THI �VŨ

 

Nhớ H� Th�c Cần


qua ống k�nh
Đất Khổ

 

 

Ghi ch� ng�y 29.12.2012 - Khoảng năm 1977 ở Paris quận 13 c� rạp chiếu b�ng Orient của anh Huấn, một người Hoa Chợ Lớn dựng l�n, thu h�t kh�ch � ch�u m� phim bộ Trung hoa. Qua năm 1979, lần đầu ti�n ch�ng t�i được xem phim Đất Khổ do H� Th�c Cần đạo diễn v� Nguyễn B� H�ng sản xuất. Hai năm qua, nghe đ�u như b�n Hoa Kỳ phim n�y được thu đĩa DVD tung ra thị trường. B�i cảm nhận dưới đ�y t�i viết sau khi xem Đất Khổ cuối th�ng 5 năm 1979 dưới tựa đề �Nh�n xem phim Đất Khổ - Nghĩ về V�ng đất khổ�.

 

L� người Việt v� l� người Việt lưu đ�y xa xứ m� bỏ qua kh�ng xem cuốn phim Đất Khổ l� một thiếu s�t. Đ�y l� cuốn phim lớn, đặt những vấn đề mấu chốt chẳng ai giải nổi từ 30 năm qua.

Với ai kh�ng ưu tư tới �ch�nh trị�, �chiến tranh�, �đau khổ�, th� cuốn phim sẽ vẽ ra những phong cảnh tuyệt vời nước Việt. Ai xem kh�ng h�nh diện biển, n�i, kinh đ�, người� của ch�ng ta thua g� c�c nước kh�c ?

Với người c�n sống t�m tư �cuốn r�n chưa l�a� sẽ nh�n ra tr�n m�n bạc vĩ tuyến nỗi khổ đau của mu�n triệu bộ mặt v� danh đang xo�y dần v�o cuốn chỉ rối bời.

V� những ai c�n thắc mắc cho tiền đồ nước Việt sẽ l�nh ngay ngọn gi�o đ�m suốt v�o tim. Ngọn gi�o của dấu hỏi : Anh/chị đ� l�m g� ? đang l�m g� ? Sao c�n ngồi y�n đ�, nhỏ những d�ng lệ trong đ�m ?

Vấn đề thật lớn. Lớn tới độ mất h�t vấn đề cần phải giải. Rớt lại một nh�n sinh đau đớn nhưng tuyệt vời đang bị h�m hại. Một L� Lợi giữa tr�ng v�y khi chẳng c� L� Lai. Một gia đ�nh chơi vơi tr�n n�c nh� cuốn theo cuồng phong nước lũ...

Nhạc sĩ Trịnh Qu�n mang dấu hỏi đ� đi suốt bộ phim, như chiếc kim luồn qua mu�n cảnh huống v� t�nh người. Những ai từng bị đuổi ra khỏi th�nh phố, x�ch đ�n ra đi v� định, h�nh trang l� thế ngồi bất an như con chim tr�n c�nh lửa, mới cảm nhận ra dấu hỏi lớn kia. Dấu hỏi n�y biến hiện v� th�t sinh ra mu�n ngh�n nh�n vật. Đ�ng thế, Trịnh Qu�n l� chiếc kim luồn. Nếu chiến tranh v� t�n ph� nghiến n�t anh, anh k�u l�n bằng nhạc, bằng thơ. V�i khi dấu hỏi nặn ra b�c sĩ H�. Dấu hỏi v�ng vẫy, phẫn nộ, tụ v�o đại �y Hải. Cho tới l�c sự phẫn nộ được � thức, th� Hải chuyển ra Trung sĩ biệt k�ch đ�o ngũ Nghĩa, ra nữ phật tử Hạnh.

Cho tới khi dấu hỏi quy hồi dấu hỏi, cuộc trả lời biến th�nh dung phong một d�ng người, một n�t mặt nơi đ�i mắt Trịnh Qu�n. Đ�i mắt anh soi suốt bộ phim bằng �nh chiếu tự tại thản nhi�n của một như nhi�n tỉnh thức. Đi từ như nhi�n sơ nguy�n của b� em �o đỏ đứng cạnh x�c chết co quắp của mẹ, nh�n cuộc hỗn loạn lo�i người, tới một như nhi�n tỉnh thức của chiếc kim luồn Trịnh Qu�n qua những hạt ngọc nh�n sinh. Em b� �o đỏ kh�ng tham dự, em vượt nỗi ngạc nhi�n triết học của Aristote, v� em l� trinh thức giữa đời. Đời sẽ bồng ẵm em, hay chiến tranh sẽ giết em, th� cũng thế. Trinh thức em biến h�a v� v�n giữa nh�n sinh v� trời đất. Một l�c n�o đ�, với l�ng x�t thương nh�n sinh, trinh thức giật m�nh tỉnh thức th�nh sinh thức, c�i nh�n của em sẽ biến ra trăm tay tham dự, ấp y�u. Những b�n tay k�o c�y ra lửa, đ�nh sắt th�nh nhạc, như l�ng tay của Trịnh Qu�n.

C� lẽ bộ phim đ� n�i l�n được vấn đề mấu chốt, v� đặt th�m những dấu hỏi thuộc phạm vi h�nh hoạt cho c�c nh� l�nh đạo c� lương tri. Đại �y Hải l� vấn nạn m� một �ng Tướng hay Tổng Thống tương lai phải giải quyết. B�c sĩ H� l� vấn nạn cho nền gi�o dục Đại học tương lai. Người l�nh đ�o ngũ v� � thức bất bạo như Nghĩa, l� tr�ch nhiệm kinh hồn m� c�c nh� l�nh đạo Phật Gi�o kh�ng thể phủi tay thế sự. Bằng kh�ng, l�ng từ bi tr� tuệ tuyệt vời nơi kinh s�ch kia chẳng bao giờ� biến c�i chết bất đắc kỳ tử của anh th�nh hoạt dụng t�y thuận v� giải ph�ng đời. Nếu c�c nh� l�nh đạo Phật Gi�o kh�ng sớm � thức, cứ quay lưng như tự bấy nay, đạo Phật sẽ v� dụng cho c�i ph� sinh. Mạt ph�p kh�ng l� một thời kỳ! N� l� t�m thức đổ vỡ của giới Tăng lữ ảnh chi�� v�o thời đại.

Ri�ng Th�y, n�ng kh�ng c�n l� vấn đề nữa, bởi n�ng l� hạt Nhụy mu�n đời của Hoa.

Sự bế tắc của những vấn đế lớn n�y, người xem c� thể thấy qua bộ mặt chằng chịt rễ đời của hai b� gi� người Huế n�i với nhau như tiếng vọng đ� t�ch l�a cuộc sống : �Răng m� khổ qu� !!!�.

Đối với �b�n kia�� - đối với người Cộng sản -� vấn đề đặt ra tr�n m�n bạc tuy ngắn nhưng dữ dội nhất, hiện th�n qua người �o đen bị c� lập khi chạy trốn, nhưng lại bị rơi v�o giữa v�ng v�y những chiếc thiết gi�p. Chủ nghĩa Cộng sản đ� đơn độc v� sa s�t như thế qua ống k�nh H� Th�c Cần. Tr�n đất nước m�nh m�ng đau khổ, họ chẳng c�n sự d�nh liền, li�n đới với nh�n d�n. Người Cộng sản l� con m�nh th� xa lạ, t�n bạo, kh�ng cần thiết.

Nhưng tất cả c�c nh�n vật tr�n đ�y biểu trưng cho những c�nh cửa, đang được chống giữ, mở kh�p qua bản lề người Mẹ. Kh�ng c� mẹ, tất cả sẽ tan rời, đổ vỡ, d� được trang bị những � thức ồn động tới đ�u. B� Mẹ nghiễm nhi�n như chất keo r�p cứu, mang h�nh b�ng của V� h�nh can dự th�nh tựu cuộc nh�n sinh.

B�y giờ ta hiểu v� sao cuốn phim n�y đ� bị cấm chiếu tại Saigon trước kia. C�c Bộ Văn H�a hay D�n Vận Bắc Nam thời bấy giờ chỉ thấy s�ng, kh�ng thấy Người. Tư tưởng Việt vắng b�ng, văn h�a đổ sụp th�nh đống r�c tuy�n truyền. Bởi đ�, họ sợ cuốn phim mang t�c dụng �phản chiến� rẻ tiền ba xu Việt Cộng. Họ kh�ng biết rằng x� hội miền Nam đ� tới một ng� rẽ phải chọn lựa : l� lết tấm th�n n� lệ (tư tưởng v� chủ thuyết), hay nối lại ch�n truyền ưu t� của văn minh việt nam.

Điều chắc chắn, l� H� nội ng�y nay cũng kh�ng bao giờ chấp nhận tr�nh chiếu phim Đất Khổ. V� đ�i mắt văn h�a họ đ� m�, đ�i tai t�nh nghĩa đ� điếc... �m thanh v� h�nh sắc c�n c� nghi� chi ?

Ri�ng ch�ng ta, c�n nguy�n trực gi�c th�m hậu để nh�n xa tr�n những c�i thấy. Ch�ng ta c� thể cảm nhận bộ phim theo tr�nh tự n�i tr�n, hay theo cảm thức b�ng chớp sau đ�y :

T�n bộ phim l� Đất Khổ, nhưng cũng c� thể gọi l� �Hẹn nhau l�c 4 giờ�, hay �Qu� Ngọ�� - l�c mặt trời th�i đứng b�ng, hết x�n lạn. V� mặt trời đ� đi xuống. Xế. Tức đổ nghi�ng. Đi dần v�o ho�ng h�n tan vỡ. Những mảng s�ng đổ rời manh m�n.

Qu� Ngọ. Buổi t�n suy của Nắng. L�c đ�u hiu của Đất. Khổ dẫn nhau đi v�o Tập Đế. (1)

Từ sự gặp nhau l�c 4 giờ nhưng kh�ng bao giờ gặp, những đời người, những mẩu sống mở ra bao tia chớp ngắn ngủi v� phi l� quanh một ngọn ph�o b�ng khoe l�e kinh khiếp.

Chẳng ai l�m chủ được cuộc sống. Tất cả n� lệ cho ph� du. Ở đ�y, nh�n v� quả kh�ng c� trước sau, m� nh�n quả xẩy ra c�ng l�c tr�n mảnh đất thất thế. Con người chạy đua với những hiện khởi qua mu�n tr�ng hủy diệt. Nỗi c� đơn li�n đới ? hay buổi tập họp những tan t�nh ?

Nguyễn Hiếu Nghĩa v� Trịnh Qu�n b�n ph�a người Việt, Tim b�n ph�a người Mỹ, mỗi người một c�ch � tranh đấu b� mật, đ�nh l�n những dấu hỏi bằng nhạc, bằng thơ v�o c�i nh�n sinh hỗn loạn, hay chạy trốn qu�n dịch � cả ba diễn tả mối ho�i nghi ray rức trước c�c biểu tượng t�n suy của những � thức hệ T�y phương. B�c sĩ H�, Đại �y Hải, người nữ Phật tử Hạnh, mỗi người một c�ch diễn tả nỗi hoang mang qua sự phẫn nộ trước những bất c�ng phi l�.

S�u nh�n vật đ� quay cuồng trong bối cảnh s�i động của tranh chấp v� tan n�t. Họ như một d�y bọt nước trắng x�a tr�n s�ng cuốn ng�y động biển.

Bối cảnh địa ngục đ� hiện l�n qua những h�nh nh�n mất hồn :

- người mẹ gh� �m x�c con đ� chết thối trong g�c nh� thờ, b� tiếp tục h�t ru như đứa con c�n sống;

- một b� mẹ kh�c, với h�m răng th�t loạn, khập khểnh, nổi l�n tiếng c�nh phản lực cơ x� trời;

- một em b� �o đỏ đứng ngơ ng�c hồn nhi�n b�n x�c mẹ co quắp trong b�n, em nh�n từng đo�n lũ người băng băng chạy giặc;

- những v�ng xo�y người hốt hoảng quay lộn tr�n một c�y cầu kh�ng c�n gi�p họ qua s�ng. Con đường sống bị chắn hai đầu. Người th�nh những hạt c�t lộng bay giữa cơn trốt... V� c�n biết bao hỉnh ảnh nữa.

Bối cảnh chiến tranh s�ng sục v�o những nơi t�n nghi�m nhất : c�y đu đủ mọc l�n ti�u điều nơi trước kia l� b�n thờ �ng b�; t�n đồ nơi ch�a viện hết an nh�n kinh kệ, muốn sống đạo họ phải đặt lại căn cơ t�n ngưỡng v� h�nh hoạt cứu nh�n; vị linh mục phải ngừng d�ng th�nh lễ để nh�n mảnh đạn tr�i ph� hay miếng ng�i vỡ rơi b�n cạnh ch�a quan ph�ng...

Nhưng b�n cạnh những ho�i nghi, hoang mang, hỗn loạn địa ngục đ�, vẫn hiện ra những c�i bất biến của t�nh nghĩa, của truyền thống Việt, của như nhi�n v� �i v� t�nh y�u vinh cữu.

T�nh nghĩa qua c�i nh�n, qua b�n tay nhầy nhụa m�u của b�c sĩ H�. Vi�n đạn n�o đ� bắn ? D�ng m�u n�o đ� rịn ? Sắc đỏ thi�n thu như gương, soi r� m�i h�nh h�i kh�ng đổi. Thăng hoa bạo lực chiến tranh bằng con đường cấp cứu của y dược. Nhưng H� vẫn kh�ng tho�t khỏi c�i chết h�i h�ng, th� bạo !

Truyền thống nước thể hiện qua c�u n�i của B� Năm : �Một ng�y l� nghĩa!...�, lời nhắn cho nh�n vật Jacqueline, người t�nh của Tim, người đ� đ�nh mất hồn qu�, biệt t�ch v�o x�c thịt v� tiền t�i. Nhận thức cảnh ngộ bị l�ng bắt của Tim, b� n�i �n� tha phương c�u thực, tứ cố v� th�n, m�nh n�n tha cho n� l�m ph�c !...� đ�ng l� thứ nh�n nghi� Việt Nam, như mũi thuyền lướt v�o s�ng dữ của chủ nghĩa hư v� t�n bạo v� s�t nh�n.

Trong cảnh bụi rơi, m�u đổ, truyền thống d�n tộc ẩn ch�m dưới một căn hầm c� quạnh, giữa b�ng s�p lập l�e với t�m tư một em g�i chưa qu� 10 tuổi !

�M�y kh�n qu� ! Tao nể m�y !�. Anh Nghĩa th�n phục n�i với em như thế. Bốn năm anh bỏ nh� ra đi. Mẹ cha mất, người em g�i mới 10 tuổi đời phải lo b�n tr�u lấy tiền ch�n cất mẹ, thu� đ�o căn hầm l�m nơi tr� ẩn, nu�i ba đứa em, đối diện thường trực với đ�i, chết v� chiến tranh, với qu�n đội hai b�n. Qu�n đội tiếp bộ đội qua l�ng, mang th�i tr� h�nh binh phục nhau để lừa giết địch thủ. Em phải l�m sao cho cả hai b�n thương m� chẳng nghi ngờ. Em cắt t�c ngắn, mặc �o r�ch, kh�c b� lu b� loa... M�t, t�n em g�i, l�m như vậy để nu�i em, chờ anh Nghĩa về gi�p em đẩy sự sống của một nh�n sinh c� bốn ngh�n tuổi ! 4000 tuổi tr�n vai một em b� g�i 10 tuổi ! Phải th�nh con n�t dơ d�y, v� �ch, v� t�ch sự, may ra mới tho�t chết. Chiến tranh đang chĩa n�ng s�ng t�m những tấm th�n to lớn m� bắn như tr� chơi ng�y hội xiếc. Gặp anh, M�t ngờ ngợ kh�ng d�m nhận. Em n�i �lầm l� chết đ� anh !� Ngờ l� anh, nhưng nếu anh kh�ng phải l� anh thật của m�nh, v� người đ� theo đối phương, tất sẽ bị bắn chết ngay. Ngờ l� anh, nhng nếu �anh nay� kh�ng c�n l� �anh xưa� nữa, cũng sẽ chuốc hại v�o th�n. Chiến tranh kh�ng chỉ thay đổi một thủ đ�, chiến tranh ngứt h�i v� x� dịch những buồng tim. Chiến tranh chắp nối đầu n�y l�n th�n x�c kia; ch�n n�y, tay kia l�n những d�ng v�c xa lạ... Chiến tranh thay đổi bộ n�o ca nhau, m�c bướu l�n đầu �c nhau.

May thay, trong bộ phim Đất Khổ chiến tranh chưa tiến chiếm căn hầm tử thủ đầy t�nh người v� truyền thống của bốn chị em M�t, nhờ sinh thức hồn hậu nhưng bất khuất nơi l�ng dạ M�t, chống trả qua từng hơi thở. Ở đ�y, v� h�nh vũ trang cho hữu h�nh, hồn thập loại ch�ng sinh gia c�ng hậu thuẫn em. Như rễ khuất dưới l�ng đất k�o nhựa nu�i l� phất phơ xanh� � d� khi mưa khi nắng.

Ch�nh em, chứ kh�ng ai kh�c, từ khi cha me bị xuy�n đạn chết, đ� ng�y đ�m nhất quyết kh�ng cho ngọn nến hắt hiu tắt dưới căn hầm v� thường, mặc hỏa ch�u thắp s�ng tới bao nhi�u tr�n nền trời, d� đạn nổ chớp l�e tới đ�u, d� phố thị c� l�n đ�n tới trăm lần ngh�n lượt. Ch�nh em b� g�i 10 tuổi đ� đ�t nước ch�o nu�i ba em, khi người lớn chơi tr� chiến tranh. Đứa em đ� khi bỏ mảnh vườn qu� theo ch�n anh, chỉ mang theo một b�nh hương tr�n b�n thờ v� một b� l�a giống... Em đốt hương, dạy cho Nghĩa, người anh lăn lộn tranh đấu, c�ch thần giao c�ch cảm với v� h�nh. Em dạy cho anh lạy mẹ, lạy hồn nước nơi căn hầm tr� ẩn. V� anh đ� qu�n... đ� bị cuốn v�i theo rừng biểu ngữ, v� chốt lựu đạn. C�ng bị cuốn l�i, anh c�ng qu�n mất đường về. �Nh�n loại� c�ch mạng v� chiến tranh kia đẩy t�m thức anh l�n c�y cầu xo�y lốc, ở đ� anh kh�ng c�n được qua, về. Anh quay cuồng đi�n loạn. Kh�ng một gi�y tơ Yết đế, n�i chi tới Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế ! (2).

Truyền thống Việt Nam dung dị tr�n bộ mặt �n t�nh của Mẹ. Người Mẹ kh�ng chỉ bảo bọc cho năm con H�, Hải, Th�y, Qu�n, Hạnh. Người Mẹ ấp y�u cả thế giới, cho cả người Mỹ t�n Tim, cho trọn hết cuộc đời chắp nối bởi nhiều đời. B� đ� rứt bỏ c�i Biết để h�a đồng v�o c�i Sống. B� thắng lướt tr� chơi tranh chấp, để �m giữ niềm đo�n tụ. B� n�i với c�c con: �Ch�ng m�y như ch� với m�o, m� ch�ng m�y c� x�ch m�ch chuyện nh� đ�u !� B� ngụ � chuyện nước, chuyện ngọai nh�n trong cuộc chiến hung t�n chăng ?

B� đ� chạy ngược đ�m d�n x� bồ tho�t th�n, hầu nắm lấy b�n tay c�c con rồi mới thanh thản nhắm mắt ra đi. Nền tảng gia đ�nh - một cộng đồng � thức, kh�ng thể vỡ tan. Để n� vữa ra, mọi sự sẽ vỡ đổ. B� kh�ng chịu tho�t đi cho ri�ng m�nh. B� kh�ng c�n l� một. B� l� tất cả. Dung th�ng v� ngại.

V� B� đ� chọn sự tồn tại như nhi�n của � thức Việt : phải b�m v�o mảnh đất qu� hương như một th�n c�y h�ng vĩ. �Kh�ng chạy đi đ�u nữa ! c� chết cũng về Nh� m� chết !� - m�i nh� xưa, bản lai diện mục của mọi người !

Như nhi�n v� �i của bộ phim, như ta thấy, l� đ�i mắt b� thơ của b� em �o đỏ đứng ngo�i cuộc chơi như d�ng v�c L�o Trang, hay đ�i mắt nh�n v� thấy của Trịnh Qu�n qua giai đoạn sử lịch, m� anh vờ như bị cuốn v�o.

C�n T�nh Y�u ư ? Đ�u kh�ng l� t�nh y�u trong phim n�y. Đ�o, n�i, biển, m�y, lan, đ�n khuya, lăng tẩm, con người... Nhưng t�nh y�u đ� ngưng đọng tr�n Th�y ! Th�y của mu�n đời kiều diễm tuyệt b�ch ! Th�y đ� nằm chết như b�ng hoa mới nở. Vi�n đạn n�o vũ phu ph�ng tới ? D� vi�n đạn đến từ đ�u, đến từ ai, với hậu �, nguy�n �, th�nh �, tiềm �, thức � n�o đi nữa, n� chỉ đại biểu cho Ma quỷ hay tập thể c�n đồ. Th�y chết rồi sao ? Tĩnh y�u chết thật sao ? Mơ m�ng trong c�i giao thời, Th�y mường tượng tới nghĩa vụ của T�nh Y�u m� m�nh đ� tặng lại cho đời : mối ti�n ưu cho x�m giềng thống khổ, bầy heo n�ng chăm s�c độ nhật. Cuối c�ng mới nghĩ tới chuyện ri�ng m�nh : hẹn với người y�u l�c 4 giờ; b�ng d�ng người y�u đứng rủ dưới mưa như t�n tử t� chờ đao phủ. T�nh y�u thầm lặng, chẳng bung xung như tr�i ph�, như biểu ngữ. T�nh y�u l� nỗi nhớ g�i trọn giữa h�nh h�i, trong tr�i tim đập m�i cho ai nghe, m� c� ai nghe, v� c� cần ai nghe.

Nếu Th�y c�n sống, Th�y sẽ trung liệt như b� gi� kia ngồi lại nơi g�c gi�o đường cầu kinh, khi mu�n người tho�t chạy. Th�y ch�n t�nh, sống kh�ng dấu hỏi. Chết kh�ng k�u cứu. Th�y đ� t�i sinh Mẹ, khi Mẹ hốt hoảng k�u cầu những kẻ qua đường. N�n n�ng phản ứng : �Kh�ng ai thương mẹ con ta đ�u, mẹ đừng k�u cứu nữa!�� - giữa một đất nước mấy chục triệu người với một �ng chủ tịch v� một �ng tổng thống.

ĐỪNG K�U CỨU NỮA ! Ch�ng ta h�y tự cứu ch�ng ta. Nghĩa l� h�y y�u thương. Y�u thương như Th�y; sống kh�ng dấu hỏi, chết kh�ng k�u cứu. Đem x�c th�n v� t�nh nghĩa thắp s�ng ngh�n triệu mặt trời.

Đất Khổ, cuốn phim đẹp v� cảm động. Rất Việt Nam, nghĩa l� rất Người ! T�i h�nh diện cho Việt Nam vừa xuất sinh người đạo diễn t�i ba. T�i c�m ơn c�c t�c giả. Đất Khổ l� cuốn truyện Kiều thế kỷ XX diễn bằng �m thanh v� h�nh sắc.��������

Thật v� nghĩa, nếu chỉ b�n luận kỹ thuật dựng phim, đề cập tới �nh s�ng, gros plan, travelling, voix off, v.v... D� nghệ thuật lấy h�nh của H� Th�c Cần vượt xa nhiều phim Việt kh�c. Phải chăng những năm d�i phục vụ h�ng CBS lấy h�nh chiến tranh đ� trữ vốn, luyện mắt cho nh� đạo diễn họ H� ? Phim vượt xa chặng đường thử nghiệm của người mới ra trường, hay giới l�m phim ủy mị chưa tho�t ly s�n khấu kịch ở Việt Nam. Đất Khổ l�m bật l�n những động t�c sống của những người đang sống thật giữa chết ch�c v� trầm lu�n. Hầu như chẳng ai đ�ng phim. Họ sống cuộc đời họ. Nh� đạo diễn đ� th�nh tựu tập họp họ qua ống k�nh, tập trung một số nh�n vật t�i ba của nền văn học văn nghệ miền Nam : B�ch Hợp trong vai Người Mẹ, Trịnh C�ng Sơn trong vai nhạc sĩ Trịnh Qu�n, Xu�n H� trong vai Th�y, V�n Quỳnh trong vai Hạnh, Lưu Nguy�n Đạt trong vai Nghĩa, Vũ Th�nh An trong vai b�c sĩ H�, Minh Trường Sơn trong vai Đại �y Hải, �Bạch L� trong vai em b� M�t, L� Thương trong vai một Linh mục nh�n từ, Kim Cương trong vai người thiếu phụ, Bảy Ngọc trong vai B� Năm, Tường Vi trong vai b� Tư, Jerry Lilles trong vai Tim, Sơn Nam trong vai �ng nh� b�o, Diễm Kiều trong vai Jacqueline, Annie Nga trong vai Mai, v� c�n Ki�n Giang, Mi�n Đức Thắng, V�n H�a, V�n Khanh... với trăm ngh�n bộ mặt sống động kh�c. C� lẽ đ�y l� bộ phim đầu ti�n m� ch�ng ta chứng kiến những vui buồn, đau khổ ph�t ra từ cuộc chiến nh�n sinh, từ cuộc sống của sinh d�n khổ lụy bước ra. Kh�c với loại phim tuy�n truyền rẻ tiền, khởi đi từ một hai nh�n vật �anh h�ng� giải quyết việc đời dễ d�ng như Tarzan hay Zoro, c�n quần ch�ng, x� hội, l� những chiếc b�ng mờ, b�o bọt, hiện hữu cho ph�ng cảnh, c�y kiểng, đồ vật.

Đất Khổ đặt lại tương quan b�nh đẳng giữa c�c nh�n vật giữa lo�i người. C� khi như chống đối nhau nhưng lại biết t�n trọng nhau, bảo vệ nhau rất mực. H�y nh�n �nh mắt vị Linh mục, cử chỉ Đại �y Hải, thớ thịt tr�n mặt người Sĩ quan Việt Nam Cộng ho� khi bắt được người Việt Cộng. Đ�ng l� � thức Việt được t�i hồi trong cơn hoạn nạn : ph�n đ�i nhưng l�ng kh�ng chia ! Tr� tuệ tối thượng sẽ cho thấy sự ph�n đ�i từ ảo tưởng rất dễ d�ng x�a bỏ. L�ng thương bất hại sẽ nối kết l�ng dạ thực của nhau.

M�n ảnh l� cuộc sống. Kịch b�ng nổ. S�n khấu kh�ng c�n. B�ng với h�nh li�n giao.

Qua bộ phim, ng�n ngữ bị hủy diệt, �m thanh cũng đổ vỡ, kh�ng l�m n�n một ph�ng nền h�a điệu. Tiếng đ�n bầu, tiếng s�o, lời n�i... đều bị ngắt đứt qu�ng, ph� vỡ đột ngột. Ngay s�ng đạn, tr�i ph� cũng kh�ng đi trọn �m vang của n�. Cuộc vật lộn kinh hồn giữa sự sống v� nỗi chết. Bt ph�n thắng bại. Hạ hồi từ chối ph�n giải.

Điểm b�o hiệu l� những cặp đ�n tr�n b�n thờ, trong ch�a viện, gi�o đường dần d� tắt mất. Chỉ c�n một ngọn. Trịnh Qu�n nơi Saigon b�nh thản cũng chỉ thắp tiễn hồn anh bằng một ngọn nến. Ngọn nến cuối c�ng nơi căn hầm cuối Huế, hay đầu thị trấn Saigon kia sẽ tắt phụt theo cơn tối hồng hoang ? hay sẽ l� ngọn s�ng uy linh dẫn đạo ?

Điều n�y chắc phải hỏi Th�y hay Mẹ, hay Qu�n ? hay H� Th�c Cần, người đạo diễn t�i ba ? hay Nguyễn B� H�ng, nh� sản xuất phim ?

V� khi chưa gặp được họ, ta h�y tự hỏi ch�nh ta ?

 

Paris, 21.5.1979

THI VŨ

 

-----------------------------

(1) Bốn Ch�n l� cao cả (Tứ Diệu Đế - Cattari ariyasaccani) l� b�i thuyết ph�p đầu ti�n m� sau khi th�nh đạo đức Phật Th�ch Ca giảng cho Nh�m �ng Kiều Trần Như tại Vườn Nai ở th�nh phố Ba La Nại / Varanasi, Ấn Độ. Khổ đế (Dukkha) l� Ch�n l� cao cả thứ nhất nhận ch�n nỗi khổ của con người nơi c�i trầm lu�n. Khổ dịch từ chữ Dukkha bao h�m sự bất to�n, giả tạm, trống kh�ng, v� thường. C�i g� v� thường l� khổ (yad anniccamtam dukkham). Tập đế (Samudaya) l� Ch�n l� cao cả thứ hai chỉ ra nguy�n nh�n khổ, sự ph�t sinh hay nguồn gốc của khổ. Diệt đế (Nirodha) l� Ch�n l� cao cả thứ ba về sự chấm dứt khổ. Đạo đế (Magga) l� Ch�n l� cao cả thứ tư về Con Đường dẫn đến chấm dứt khổ.

(2) Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế nằm trong c�u chấm dứt T�m kinh (tiếng Phạn l� Prajnaparamita Hrdayasutra, T�u dịch B�t Nh� Ba la mật đa t�m kinh), bản kinh ngắn nhất, cao si�u v� th�m �o nhất, chưa đầy ba trăm chữ, về yếu nghĩa gi�o l� B�t Nh� : Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế. Bồ đề t�t b� ha (Gate, gate, paragate, parasamgate, Bodhisvaha) nghĩa l� �Độ, độ, si�u suốt m�nh v� độ tho�t mọi sinh d�n. Giải tho�t ! Tất thảy c�ng về an nhi�n nơi chốn�.

(xem �Kinh Ruột Tuệ gi�c si�u việt � Biện chứng ph� m� trừ khổ, Thi Vũ dịch tử bản chữ Phạn, NXB Rừng Tr�c, 1973).

 

 

http://www.gio-o.com/ThiVu.html

 

 

� gio-o.com 2013