THI VŨ

gọi đ� một tiếng lạnh hư kh�ng

Đề huề đầu bạc l�ng son
Trăm năm dẫu h�t vẫn c�n Ngh�n Thu

������������������������������������������������������ Q.T.

 

 

Li�n tiếp nhiều đ�m kh�ng ngủ v� chu�ng điện thoại. T�nh h�nh cuối năm s�i động nơi t�i l�m việc. M�y n�i vọng từ c�c ch�u. Vọng từ Việt Nam. Bốn giờ s�ng ng�y 24.12.1992 chu�ng lại reo. T�i xu�t kh�ng trả lời, v� vừa qua một cuộc điện đ�m d�i l�c 2 giờ rưởi. Nhưng rồi l�c n�o cũng vậy, linh thức qu�n �m lu�n gọi m�nh tỉnh thức.

Bốn giờ s�ng ng�y 24.12.1992, tiếng n�i lảnh l�t người con g�i thi h�o Qu�ch Tấn tự đầu gi�y xa xăm b�n kia bu�ng ra t�m chữ : �Ba ch�u mất h�m 21 th�ng 12 rồi !�. T�i lặng người. Thi sĩ cuối c�ng của một thời đại thi ca đ� mất. Người tri kỷ cuối c�ng của đời t�i kh�ng c�n. Bốn ng�y trước đ�y, lần đầu ti�n t�i mơ thấy về Nha trang thăm anh Tấn. Mặt anh ốm o v� buồn. Anh vừa n�i vừa dẫn t�i ra khỏi nh� : Ch� ra ngo�i n�i chuyện tiện hơn. S�ng dậy kh�ng n�i ra, t�i c� phần lo khi kể cho Ỷ Lan nghe. Linh cảm chuyện kh�ng hay. Song l�ng tự thắng lướt với l� luận, sắp Tết m�nh nghĩ tới anh m� nằm thấy đ� th�i. Đ�u ngờ ng�y ấy anh sắp đi.

T�i gọi gi�y n�i qua tổng đ�i Paris nhờ đ�nh điện t�n về Nha trang cho Qu�ch Giao, người con trai anh : �V� c�ng đau đớn được tin Ba mất. Ng�i sao Bắc đẩu thi ca vừa rụng. Tất cả nh�n loại mồ c�i. Chia buồn v� cầu nguyện c�ng gia đ�nh�. Dưới k� t�n Qu�ch Vũ như một cử chỉ thọ tang. Sau đấy viết lời khấp b�o gửi c�c đ�i ph�t thanh BBC, VOA, RFI v� c�c b�o Việt ngữ ở Hoa kỳ v� �c.

Qua thư từ, t�i l�m quen với thi h�o Qu�ch Tấn đ�ng 33 năm. Nhưng chưa từng được gặp. Thoạt đầu l� người bạn vong ni�n t�n k�nh. Sau th�nh người anh kết nghĩa. Tuy m�i m�i l� một người thầy về thơ, về nghĩa kh� sống trong đời.

Thời ấy, t�i bỉnh b�t cho tạp ch� Li�n Hoa ở Huế do hai Thầy Đ�n Hậu v� Đức T�m l�m chủ nhiệm v� chủ b�t. Một người nay đ� mất, v� b�y giờ phải gọi l� Đại l�o H�a thượng Đ�n Hậu v� H�a thượng Đức T�m mới đ�ng. Nhưng thời t�i ở Huế chỉ c� hai danh xưng độc nhất để gọi c�c Tăng sĩ đ� thụ giới Tỳ kheo l� Thầy hoặc �n. �n d�nh cho chư vị lớn tuổi thuộc h�ng trưởng l�o. Tiếng Thầy vừa t�n k�nh, trang nghi�m, cao cả, vừa b�nh dị, th�n gần, thương mến. Cấp vị đạo đức rất b�nh-đẳng-ph�p ấy, ng�y nay �t người ưa v� � th�ch danh vị cao sang.

Nh�n đọc tạp ch� Li�n Hoa số th�ng 5.1959, t�i gặp một b�i thơ k� t�n Qu�ch Tấn :

Mặt mắt mu�n xưa lớp bụi mờ

Sao mai đ� mọc vẫn nằm mơ

Chờn-vờn nẻo bướm canh canh mộng

Quằn-quại l�ng d�u kiếp kiếp tơ

Biển thức l�nh-đ�nh thuyền viễn-vọng

L�ng trần quanh-quẩn bước vong-cơ

Phước duy�n được thấy hoa Đ�m nở

L�ng Đạo nguyền d�ng trọn � thơ.

B�i thơ l�m h�m 15.5.59 (mồng 8 th�ng 4 �m lịch) nh�n ng�y thi h�o Qu�ch Tấn quy y theo đạo Phật.

Đọc b�i thơ Qu�ch Tấn nơi phương T�y xa lạ, nhưng tr� tưởng t�i dựng l�n d�y trường th�nh cổ k�nh Cố Đ�. S�ng l�n bao đ�a sen hồng ch�m ch�t giữa những v�ng l� lục tr�n mặt hồ dưới ch�n Cửa Đ�ng Ba. Nhớ những trưa h� oi ả, nằm tr�n căn g�c với Trần Mạnh H�a ở phố Gia Long ng� xuống hồ sen. H�a c� giọng ng�m thơ trầm ấm, luyến l�ng. Những c�u thơ theo t�i kh�ng dứt :

Gi� rủ c�nh đi ng�n liễu kh�c

S�ng đừa lạnh tới b�ng trăng run

Thuyền ai tiếng h�t b�n khuya vẳng

Gh� lại cho nhau gửi ch�t buồn

Đ� l� khoảng cuối 48 đầu 1949, một �t l�u trước ng�y t�i bị bắt v�o t� v� tham gia phong tr�o học sinh kh�ng chiến. Từ đ� xa m�i hồ sen, xa m�i giọng ng�m thơ tuyệt vời Trần Mạnh H�a, xa m�i thơ Qu�ch Tấn...

M�i tới năm 1959 nh�n đọc thơ t�i liền bi�n thư thăm thi h�o Qu�ch Tấn qua t�a soạn b�o Li�n Hoa. T�nh bạn nẩy sinh từ đ�.

B�y giờ giấc mộng gặp nhau nơi vườn mận ở đầm Xương Hu�n Nha trang đ� tan th�nh m�y kh�i. Nơi một thời tấp nập giới thi nh�n Tản Đ�, H�n Mặc Tử, B�ch Kh�, Chế Lan Vi�n, Yến Lan...

B�y giờ t�i sẽ phải đi một m�nh tới cuối cuộc đời n�y với mọi rủi ro, bội bạc, đơn c�i. Tuy kh�ng sợ h�i, than van. B�y giờ t�i mới lọn hết t�m sự B� Nha đối với Tử kỳ.

B�y giờ, sau khi l�m những việc khấp b�o cần thiết, t�i ngồi đọc lại mấy tập thơ Qu�ch Tấn gửi sang năm ngo�i : �o Đắp T�m Tư, Gi�n Hoa L�, Trăng Ho�ng H�n, Tr�ng Hạt Ngũ Ng�n.

Một đời thơ t�i hoa như thế sao lại hẩm hiu ? Được Tản Đ� t�n thưởng. Cụ Phan Bội Ch�u khen tặng. Nh� b�nh thơ nổi tiếng Ho�i Thanh gọi Qu�ch Tấn l� �sứ giả đời Đường�. Chế Lan Vi�n, v�o năm 1941, hết lời ca tụng :

�Qụ�ch Tấn đ� đi gần c�i thể đọng của thơ thuần t�y... Tưởng l� kh� khan của Cao-đạo, nhưng thật ra trong-suổt của Tượng Trưng... Tập M�a Cổ Điển b� bỏng nhưng qu� đầy đủ, trước hết, đ� giải cho ta một mối lầm �c-nghiệt l� ph�n chia bờ-c�i Thơ bằng hai chữ MỚI, CŨ chẳng c� �-nghĩa g�. V� cũng kh�ng thể gọi l� sau hết, c�i việc n� đem lại � ngo�i những � hay, tứ mới, ngo�i những cảnh đẹp, t�nh s�u � một c�i qu�-b�u nhất l� HỒN THƠ, m� chưa một ai định nghĩa cho r�nh mạch�.

Năm mươi hai năm sau Chế Lan Vi�n, giở tuyển tập ��o đắp t�m tư�[1] s�ng t�c từ 1955-1990, t�i gặp ngay b�i Rụng tiếng v�ng :

Nắng nhạt chiều thu quạ rộn r�ng

Sầu vương lau l�ch lạnh th�nh hoang

Tro t�n thư viện duy�n ngao ng�n

Đ� n�t ho�ng cung bước ngỡ ng�ng

Gầy gọ gi� sương t�ng Thế Miếu

Bẽ b�ng trăng nước tr�c Hương Giang

Tr�ng vời Thi�n Mụ m�y man m�c

Lơ lửng chu�ng h�m rụng tiếng v�ng

Huế, 1957

T�i chợt hiểu bởi đ�u Tản Đ� đ� kh�ng ngần ngại đặt Qu�ch Tấn b�n Y�n Đỗ, Hồ Xu�n Hương, B� Huyện Thanh Quan...

Kh� thơ h�m s�c v� diệu xứ tr�n đ�y kh�ng ri�ng khi thả t�nh v�o cảnh, l� sở trường của thơ Đường, Tống, m� ngay l�c đề cập tới thời sự, l� điều thơ tối kỵ, bản lĩnh thơ Qu�ch Tấn vẫn kh�ng nghi�ng chao :

Nắm giềng mối nước nh�m con lai

Chẳng tựa l�ng d�n tựa nước ngo�i

V� lợi v� danh da x�o thịt

Sẵn quyền sẵn thế ngựa l� nai

M�u xương để lạnh trời bi�n t�i

Son phấn ri�ng trau g�t vũ đ�i

Thanh kiếm diệt th� tay chữa vững

L�ng thơ nửa kh�p c�nh thư trai

L�ng thơ nửa kh�p

Để Qu�ch Tấn cạnh Y�n Đỗ, Hồ Xu�n Hương, B� Huyện Thanh Quan, hẳn vị tr�ch ti�n Tản Đ� muốn đề cao chất thơ rặc Việt của những nh� thơ n�y. D� họ sử dụng thể Đường luật.

Rặc Việt l� ng�n ngữ thơ Qu�ch Tấn. Chỉ mới hai tập thơ đầu �Một Tấm L�ng� (1939) v� �M�a cổ Điển� (1941) nh� b�nh thơ th�m hậu Ho�i Thanh đ� nhận ra một phần sắc th�i ấy trong cuốn �Thi Nh�n Việt Nam� : �Qu�ch Tấn đ� t�m được những lời thơ rung cảm ch�ng ta một c�ch thấm th�a. Người đ� tho�t hẳn c�i lối chơi chữ n� vẫn l� m�n sở trường của nhiều người trong l�ng thơ cũ�.

C�ng về sau, với những tập �Đọng B�ng Chiều� (1966), �Mộng Ng�n Sơn� (1967), �Giọt Trăng� (1973), ng�n ngữ Việt của Qu�ch Tấn c�ng định h�nh cho một nền thơ kh�ng lai căn.

Đưa v�o thơ những chữ b�nh dị địa phương như hường, rựng, đ�ng, xu�t, đậm lợt, rặc, lục l�a... m� vẫn trợ thủ t�i t�nh cho thơ th�nh thơ, l� đặc sắc của Qu�ch Tấn :

Mặt trắng đ�m nao b�t điểm hường

T�c hoa r�y đ� nở đầy gưong

M�i t�c hoa

Xuống thềm đứng đợi sao h�m rựng

R�u r�t từng đ�i �n liệng quanh

Tinh thu

Tai �ch khi kh�ng mắc giữa đ�ng

Vườn xưa mai mận xu�t th�nh hoang

Vườn xưa mai mận

Biết bao đậm lợt m�u d�u bể

M�y trắng ngh�n thu vẫn trắng ngần

Ất sửu thu ho�i

Qu�n t�nh trăng thu mấy độ tr�n

M�i qu� quen th� lợt m� ngon

M�a thu quen th�

Buồn nh�m cỏ hoang t�n lại mọc

Nhớ theo triều biển rặc liền d�ng

Dạ quế gừng

Tr�ch ai chẳng biết ai m� tr�ch

Lồng lộng trời xanh biển lục l�a

Lắt lẽo cầu tre

Tr�ch ai chẳng biết ai m� tr�ch, l� tuy�n ng�n của người thi sĩ tr�n mặt đất v� trước bạo chế cường quyền. Giới thi sĩ đ� tho�t ly được sự lừa gạt ch�nh trị, đem thơ l�m tr� bưng bốc, xỉ vả, hay tuy�n truyền. Ngay những l�c bị ch� đạp, khủng bố, loại triệt, tiếng thơ họ vẫn hi�n ngang, tuy gạt bỏ từ th�m căn, bản năng th� o�n hay vạch mặt gọi t�n kẻ h�m hại m�nh. Họ đứng cao, đứng xa, đứng tr�n đầu kẻ th� �c, đỡ thơ l�n cao xanh. Họ thừa biết việc vạch mặt chỉ t�n l� tự hạ m�nh đứng ngang h�ng với kẻ bất xứng. Những thi sĩ như thế, gần đ�y t�i thấy c� T� Th�y Y�n, c� Thanh T�m Tuyền... Nhưng đ� từ l�u trước, c� Qu�ch Tấn.

Tr�ch ai chẳng biết ai m� tr�ch. Một đời khổ hạnh, n�t tan, nhưng vẫn bu�ng được lời nh�n hạ, ki�u h�nh, đại lượng như thế với kẻ th�. Ch�n năm Việt Minh kh�ng chiến chống Ph�p, Qu�ch Tấn bị nghi ngờ, bị quản th�c, bị cấm dạy học, phải thắt gi�ng đi b�n rong. Người thi sĩ ấy, năm 1946 đ� c�ng với Chế Lan Vi�n ra Huế gặp Tố Hữu ở Tổng bộ Việt Minh �xin� đem thơ v� th�n phụng vụ qu� hương. Nhưng Tố Hữu ch� thơ Qu�ch Tấn, ch� lu�n tr�i tim v� con người[2].

Mười bảy năm sau ng�y �giải ph�ng� v� �thống nhất� đất nước, th�n phận Qu�ch Tấn vẫn bị ch� đạp, khủng bố, tiếng thơ Qu�ch Tấn vẫn bị b�p siết. Thế nhưng thi nh�n xem thường :

Ta chẳng th� ai chẳng chống ai

�ch chi nu�i � hại ta ho�i

Kh�c h�t đưa b�i

Chưa đội đ� v� trời, th� chiếc b�n con cũng đủ cho thi nh�n kh�p mở mười phương :

Thơ lỗi thời, văn chẳng th�ch thời

Ng�y ng�y cặm cụi viết văn th�i

Chi h�m trước ng� đời chung chợ [3]

Một chiếc b�n con một g�c trời

Viết văn

Viết g� ? Hẳn kh�ng viết truyền đơn, d� l� truyền đơn bằng thơ. Qu�ch Tấn nối tiếp nguồn thơ thi�n cổ, thi tả nỗi l�ng m�nh v� người trước những biến thi�n :

Tưởng chừng ai nấy vẫn nằm mơ

B�nh vẽ thay cơm cứ phỉnh phờ

Mặc � theo h�a khen diệu kế

Nỡ l�ng ngồi cạnh ngắm nguy cơ

H� rập nhịp

Lẽ đ�u việc nước d�m l�m ngơ

Thấp tr� kh�n mong gỡ thế cờ

Đ�nh phải treo gươm cầm lấy b�t

May ra thiếu mật những c�n tơ

Thế cờ

D� đ�i l�c t�m hồn thi nh�n hết dồn n�n :

D�n chủ vừa th�nh d�n chửi khắp

Chửi ho�i kh�ng xuể phải tung đao

Dấu xe qua

Ấy cũng bởi thi nh�n với to�n d�n bị đẩy m�i v�o thế b� :

Tiếng quy�n m�a phượng chưa kh� huyết

Trận l� rừng ve đ� rụng thu

L�m người xưa kh� nay th�m kh�

Kh� học t�i kh�n kh� giả ngu

L�ng thơ ngập b�ng

Đ�nh đoạn c� cua chung một giỏ

Sụt s�i cốt nhục c�ch đ�i phưong

�u hiu

Lời ngay l� tội người kh�ng thế

Lẽ phải trong tay kẻ c� quyền

Buổi t�n ni�n

Thời Việt Minh bị đưa đi an tr�, thời X� hội Chủ nghĩa bị tịch thu s�ch đem đổt, bị l�a đi kinh tế mới, bị bắt bỏ t�. Chỉ v� Qu�ch Tấn kh�ng biết l�m thơ ca tụng chế độ, ca tụng �h�a dởm d�n tộc�, ca tụng chiếc lồng son văn nghệ đang �hồ hởi� giết chết thi ca. Nỗi trầm thống n�y chỉ phớt nhẹ qua thơ :

D� chẳng phải chi�n d� chẳng ghẻ

Biết ai l� ngụy biết ai ch�n

Đường về bến cũ th�n c� nhạn

M�y k�o chiều h�m b�ng cổ nh�n

Tr�nh kh�ch

Cảnh t� tội nh�t gọn v�o v�i ba điển cố :

Đời những x�t xa c�u nhất nhật

Ng�y c�ng thấm th�a nghĩa tam đa

Đ�u hiu nắng hạ ve T�y Lục

Trăn trở m�y ng�n đ� Nữ Oa

Qua v�ng khổ lụy

C�u nhất nhật l� c�u truyền ngữ, v� một ng�y trong t� bằng ngh�n năm ngo�i tự do. Ng�y Tết, ta thường ch�c ba chữ tam đa (nhiều ph�c, nhiều lộc, nhiều thọ), nhưng với t� nh�n, tam đa lại l� đa ưu, đa cụ, đa nhục. C�n tiếng ve rền qua song ngục l�m thi nh�n nhớ Lạc T�n Vương đời Đường thuở bị giam ở T�y Lục, �ng l�m b�i thơ nổi tiếng vịnh ve sầu l�c thu sang (Tại ngục vịnh thiền). C�n Nữ Oa ai cũng biết l� người nữ kiệt đội đ� v� trời.

Những l�c đau thương, khổ �ch mới biết chẳng c�n ai l� bạn, kể cả những kẻ c� học h�nh, biết suy x�t ph�n đo�n[4] :

C� việc chớ mong nhờ kẻ tr�

Sa cơ đ�nh chịu g�nh phần ngu

B�ng trung du

Bạn b� c�n chăng, l� đ�i cuốn s�ch, một tiếng đ�n hờ, giọng s�o thổi l�c chiều l�nh, hay chim h�t buổi t�n xu�n :

Giải buồn mở đọc l�ng thi�n cổ

Từng trận hoa thơm rụng b�ng m�nh

Rụng b�ng m�nh

Đ�n ai chợt tho�ng qua song lạnh

L�ng chẳng quen nhau vẫn ngậm ng�i

Mưa gi� đầu thu

Giải buồn vịn đ� l�n am vắng

Lạnh thấu hư kh�ng địch bến ch�i

Nỗi l�ng s�u cạn

Đ�u nơi chẳng tục để t�m thanh

Kh�ng học Cuồng Dư[5] học Quảng Th�nh5

Ngh�n dặm gi� thu đ�a t�c bạc

Xu�n c�n rơi rớt tiếng chim oanh

Xu�n c�n rơi rớt

��o đắp t�m tư� gồm 164 b�i thất luật (thể thơ Đường gồm t�m c�u bảy chữ), đi từ thơ t�m sự tới thế sự. T�m v� thời nhất qu�n h�a nhau trong thơ. Thơ kh�ng bị l�i k�o v�o mối uẩn ức nhất thời, hay kh� dụng cho những �m mưu. Thơ đẩy l�n th�nh tư tưởng như một sinh thức. Thơ hiển hiện Người.

Nỗi thao thức Kẻ thừa (de trop, en trop) trong triết học Hiện sinh Ph�p đ� được sinh thức bất nhị của Qu�ch Tấn giải m� :

C� c�n thơ nữa kh�ng c�n nữa

Kh�ng cũng kh�ng sao c� chẳng thừa

Xu�n kh�ng thơ

Biện chứng tả khuynh T�y phương lập tổng thể (synth�se) từ phủ định của phủ định (via Negativa), chắc chắn sẽ viết c�u thơ tr�n th�nh �Kh�ng cũng kh�ng sao, c� cũng thừa�. Nhưng t�nh chất nhị nguy�n của triết học hư v� t�y phương (nihilisme) đ� bị đ�nh đổ bởi chữ chẳng của thi ca Việt : �Kh�ng cũng kh�ng sao, c� chẳng thừa�. Diễn dịch tư tưởng ấy xuống thấp v�o thực tiễn của một bộ m�n, như bộ m�n ch�nh trị chẳng hạn, ta mới thấy c�u viết chơi chơi n�y mang sinh th�i cực kỳ h�a hiệp v� x�y dựng : anh kh�ng khứng v�o đảng t�i cũng chả sao, sự kiện anh hiện hữu đ� l� qu�, đ� kh�ng thừa cho d�n v� nước rồi. H�a ra thơ l� tư tưởng, l� sinh thức, gi�p ta nh�n thấy r� cuộc đời v�ng thau :

Ngại thiếu thay thừa, thừa vẫn thiếu

Lấy ch�n l�m giả, giả th�nh ch�n

Ất Sửu thu ho�i

Bạn thiết kh�ng gần, gần chẳng thiết

Tuổi gi�

Thiết chi sự giả tạo v� đồng l�a, khi chưa gặp tri kỷ, khi ch�n l� đ� nắm giữa l�ng tay, trong c�ch sống, ở hiện th� :

Rằng ch�n rằng giả t�m v� ngại

Ngh�n trước ngh�n sau ph�t vĩnh trường

Sạch bụi phố phường

Nghĩ lại s� g� th�n hạt th�c

M� đem h�nh dịch bận t�m linh

H� c�nh dư sinh

Từ năm 1988 tới bốn năm cuối đời, Qu�ch Tấn bị m�. Kh�ng c�n tự đọc v� viết như trước. B�n m�nh kh�ng ai gi�p đỡ. Một m�nh v� v� trong căn ph�ng trống lạnh, ẩm ướt. M�i dột kh�ng tiền sửa. Tr�n s�n gạch la liệt thau, lon hứng nước giọt. C� đ�m Qu�ch Tấn một m�nh chống d� ngồi viết, �viết m� theo th�i quen, chữ được chữ mất, h�ng xuống h�ng l�n�, nhưng thư cho bạn, thi nh�n vẫn lạc quan n�i �may l� tinh thần vẫn s�ng suốt�. Những vần thơ giai đoạn n�y kh� n�o n�ng, bộc lộ nỗi khổ đau ngh�o khốn v� bệnh tật.

B�nh minh bỗng chốc ngập ho�ng h�n

Cảnh tối tăm may tỉnh t�o dần

Tiếng địch c� th�n

Gi� bụi đi về xe ngựa đ�

Sắt son chờ đợi giống n�i đ�u

Qua Hưng Thạnh

Từng cơn gi� bấc thổi mưa dầm

Xa tối tăm gần cũng tối tăm

Đ�m mưa bấc

Chợ đ�ng3 th�m thấm l�ng hiu quạnh

Nh� dột ri�ng thương nghĩa cũ c�ng

Tiết thu sang

Tấm th�n bảy ch�n giữ kh�ng tr�n

Hai mắt nay c�n được nửa con

Một tiếng chim chiều k�u trước giậu

Mai gi� nở lạnh b�ng trăng non

Mai gi� nở lạnh

Chuyện xưa lắm chuyện đ� xa lơ

Chẳng nhớ khi kh�ng nhớ bất ngờ

Muốn ch�p mắt m� kh�ng thể ch�p

L�m lơ nghĩ tiếc chẳng đ�nh lơ

Nhờ được ch�t nhờ

Tuổi t�c gi� nua mắt lại đau

Nhờ con nhờ rể hết l�ng nu�i

Cũng may mũi, �c, tai c�n nhạy

Ổi ch�n b�n song gi� thoảng m�i

Dư sinh

C� đui mới biết đui l� khổ

Kh�ng lẫn l� may lẫn mới phiền

Ước ao c� kẻ vui l�ng dắt

L�n n�i t�m thăm bạn cửa chiền

Buổi t�n ni�n

Bốn bể tri �m t�nh tản m�t

S�u mươi t�c phẩm phận mồ c�i

Lệ kh�ng ngăn nổi thường rơi lệ

Ngươi c� c�n đ�u sợ hổ ngươi

An sở ngộ

Đui nhưng cũng từ đ�y Qu�ch Tấn nh�n bằng tai, bằng cảm x�c. Nh�n bằng tr� v� nh�n bằng t�m. Người y�u thơ chỉ buồn cho sự kiện Qu�ch Tấn ở qu� l�u trong hiu quạnh v� bội bạc. Dễ bốn mươi năm c� thừa. Bội bạc v� đ�i lớp thi sĩ trẻ h�nh tiến. Bội bạc v� những ch�nh thể phi d�n tộc. Hay chỉ v� vận số của những thi�n t�i bị bỏ qu�n giữa đời sổng � tạp h�m nay hay đ� từ bao nơi dương thế ?

Ẩn th�n m� vẫn kh� an th�n

Bắt nhốt rồi tha đ� mấy lần

Chẳng khứng theo h�a cam chịu khổ

Để cho sống s�t cũng l� �n

Vợ con l�ng cứ lo �u m�i

B� bạn ng�y th�m thỏn mỏn dần

Bầy trẻ dại khờ c�n bắt chước

Rằng thơ Qu�ch Tấn chẳng bằng ph�n

Cam chịu

Ph�n hay kh�ng ph�n ? Người c� văn h�a đ�u đem uế kh� n�i chuyện văn chương bao giờ ! Ta cứ nh�n nh� đọc thơ, những l�c kh�ng bon chen mộng c�ng hầu, ch�nh kh�ch, những l�c kh�ng lượt l� si�u thị. Để thơ thăm viếng tr�i tim đang l�o h�a, như h�nh b�ng một t�nh xưa tho�ng tới. Biết đ�u ta kh�ng kh�m ph� một nguồn thơ đ� khuất sau giọng lưỡi l�u lo ngoại ngữ. Biết đ�u ta kh�ng gi�u l�n nhờ th�n cận với một t�m hồn khi�m tốn như thỏi ngọc dưới bao tầng đ� :

Danh d� tro trấu b�i lem lọ

T�nh chẳng ph� ra giấu vụng về

Bạn gần chưa thấu xa chưa tỏ

Chớ vội v�ng khen chớ vội ch�

�m thầm

Tự đảnh gi� m�nh, Qu�ch Tấn viết giới thiệu 164 b�i trong ��o đắp t�m tư�, cho rằng �sau khi cho t�i bản �M�a Cổ Điển� (1960) th� thơ mỗi ng�y mỗi xuống dốc, đ�ng lẽ phải dừng bước, nhưng ngựa quen đường cũ n�n t�i cứ bu�ng cưong�. Qu�ch Tấn tự v� m�nh như Giang Lang[6] :

Giang Lang tuổi đ� về gi�

B�t đ�u c�n sức cho hoa thắm m�u

T�i kh�ng nghĩ vậy. Ai lại kh�ng thương đứa con đầu l�ng hơn hết, song mỗi đứa con về sau đều mang sắc th�i kh�c với t�nh kh� ri�ng. Với những tập �M�a Cổ Điển�, �Mộng Ng�n Sơn�, �Đọng B�ng Chiều�... thơ Qu�ch Tấn đạt tới diệu mỹ. Qua �Giọt Trăng�, ��o đắp t�m tư� v.v... thơ Qu�ch Tấn đi từ diệu mỹ qua diệu ch�n. C�i Đẹp (Beau) đi v�o Ch�n l� (Vrai) bằng sự Hồn hậu (Einfach) của Thơ.

Thơ Qu�ch Tấn giải tho�t ta khỏi những r�ng buộc, hệ lụy, x�ch nối t�m th�n ta v�o cột mốc những ng�y thường đơn điệu. Thơ man m�c. Gọi ta l�n đường, chuyển vận lại cuộc h�nh tr�nh vũ trụ. Thơ m�nh m�ng. Trả lại ta kh�ng gian ngun ng�t, vừa man dại vừa h�ng vĩ, l�m đổ sụp những ph�ng ốc hộp chật, những phố phường chui r�c, những đụng chạm ch�n chường. Tại sao cứ h�m im cuộc đời dịch chuyển nồng say h�m nay ? Thơ l� m�a v� bay, cao m�i với thinh kh�ng. Hẳn l� thơ ấy gợi buồn. Nhưng kh�ng buồn, l�m sao rứt �o ra đi ? Rứt �o ra đi, mới biết c� tự do, biết m�nh l� C�I g� chưa bị xay th�nh bột. Thi sĩ l� kẻ l�n đường...

Đời nửa kh�i m�y ch�m b�ng mộng

Gọi đ� một tiếng lạnh hư kh�ng

Tĩnh mịch

� thức hệ v� triết học đ� chết ở T�y phương, tiếc thay c�i đ� vọng ngoại nhị nguy�n vẫn c�n quay t�t ở Việt Nam ! Khiến người thơ l�m lụy :

Nước chia đ�i nh� cũng chia đ�i

Anh nam em bắc bạn phương trời

Sụt s�i d�ng thu

Nước loạn đ� kh�ng t�i cứu nước

Th�n gi� chưa sẵn chước an th�n

Bờ chia thế hệ th�m heo h�t

Ruột r�t văn chương lắm ngại ngần

B�n s�ch

Khiến hồn thơ quạnh quẽ :

Th�i đừng thắp nến chi th�m lệ

Giếng ngậm trời khuya trăng chứa chan

Tiểu h�n

Giọt nến như lệ chảy dưới �nh s�ng bập b�ng. Trăng chứa chan trời, song l�ng giếng thẳm đ�nh ngậm mối cảm th�ng trong �m u. Như Qu�ch Tấn giữa qu� qu�ch hoang vu :

Mưa tạnh non cao đọng b�ng chiều

Tiếng chu�ng ch�a cổ vọng c� li�u

Đ� hẹn : m�a r�u xanh nấn n�

L�ng qu� : dặm bấc thẳm đ�u hiu

Sau mưa

Sống tải v�o mối chờ mong. D� nỗi chờ mong tối hậu Qu�ch Tấn đ� đạt : l�ng m�nh, �o m�nh kh�ng nh�u bẩn trước cuồng phong :

Những mong vận hạn khi qua khỏi

�o đắp t�m tư nếp chẳng nh�u

V� đơn ch�

�Thi sĩ l� người đứng m�i tr�n n�i cao, b�n s�ng nước gọi đ�. Thi sĩ l�m gạch nối cho sinh diệt chuyền hơi hiện hữu. Người thi sĩ đứng đ�, dưới hố bom, b�n l�ng ch�y, giữa cuộc t�nh duy�n hay chết ch�c, để thi�n đ�ng v� địa ngục khỏi nghi�ng lệch. Để thi�n đ�ng v� địa ngục chỉ l� � niệm. V� sự sống mới l� hơi thở tồn sinh. Tồn sinh thơ�.

Mấy d�ng tr�n t�i viết trong b�i giới thiệu Qu�ch Tấn đăng ở tạp ch� Văn số đặc biệt về Qu�ch Tấn ph�t h�nh th�ng 9.1970 tại Saigon. Nay xin ch�p lại l�m mộ ch� nơi t�m tưởng cho thi h�o Qu�ch Tấn, c�ng mọi thi sĩ đ� vượt tho�t chốn trần gian.

 

THI VŨ


Paris, 4.1.1993


(tr�ch �Gọi Thầm Giữa Paris� sắp t�i bản)

 



[1] Khởi đầu t�c giả đặt t�n �Sau M�a cổ Điển�. Nh�n đọc b�i V� Đơn Ch� t�i r�t ba chữ ��o đắp t�m tư� xem như hợp với hồn thơ Qu�ch Tấn, viết thư đề nghị v� đ� được Qu�ch Tấn đồng � qua thư ng�y 22.5.92.

[2] Thảo n�o, đ�n em văn nghệ của Tố Hữu nằm trong đ�i Việt ngữ RFI Ph�p nhận được tin Qu�ch Tấn qua đời, vẫn kh�ng loan tin, d� dư giờ ra rả chuyện �h�a hợp h�a dởm d�n tộc�, chuyện văn học hợp lưu, d� vẫn ra rả chuyện c�c nh� văn H� Nội.

[3] Trước nh� thi sĩ ở Nha trang ng�y xưa c� đầm nước gọi đầm Xương Hu�n, sau n�y thị x� lấp đất x�y chợ.

[4] Chế Lan Vi�n c� thể l� một trong những kẻ tr� n�y. Chuyện sau đ�y c� thực. Chế Lan Vi�n l� bạn t�m giao, l� em kết nghĩa của Qu�ch Tấn. Hai người xem nhau như ruột thịt. Thế m� sau 1975, khi Chế Lan Vi�n đến Nha Trang diễn thuyết. Được tin, d� kh�ng được mời Qu�ch Tấn vẫn đi nghe, đứng chờ ngo�i cửa đ�n thăm. Nhưng Chế Lan Vi�n lướt qua thấy Qu�ch Tắn, chỉ n�i hai chữ Ph�p : �C�est toi!� (Bạn đ� �!) rồi đi thẳng, kh�ng hỏi han thăm viếng.

V�o những năm 1968, Chế Lan Vi�n đi c�ng t�c tuy�n truyền sang Paris. T�i v� mối t�nh với Qu�ch Tấn ngỡ họ l� anh em, n�n bắn tiếng qua �ng �ng Trần Văn Kh� xin gặp thăm ri�ng Chế Lan Vi�n. Chế từ chối, dặn rằng muốn gặp th� đến hội trường Maubert nơi �ng diễn thuyết cho H� Nội. T�i kh�ng đến, tuy nhờ �ng Kh� trao tặng Chế hai tập � Mộng Ng�n Sơn � v� � Đọng B�ng Chiều � của Qu�ch Tấn. Cũng qua �ng Kh�, Chế nhờ nhắn với Qu�ch Tấn l� : � Vẫn nhớ thương nhau như xưa. Hồi qua Trung quốc c� h�i 3 l� liễu ở H�ng Ch�u chờ ng�y đo�n tụ trao nhau �. Thuở ấy t�i x�c đụng ch�n t�nh v� nh�n đạo của một thi sĩ d� đ� theo Cộng sản. Sau 75, t�i hỏi Qu�ch Tấn, th� anh chưa bao giờ thấy mặt 3 l� liễu !

Một Phật tử đi nghe Chế Lan Vi�n về khen hết lời với t�i v� c�u n�i của Chế : � Tr�n chiến h�o, dưới trận bom, t�i lu�n mang trong người cuốn kinh Lăng Nghi�m �. Số l� thời ấy phong tr�o Phật gi�o tại miền Nam l� lực lượng lớn cộng sản cần ve v�n. T�i nhớ l�m phiền l�ng người Phật tử khi phản ứng : � Coi chừng mưu m� Việt Cộng ! �. Ho� ra mưu m� thật. Với người Cộng sản duy vật v� duy lợi, th� l� liễu, thi ca, t�nh nghĩa� tất đều như m�n h�ng trao đổi, hầu thu v�t cho đấng Ch� T�n l� Đảng.

[5] Tiếp Dư người nước Sở, giả cuồng để được sống y�n ổn, đời gọi l� Sở Cuồng. Quảng Th�nh l� một cao nh�n đời Đường, sống an nh�n trong x� hội, nhiều khi ra ngồi giữa chợ xem b�i xem tướng hầu t�m người t�i đức.

[6] T�n l� Giang Y�m, l�c trẻ nằm mộng thấy hoa nở nơi đầu ngọn b�t. Từ ấy văn chương ng�y c�ng rực rỡ. L�c tuổi gi�, mộng thấy một b� l�o đến đ�i hoa đ� cho mượn. Từ đ� văn chương suy s�t dần.

 

 

http://www.gio-o.com/ThiVu.html

 

 

� gio-o.com2015