cười phơi phới tr�n m�i ng�n ngữ.

 

Người c� t�m thiền l�m thơ l� sống c�i tự do trước những điều bức tử. Kh�ng r�ng động trước thịnh suy, sinh tử. Bởi vậy bệnh hoạn khuấy phiền th�n x�c kia chẳng khiến l�ng trăn trở, �u lo. Nh� thơ thiền M�n Gi�c đời L� c� b�i thơ nhắn gửi mọi người nh�n l�m bệnh �- C�o tật thị ch�ng. B�i n�y nhiều người thuộc v� thường được nhắc nhở, duy �t người ch� � mối vận h�nh � tứ :

 

�������� Xu�n khứ b�ch hoa lạc

�������� Xu�n đ�o b�ch hoa khai

�������� Sự trục nh�n tiền qu�

�������� L�o t�ng đầu thượng lai

�������� Mạc vị xu�n t�n hoa lạc tận

�������� Đ�nh tiền tạc dạ nhất chi mai

Ng� Tất Tố dịch :

�������� Xu�n trỗi trăm hoa rụng

�������� Xu�n tới trăm hoa cười

�������� Trước mắt việc đi m�i

�������� Tr�n đầu gi� đến rồi

�������� Đừng tưởng xu�n t�n hoa rụng hết

�������� Đ�m qua s�n trước một c�nh mai

 

Người đọc thường khen t�nh t�ch cực v� lạc quan b�i thơ của người nhuốm bệnh. Thế nhưng thơ đ�u l� bản b�o c�o, tr�nh b�y quan điểm, lập trường ? Thơ kh�ng l� sự n�i lại. Thơ l� sức sống bung từ người. Nh�n việc m�nh đau m� b�o với mọi người �- C�o tật thị chứng -� nhưng thơ kh�ng rơi v�o thể thuật ho�i biểu diễn c�i ta rất chi trọng thể. Tuy vẫn l� c�i ta khi � thức c�n trong trạng th�i vong thức. Tả xu�n v� hoa, nhưng kh�ng l� thơ sơn thủy nhắm ri�ng việc tả cảnh. Xu�n v� hoa ở đ�y l� bước đi của thời gian trong kh�ng gian. Việc đời v� người tả ở đ�y l� x� dịch viễn h�nh của v� thường� - c�i kh�ng cố định. B�i thơ chấm dứt bằng nhận định l�m con người thảng thốt trước mỗi đoạn trường : c�i m�nh nh�n kh�ng l� c�i thấy. D� c�i thấy vẫn ở đ�, như đ�a mai kia nở sớm hay nở muộn nơi chốn chẳng hề chờ.

 

Suốt b�i thơ s�u c�u, nhịp h�a th�n tăng trưởng vốn tr� tuệ, từ thung lũng thường tục l�n ngọn đỉnh rạng ngời. Thơ đưa nhạc v� t�nh về với tr� tuệ. Thơ tho�t ly cảnh sống dung tục, hiển m�nh v�o thực tại tối hậu, ở đ� người bật m�nh sống dậy. Hết thụy mi�n. Hết mớ gọi. Th�i biệt ly.

 

Xu�n khứ b�ch hoa lạc l� nếp đi của một thực tại thấy m� qua b�ng ảnh dung tục. L�ng ta c� buồn thương chăng ? Xu�n đ�o b�ch hoa khai l� c�i đến của m�a m�ng nơi thực tại trầm lu�n. L�ng ta c� vui rộn l�n chăng ? Buồn hay vui ch�ng ta đều bị giới hạn trong kh�ng gian như một thực tại v� thường. � nghĩa của Sự trục nh�n tiền qu�. Việc đời tho�ng qua với bao điều bất như �, ở đ� thời gian chẳng để ta y�n. Thời gian li�n lỉ chất vấn như vị gi�m khảo, rồi đ�nh l�n tr�n ta từng luống nhăn, b�i v�o t�c từng n�t phấn. Gi�, chết chợt hiện ra : L�o t�ng đầu thượng lai.

Ta bi quan, hốt hoảng, ta cay đắng ngậm ng�i ? Bao l� dấu hỏi đẩy ta v�o đời như tống xuống địa ngục, xui ta hạ thủ theo c�ch thế giận đời. Nhưng người thơ c� t�m thiền, như M�n Gi�c, th� kh�ng. �ng đ� c� lời đ�p tựa kh�c hoan ca :

�������� Mạc vị xu�n t�n hoa lạc tận

�������� Đ�nh tiền tạc dạ nhất chi mai !

 

Đừng tưởng xu�n t�n hoa rụng hết. Đ�m qua s�n trước một c�nh mai. Mạc vị xu�n t�n hoa lạc tận l� nếp đi của một thực tại. Thực tại ở đ�y l� thực tại tối hậu. V� Đ�nh tiền tạc dạ nhất chi mai l� c�i đến thực tại, thực tại ở vị tr� uy�n nguy�n. Hết l� thực tại phiến diện nơi c�i trầm lu�n.

 

Đến hay đi đều l� động t�c. Kh�c ở h�nh tr�nh. Đến hay đi tr�n h�nh tr�nh v� minh, m� muội. Hay đến, đi tr�n qu� tr�nh an nhi�n, giải tho�t ? N� lệ, tự do từ đ� hiển ra. Kẻ tự do sống kh�ng m� t�p. Mọi m� t�p đều r�ng buộc. Kẻ tự do sống bằng s�ng tạo. Người n� lệ sống m�n theo khu�n. Hai c�u thơ của nh� thơ c� t�m thiền Quảng Nghi�m ở thế kỷ XII đời L� gợi l�n � đ� :

 

�������� Nam nhi tự hữu xung thi�n kh�

����������������� Hưu hướng Như Lai h�nh xứ h�nh��������������������� ����������� �����������

Ng� Tất Tố dịch :

�������� T�i trai c� ch� x�ng trời thẳm

�������� Dẫm vết Như Lai uổng nhọc m�nh

 

Kh�ng n�n� hiểu theo nghĩa đen thường tục để g�n cho nh� thơ mang tư tưởng ho�i nghi hay phủ nhận đạo Phật hoặc chống b�ng đức Phật� - Như Lai. H�o kh� dũng m�nh kẻ trượng phu kiệt hiệt, người ph� chấp si�u quần mới hiểu � thơ Quảng Nghi�m. C�n y�u đương thần tượng, khu�n ph� đảng kỷ, l� luận theo chỉ thị� kh� nắm bắt sức sống vỡ bờ nơi d�ng thiền v� bi�n phật gi�o : khai ph�ng, s�ng tạo v� như thật.

 

Bao l�u c�n cột d�nh, bấy l�u c�n n� lệ. Ch�n sau theo vết trước d�nh cho việc đi săn hay lo�i cừu. Con đường đ�u phải dấu m�n ? Con đường l� ch�n bước v� đ�ch đến. Mỗi người l�m chuyện m�nh theo c�ch m�nh để giải tho�t m�nh. Ch�nh l� giải tho�t, chứ kh�ng l� c�ch thế. Bởi vậy đ�u cần theo vết Như Lai như trong thơ Quảng Nghi�m. � thơ n�y chống cố t�n, cuồng t�n, gi�o điều, chống tinh thần n� lệ. Vũ kh� ph� chấp của nguy�n l� sống Phật gi�o.

 

Thiền vượt mọi giả danh để sống thực. Mắt quay v�o đ�u sự vật được soi s�ng, t�nh cảm được tr�n �i. Thơ thiền kh�ng chỉ l� kệ truyền ph�p hay d�ng thơ đạo l�. Thơ thiền b�t ng�t lung linh qua mọi sinh hoạt theo tấm l�ng thiền rung cảm.

 

L� Q�y Đ�n đọc thơ Huyền Quang, vị tổ thứ ba của d�ng thiền Tr�c l�m Y�n tử, ph�i thiền thứ ba của Việt Nam, ch� rằng �h�nh như kh�ng phải khẩu kh� của thiền sư� (Thiền dật, Kiến văn tiểu lục). Nh� ph� b�nh L� Tử Tấn, đời L�, đọc c�c b�i Xu�n nhật tức sự của Huyền Quang, Tảo mai, Xu�n cảnh, Nhị nguyệt thập nhất dạ của vua Trần Nh�n T�ng, vị tổ khai s�ng d�ng thiền Việt Nam, Tr�c L�m Y�n tử, cũng ph� b�nh tương tự : Thi tuy giai phi tăng gia ngữ (thơ tuy hay nhưng kh�ng c�n khẩu kh� nh� sư).

 

Sao vậy ? C� lẽ người chưa sống thiền th�ch ph�n biệt. Đọc thơ, hay l�m thơ, họ nhắm v�o đ�ch, v�o l� tưởng, đạo đức, lu�n l� cố hữu l�m chuẩn. Họ kh�ng nh�n sự vật như sự vật trong hiện tiền trước mắt. Đ�i mắt v� t�m tư họ bị nghĩa l� cố định thui chột sức s�ng tạo. C�i thấy bị m� l�c tr�ng nh�n. Kh�ng thấy, họ đem t�m so s�nh n�n ph�n hai thực tại, xa rời v� c�ch ly khỏi thực tại. Ai c� thể chỉ bộ phận n�o đẹp tr�n một Người Đẹp ? Cắt bộ phận ấy ra c�n chăng c�i đẹp ? H�a ra đẹp l� c�i to�n thể tương li�n. Người l�m thơ thiền diễn thơ c�i hiện tại, c�i cảm nhận, c�i thấy. Họ kh�ng dại đem sự kiện nhất thời đang chuyển biến ấy đ�nh gi� hay so s�nh với gi�o l� hầu đưa tới kết luận m� phạm. Đ�y l� chỗ kh�c giữa thơ của người c� t�m thiền với thơ một �ng gi�o học. C�i tho�ng chớp, c�i đang đi, c�i tại thế ấy đ� l� c�i vĩnh hằng trong thơ, kh�ng bắt gặp lại lần hai. Đ�i hỏi hay ước mơ cố t�n chỉ l� ảo gi�c. Đa số c�c nh� Nho xưa v� nh� M�c-x�t nay đều bị tha h�a khi l�m thơ.

 

Ta thử đọc b�i Xu�n nhật tức sự của Huyền Quang m� hai nh� ph� b�nh L� Qu� Đ�n v� L� Tử Tấn ph� ph�n tr�n kia :

 

�������� Nhị b�t giai nh�n th�ch t� tr�

�������� Tử kinh hoa hạ chuyển ho�ng ly

�������� Khả l�n v� hạn thương xu�n �

�������� Tận tại đ�nh ch�m bất ngữ th�

nghĩa l� :

�������� Giai nh�n mười s�u ngồi th�u gấm

�������� Hoa tử kinh bừng rộn tiếng oanh

�������� Đ�ng y�u v� hạn thương xu�n �

�������� Khi lặng thinh ngừng đưa mũi kim

 

Hai nh� ph� b�nh ch� thiếu �khẩu kh� thiền sư� v� tả chuyện giai nh�n ? Tả hoa, tả bướm, n�i, suối, m�a m�ng, ti�n, bụt� th� được. Động tới đ�n b� l� L� g� ? Sao đ�n �ng hồ thỉ, ph�ng kho�ng, bay bướm, trượng phu, anh h�ng, liệt sĩ� bao nhi�u, lại khe khắt bấy nhi�u khi n�i chuyện đ�n b� ? Một h�nh xử lạ l�ng đối với phụ nữ� - mẹ của thế gian. Khổng gi�o chăng ? Mặc cảm tội lỗi nơi vườn địa đ�ng chăng ? D� g� th� g�, t�nh b�nh đẳng đ� mất khi nh�n sự vật. Huống chi giai nh�n trong b�i thơ chỉ l� h�nh ảnh m� thất t�nh chưa va chạm !

 

Đ�u l� chỗ �khẩu kh� thiền sư� mất đi ở b�i thơ tr�n ? Chiếc m�y ảnh c� khẩu kh� chăng ? M�y r� quay v� thu ghi. Người thi sĩ, ngo�i c�i nh�n v� sự thu ghi c�n thở ph� chất sống v�o sự vật khiến lung linh hơn cảnh thật. Điểm quan yếu của b�i thơ kh�ng chỉ l� giai nh�n, m� c�i người thơ thấy được nụ cười giữa sấm chớp, sự lặng thinh giữa trống chi�ng. Hoa tử kinh rộ nở, hương sắc bồn chồn khiến ho�ng oanh rộn r� l�u lo. L�c đ� xu�n đến. Người đẹp dừng kim, t�c động trọng đại giữa hai thời biến dịch, l�c giao m�a, khi m� chuyển sang ngộ. Đ�n xu�n � bao la, v� hạn tr�n bến kh�ng-thời. Một bong b�ng nước vừa nổ, �a v�o hư kh�ng xanh. Tan biến nhưng cũng l� giải tho�t. Lột tả cảnh ngộ n�y chỉ biết cậy nhờ v� ng�n. D� v� ng�n tập đại th�nh mu�n ngh�n xướng ng�n trước đ� - tr�i ch�n sau những m�a hoa kết tụ.

 

� m�ng dậy từ cảnh xu�n. � đem người về đ�u ? Về mộng tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng hay biến h�a v�o chốn kh�ng lời : V� ng�n, để sự vật tự nhi�n biểu hiện ? Giai nh�n, hoa tử kinh, tiếng oanh h�t l� những b�ng h�nh xu�n, tức � xu�n dậy ở c�u ba. Nhưng rồi mọi kh�i niệm xả bỏ nơi v� ng�n ở c�u bốn. V� ng�n l� tiếng n�i của tư tưởng, thể hiện trong thơ bằng mũi kim ngừng, bằng l�n m�i kh�ng n�i. C�ng một sự xu�n, m� hoa khoe sắc, chim l�u lo, nhưng giai nh�n lại im m�i. Đ�y l� chỗ diệu kỳ của thơ.

 

Tuy nhi�n điều cần đ�nh ch�nh l� b�i thơ tr�n kh�ng phải của sư Huyền Quang, đệ tam tổ d�ng thiền Tr�c L�m của Việt Nam. D� được nh� b�c học L� Qu� Đ�n v� nh� ph� b�nh L� Tử Tấn đời L�, hay bộ Việt �m thi tập của Phan Phu Ti�n nhắc tới như thơ của sư Huyền Quang. Thực tế b�i tr�n l� của thiền sư Ảo Đường Trung Nh�n trước t�c, người Trung quốc ở đời Tống. B�i thơ n�y được học tr� của thiền sư l� thiền sư L�i Am Ch�nh Thọ ghi lại trong bộ Gia Th�i Phổ Đăng lục. Nh�n một h�m thượng đường n�i về con ch� c� Phật t�nh hay kh�ng m� Ảo Đường Trung Nh�n ph�t ra b�i thơ ghi dưới t�n �V� Đề�, chứ kh�ng phải l� �Xu�n Nhật tức sự�.

 

Phải chăng sư Huyền Quang nhắc tới b�i thơ V� Đề, trước t�c b�n T�u một trăm năm trước, qua những lần thuyết ph�p, giảng thiền, n�n sau n�y đệ tử sao ch�p tưởng l� thơ của thầy m�nh. Rồi văn học sử Việt Nam cứ lầm lẫn ch�p theo.

 

Nhưng đ�y chỉ l� vấn đề xuất xứ văn bản. Chứ đi v�o � thơ, th� Huyền Quang hay Ảo Đường Trung Nh�n, thơ vẫn l� thơ của người c� t�m thiền.

 

Nhờ c� t�m thiền n�n kh�ng ph�n biệt, tr�n trọng v� b�nh đẳng với mọi sự mọi vật. Đa số thơ Việt Nam thời trung đại thường vắng b�ng người phụ nữ. B�i tr�n đ� tưởng l� của sư Huyền Quang để khẳng định sự b�nh đẳng giới t�nh. Song kh�ng v� vậy m� thơ L� Trần thiếu đi. Người thơ c� t�m thiền như vua Trần Nh�n T�ng, cũng l� nh� sư v� Tổ thứ nhất của d�ng thiền Tr�c L�m, kh�ng qu�n th�n phận người phụ nữ trong b�i �Khu� o�n� :

 

�������� Thụy khởi c�u li�m kh�n trụy hồng

�������� Ho�ng ly bất ngữ o�n đ�ng phong

�������� V� đoan lạc nhật t�y l�u ngoại

�������� Hoa ảnh chi đầu tận hướng đ�ng

nghĩa l� :

�������� Thức m�nh cuốn cửa ngắm c�nh hồng

�������� Biếng h�t oanh buồn o�n gi� đ�ng

�������� Lầu t�y chiều xuống bu�ng hờ hững

�������� B�ng hoa c�nh ngọn lả phương hồng

 

Nỗi o�n hận buồn thương của người ở ph�ng khu� thật man m�c. Những phi tần kh�ng được vua sủng �i. Họ sống bằng nỗi tr�ng chờ như b�ng hoa đầu c�nh hướng ph�a mặt trời. Thơ bật l�n nỗi o�n, m� cũng l� mối bi thương li�n đới của người l�m thơ. Nếu chưa tri kỷ, cũng đ� tương li�n với nỗi khổ con người v� l� người phụ nữ.

 

Bao l�u c�n những tấm l�ng thiền, thơ thiền c�n chan chứa. Thơ thiền kh�ng giới hạn, tr�ng tr�ng như hoa xu�n, như rừng l�, như s�ng dội. Ta h�y đọc thơ trong c�i to�n thể, qua niềm gợi hứng, giữa c�c mối tương li�n. Đừng lo l� giải, t�ch bạch nghĩa �. Ta hiểu g� c�i đẹp một m�u l�, đ�a hoa. Ta hiểu g� n�t mặt một con người.

 

Đọc thơ thiền như kẻ v�o rừng phong lan. L�c về quần �o đẫm hương, người l�ng l�ng, l�ng th�nh th�i. Cần chi t�ch bạch một l�n hương, h�i hoa th�nh b�. Khiến người c� t�m thiền như sư Huyền Quang cười ta từ bảy thế kỷ trước :

 

�������� Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ

�������� M�n đầu t�y đ�o th�p qui lai

nghĩa l� :

�������� Cười ai kh�ng r� hoa mầu nhiệm

�������� H�i giắt đầy đầu trở lại nh�.

 

Những g� ngắt đi từ sự sống, sự sống sẽ mất.

 

 

Thi Vũ

Paris, 1.1.1988,

bổ ch�nh Mồng Một Tết Kỷ Sửu 2009

 

[1] Ng�n ngữ đạo đoạn t�m h�nh xứ diệt.

 

Thi Vũ l� b�t hiệu của nh� tranh đấu Nh�n Quyền V� Văn �i. �ng chủ trương tạp ch� Qu� Mẹ ở Paris từ năm 1977 đến nay

 

http://www.gio-o.com/ThiVu.html

 

� gio-o.com 2009

 

 

 

 



[1] Ng�n ngữ đạo đoạn t�m h�nh xứ diệt.