http://www.himalayacrafts.com/

 

THI VŨ

 

Đường Chi�m b�i

 

Em đi để lại m�i hương
B�ng xa vừa khuất con đường xin theo.

 

1. Lưng chng tri Dharamsala

Người bốc xanh v�o l�. N�i dựng thẳm từng d�y chạy theo rừng t�ng. Ch�n trời rơi thỏm v�o b�n kia nắng. Chiếc xe bus lầm lủi đưa ch�ng t�i qua c�c tru�ng đ�o bất tận. Mười hai giờ chạy từ thủ đ� T�n Đề Li l�n Dharamsala dưới nhiệt độ dương 43.

K�o chiếc cửa gương, gi� phả theo hơi n�ng tr�n v�o. Đầu như chiếc g�u m�c từ l�ng thẳm giếng bao h�nh b�ng cũ nhưng hiện tiền. Tr�n v�ng đất n�y, b�n ch�nh v�nh n�i dựng, tỏa xuống khắp lưu vực s�ng Hằng, th�i tử Tất Đạt Đa từng đi qua. Bước ch�n Người đ� viết đậm thao thức mấy ngh�n năm trước. Đ�nh những dấu hỏi th�nh trời xanh, th�nh trăng sao xao động, th�nh tịnh độ mười phương.

Người t�i đầy Phật. Tuổi thơ kh�ng mất. Tuổi thơ c�n m�i trong đầu v� tr�n đường. T�i chỉ bước lại, dẫm đ�ng, miết mải một h�nh tr�nh.

Dharamsala, một th�nh phố treo. Cheo leo giữa trời v� n�i. Thủ đ� tạm của người T�y Tạng đấu tranh. Năm giờ s�ng khi xe ch�c mủi từ ch�n đ�o đ�m thẳng v�o m�y, t�i tự cảm nơi đến của m�nh l� đ�y. Một đ�m thức trắng, một th�ng mong ng�ng chuyến đi. Chỏm n�i n�y v� th�nh phố đ� sẽ l� kh�c quanh t�m hồn chăng. C� như đ� thấy, đ� sống kh�ng kh� ấy v�o một đ�m huyền b� bốn mươi năm trước trong khu trường thuốc ở phương T�y. Thấy được nhận v�o đ�y �c chiếc mắt nh�n miền ngợi ca.

S�u giờ s�ng, xe x�a v�o đ�m người nhộn nh�ng đang rẽ bạt. M�y r� r� thoắt ngừng. Anh �t d�ng chiếc khăn c�u bẩn l�i từ cổ �o đẫm mồ h�i lau mặt, tay mở cửa xe. Đo�n người thi�m thiếp trong mộng bỗng nhỏm dậy, tủa ra. Một khoảng trời xanh tr�n đầu, một b�nh bồng người v� thửa đất �n cần trước tiệm Mc'Llo mở xuống như một c�i duỗi ch�n tr�n hai con đường hẹp ch�nh của thị trấn. Dưới xa rừng t�ng ngan ng�t, n�i v�y quanh chập ch�ng.

Đến từ phương t�y, kh�ch du chờ đợi những d�y nh� san s�t cao tầng, đường s� rộng th�nh xe cộ. � ch�u trả lời đơn giản bằng người, hay danh xưng một thị trấn. Nơi t�i đang đứng tần ngần giờ n�y : McLeod Ganj. Thị trấn đỉnh cao của Dharamsala.

Nhớ năm 1969, khi qua Vạn Tượng, thủ đ� nước L�o, t�i ngạc nhi�n gặp một huyện th�n b� nhỏ bất ngờ. Nhỏ hay lớn nẩy sinh từ so s�nh. T�i vừa qua Nam Vang, đi Tokyo rồi qu�y lại L�o tr�n đườ�ng tam gi�c ba thủ đ�. Cũng từ đ� t�i hiểu thủ đ� hay thị trấn c� c�i b�n ngo�i lớn b�, nhưng tự nội v� thực chất vẫn l� người. Người ở L�o, ở Vạn Tượng, l� con người thong dong thư th�i v� hiền dịu nhất t�i đ� gặp. Chỉ cần một c�i đẩy mạnh, họ h�a tan v�o kh�ng kh�, v�o l� nắng v� rừng s�u. Những người Việt l�n ở đấy l�y theo t�nh mộc mạc ch�n t�nh. Vạn Tượng trả cảm gi�c t�i về với Huế. Huế lớn lao khi t�i đến ở những năm 6, 7 tuổi. Nhưng Huế bỗng nhỏ nhắn khi t�i đi xa qua những tinh cầu thị trấn kh�c tr�n mặt đất m�ng lung.

Ở Vạn Tượng t�i gặp lại T�n Thất Kỳ. Anh c� chiếc xe Volkswagen trắng mới toanh. Một đ�m anh chở t�i đi trong b�ng tối m� mịt. Chốc chốc v�i ngọn đ�n treo, thả lẵng s�ng ti�u sắt v�o trong hao hụt. Xe đổ trước một nh� s�n, tiếng Kỳ vọng k�u b� Năm. Lời đ�p rạc rời : đ�ng cửa rồi �ng ơi ! khuya rồi ! L�c ấy Kỳ mới giải th�ch, m�nh t�nh dẫn cậu h�t chơi một tẩu thuốc phiện. T�i bật ngửa người chưa kịp phản ứng, th� đầu �c chợt nhớ Nguyễn Tu�n. Hai ch�ng t�i c�ng th�ch văn Nguyễn Tu�n. Biết đ�u Kỳ kh�ng muốn mở lại c�nh cửa sổ c�n mờ nhạt b�ng một kẻ t�i hoa c� lụy ?

Thời cư ngụ đường Paul Bert, v�i khi ở trường về, t�i hay leo tường nh�n sang nh� h�ng x�m. Một người đ�n �ng mặc �o the n�t, gầy nhom nằm bẹp tr�n phản gỗ. Cạnh �ng ngọn đ�n dầu lạc bẩn c�u �nh kh�i. �ng v�n v� dọc tẩu, r�t hơi, rả người v�o l�n kh�i b�ng quơ. Mắt lờ đờ bay bổng. Nơi căn ph�ng hắt hiu thinh lặng ấy, thỉnh thoảng một tiếng ho h�ng hắng kh�ng vượt nổi m�n kh�ng gian c�m lạnh nhờ nhờ. Chỉ tiếng k�u the th� một người đ�n b� Bắc vọng l�n nơi s�n ngo�i khứa cắt c�i �m �m. Người đ�n �ng duỗi d�i th�n x�c m�nh tới v� tận thời gian trong hộp kh�ng gian c�ch ly. L�u l�u th�m một hai bạn h�t chen ch�c v�o thế giới đ�y tầng, biến căn ph�ng th�nh điểm chợ của những tứ chi quờ quạng.

Mặc thế giới b�n ngo�i dồn dập tiếng phi cơ B.29 c�ng những tin tức thế chiến hai s�i động. Tấm m�nh đung đưa theo tim bấc ngọn đ�n dầu lạc ở cửa v�o l� l� chắn thế sự. Phải chăng t�i l� người độc nhất c� thể đưa luồng th�ng tin đột k�ch. Nhưng đ�i mắt t�i lặng thinh v� tr� tưởng t�i mơ hồ.

Cũng tại Vạn Tượng, một �ng chủ hiệu s�ch người Việt đ� tặng t�i to�n bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ. Số l� hồi đ� c� dịp gh� Nam Vang theo lời mời của Ho�ng th�n Sihanouk, mỗi đ�m t�i đều mua một tờ b�o Việt ngữ do nh� nước Kampuchia xuất bản. H�nh như tờ b�o do Ho�ng th�n l�m chủ nhiệm chủ b�t. Nhưng một bộ phận kh�c bi�n tập. B�o lạ l�ng. B�i viết ở trang đầu gồm x� luận v� tin tức ng�y n�o như ng�y ấy ca ngợi t�nh hữu nghị Kampuchia Việt Nam. Nhưng trang hai đăng to�n những b�i viết hằn học, b�u xấu t�nh t�nh gian xảo của người Việt, �cần ti�u diệt ch�ng như d� v�o đầu kiến�. Đọc xong v�i số t�i kh�ng c�n muốn tiếp tục thứ cơm mới chuyện cũ. Thế nhưng khi b�o ph�t h�nh v�o l�c nửa khuya, tối n�o t�i cũng m� xuống phố mua một tờ. Lật v�o trang ba đọc feuilleton Tiếu Ngạo Giang Hồ. Những chi�u thức Phong Thanh Dương dạy v� c�ng cho Lệnh Hồ Xung l�i h�t v� song. T�i kh�m ph� Kim Dung trong trường hợp bất ngờ như thế. Sang Vạn Tượng nghe c� hiệu s�ch Việt, n�n cố t�m đi l�ng mua. Vừa kể xong cuộc kh�m ph� ở Nam Vang, �ng chủ hiệu s�ch người Gia Hội, liền đem bộ s�ch 15 cuốn tặng t�i. Nằn nỉ thế n�o �ng cũng kh�ng khứng nhận tiền.

B�y giờ Vạn Tượng đ� xa. Chiến tranh mấy bận, hiệu s�ch ấy c�n kh�ng v� người chủ thanh nh� kia b�y giờ ở đ�u ? Ri�ng T�n Thất Kỳ phi�u bạt tới California, ng�y ng�y ngồi chi�m nghiệm c�u thơ �Đoạn bồng nhất phiến t�y phong cấp�.

B�y giờ t�i vừa đến Dharamsala. Một đoạn đường mới. Một cuộc đời kh�c.

Kh�ch sạn Tibet nơi t�i cư ngụ c� bảng yết trong mỗi ph�ng như sau : � Khi đi vắng hoặc ban đ�m, xin qu� kh�ch nhớ đ�ng cửa sổ. V�ng n�y c� nhiều khỉ�. Gay cấn ở chỗ trời oi bức tr�n 40 độ, kh�ng c� m�y điều h�a, lại phải đ�ng k�n cửa khi ngủ ư ? Một anh bạn ngoại quốc than với t�i rằng hoa tr�i anh mua ăn chưa xong đ� mất. T�i liền chỉ tấm bảng, anh ồ một tiếng mừng rỡ : May thật, t�i cứ nghi nghi ngờ ngờ, chả lẽ người dọn ph�ng lấy chăng ? May thật !

Khỉ ở với người. V� người tin người. B�i học thứ nhất ở Dharamsala.

Thị trấn ở đ�y đ�ng đ�c người �u Mỹ. Nhưng �t xi l� xi la như c�c nơi. Họ c� mặt như một sự khước từ đời sống T�y phương. Ăn chay, đi ch�n đất, m�nh quấn mảnh lungi hay sa-r�ng, tay chống gậy đi rừng. H�nh trang l� gi� v� bụi với bị vải nhẹ th�nh. G�i trai gi� trẻ, họ k�o nhau ngồi la liệt chuyện v�n l�c đ�m về suốt con đường Baghsu. Họ tụ tập về đ�y học Phật, chờ nghe Đức Dalai Lama ban những thời ph�p thường ni�n. C� người mới đến, người đ� ở một, hai năm.

Tr�i đất b� nhỏ, h�m ở T�n Đề Li gặp một chị nữ người Ph�p, sạch sẽ, tinh kh�i, ngơ ng�c hỏi đường. Chị t�m sự cả đời chưa bước ra khỏi ngỏ. Đ�y l� lần đầu ti�n ra ngoại quốc, đi xa tận � ch�u. Đi cho biết. Thoắt một v�i h�m sau, t�i gặp lại chị ở Dharamsala. Lần n�y miệng tươi cười nh� nhảnh, kh�ng rụt r� mấy h�m trước. Đi với một đo�n bạn người �u vừa gặp. Chị b� người trong bộ trang phục T�y Tạng mộc mạc, gợi cảm. Cứ như người vừa về lại qu� hương. Dọc đường t�i l�m quen với một chị người Gia N� Đại. Chị kể ba mươi tuổi đời rồi, hồi trước ng�y n�o như ng�y ấy đến c�ng sở l�m việc. Một h�m t�i tự nghĩ, chả lẽ cả đời m�nh cứ đều đặn nh�m ch�n như quả lắc đồng hồ sao ? Thế l� t�i ngưng hết mọi sự, bỏ việc v� quyết định l�n đường. Thoạt qua xứ N�pal, leo n�i tuyết Hy M�, đi khắp miền Bắc Ấn, nay về ở Dharamsala. Cộng lại ba năm rồi. Hỏi đời sống tiện nghi, ăn uống dư thừa b�n Bắc Mỹ kh�ng g�y kh� khăn g� cho chị ở đ�y sao ? Chị bảo ho�n cảnh n�o con người cũng sống được, miễn tự m�nh biết vui th�ch. Thức ăn ở Ấn l�c đầu kh� hợp, nhưng l�u riết cũng quen. Duy phải cẩn thận với nước uống thiếu vệ sinh ở đ�y. C� lần v� nước t�i bị kiết lỵ xu�t chết ở N�pal. B�c sĩ, y t� đều bảo kh� qua khỏi, thế rồi bỗng dưng l�nh sau ba th�ng nằm bệnh viện. Một thanh ni�n Thụy sĩ, t�i gặp ở Bodhgaya sau n�y, cũng c� cảm nghĩ tương tự. Anh bảo �i ch�o ăn uống ở đ�y kh� tr�nh bệnh lắm. C� tr�nh cũng chẳng khỏi. M� kh�ng ai tr�nh được bệnh đ�u, cứ bừa đi khắc quen. Đau th� đau c� sao đ�u, đau l�u cũng hết, t�i chẳng ki�ng kỵ g� !

�Một h�m v�o hạ tuần th�ng s�u, tất cả c�c ch�a T�y Tạng đều thỉnh đại hồng chung v� thắp đ�n s�ng rực. C�c ch�a vừa được tin một người Ph�p ở Paris tự thi�u c�ng dường cho T�y Tạng sớm được giải ph�ng dưới sự l�nh đạo của Đức Dalai Lama. Mọi người cầu kinh si�u v�ng. H�m sau tất cả c�c hiệu bu�n T�y Tạng ở Dharamsala đều đ�ng cửa ghi ơn v� nguyện cầu.

V�o ch�nh điện trang nghi�m ch�a Tsuglak Khang nằm đối diện dinh thất Đức Dalai Lama, t�i qu�n niệm trước vạc tường madala �B�nh xe thời gian� (Kalachakra). Bỗng tho�ng l�n trong đầu c�u thơ của Vũ Ho�ng Chương �Thơ ch�y l�n theo với lời Kinh� (1). Thơ kh�ng viết xuống, thơ kh�ng ng�m l�n, thơ kh�ng in ấn... Thơ ch�y l�n ! V� ch�y l�n theo với lời Kinh !

Thơ l� Kinh.

V� Kinh l� �nh s�ng. �nh s�ng huy ho�ng của thế kỷ XX b�ng l�n v�o ng�y 20 th�ng Tư năm Qu� M�o (11.6.63) tại thủ đ� Saigon.

�Kh�ng kh� vặn m�nh theo

�kh�c �a l�n nổi gi� !

...

��i ngọn lửa huyền vi

�Thế giới ba ngh�n ph�t gi�y ngơ ng�c... (1)

Ấy cũng bởi nước kh�ng c�n : nước mất ; nước kh� theo tr�i tim kh�ng m�u, biến s�ng Hằng lung linh th�nh cơn lốc c�t :

�S�ng Hằng kia

�bởi đ�u m� c�t bay ? (1)

C�t bay đưa sa mạc lấn chiếm trần gian kiều diễm ? Kẻ tỉnh thức� - Bồ t�t -� l�m g� trước cuồng phong đang h�i rụng từng ch�m nh�n thế ?

�Gọi hết lửa v�o xương da bỏ ngỏ

�Phật Ph�p chẳng rời tay. (1)

Để l�m g� ? Để l�m g� ? tiếng k�u vọng từ b�n kia trời phương T�y thực dụng. B�n n�y bờ Đ�ng phương kh�ng đ�p,

�Ngọc hay đ�,

�tượng chẳng cần ai tạc

�Lụa hay tre,

�n�o khiến b�t ai ghi.

�Chỗ Người ngồi :

�một thi�n thu tuyệt t�c

�trong v� h�nh

�s�ng ch�i n�t Từ Bi (1)

Nghệ thuật đ� vượt nghệ thuật bước v�o d�ng Linh thức lu�n sinh, h�a th�n th�nh Từ Bi l�n mẫn. Lịch sử sụp đổ, v� lịch sử l� chuỗi v� thường biến động k�o l�i người v�o th�c loạn, khổ đau

�Rồi đ�y,

�rồi mai sau c�n chi ?

�Ngọc đ� cũng th�nh tro

�Lụa tre dần mục n�t

�với Thời gian l� vết m�u qua� đi...� (1)

Thời gian hủy diệt. Thời gian như Thần chết, c�i ngốn ngấu tất cả. Thời gian c�n bị siết trong v�ng tay của Th�nh Mẫu K�li đen. Thời gian chưa t�i tạo. Thời gian chưa l� nguồn dưỡng nu�i sự vật, động cơ phiếu diễu của Niềm Người, d�ng chảy m�t Lu�n Sinh.

Tr�n hỗn độn của lịch sử, tưởng mọi sự sẽ hư v�. Nhưng kh�ng

�C�n m�i chứ !

�c�n Tr�i-Tim-Bồ-T�t

�gội h�o quang

�xuống tận ngục A Tỳ. (1)

Gi�ng b�o lắng, khi Tr�i tim Bồ t�t si�u thăng. Thơ theo m�i bật tiếng. D� người thơ biết �vần điệu của thi nh�n chỉ c�n l� rơm r�c� (1). Nhưng thi sĩ

�chỉ nguyện được l� rơm r�c !� (1)

Ai biết l�m rơm r�c, kẻ ấy th�nh đại ng�n. Bởi

�THƠ ch�y l�n theo với lời Kinh !1

Thơ kh�ng lưu vết. Thơ l� Kinh. Kinh l� �nh s�ng, khiến �mu�n vạn khối s�n si vừa mở mắt�(1). Kinh kh�ng xin, kh�ng cầu, kh�ng nguyện ước cho ri�ng m�nh. Kinh để

�tụng cho Nh�n loại h�a b�nh

�trước sau bền vững t�nh Huynh đệ n�y�.� (1)

 

 

2.

Sau ng�y hồng qu�n Trung cộng v�o x�m lấn T�y Tạng năm 1959, Đức Dalai Lama c�ng với ch�nh phủ của ng�i sang l�nh nạn tr�n đất Ấn ở Dharamsala. C�ng việc đầu ti�n họ thực hiện l� bảo tồn nền văn h�a truyền thống. X�y dựng đo�n kịch m�a d�n tộc ; thiết lập xưởng vẽ, xưởng mộc, xưởng đ�c... để bảo lưu nền nghệ thuật t�n gi�o. Phật gi�o T�y Tạng theo t�ng Kim Cương thừa (Vajrayana), cũng gọi l� Mật t�ng, một t�ng ph�i Đại thừa ph�t triển sau thời B�t Nh� v� Ph�p Hoa. Mật t�ng d�ng ph�p tu huyền b� như linh ph�, mật ch�, ấn quyết. N�n những b�ch họa Mạn Đ� La (Mandala) tr�n tường ch�a hay tr�n c�c bức vải treo (Thangka) l� một nghệ thuật hội họa sống động v� linh thi�ng. C�c biểu đồ mu�n h�nh vạn trạng n�y tập trung trong c�c khối vu�ng, tr�n, thể hiện tr� năng v� hoạt dụng tr�n lan vũ trụ, gi�p thị gi�c thiền định v� khai mở Gi�c ngộ. T�i d�m nghĩ rằng hội họa hiện đại v� ti�n tiến của T�y phương, như trường ph�i Kandinsky, đ� chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật si�u linh Mandala của T�y Tạng. Hệt như trường ph�i Ấn tượng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đ� chịu ảnh hưởng của hội họa Nhật Bản.

Sự th�c loạn trong mỗi t�m hồn người sẽ được lắng y�n v� cường dũng khi đối diện trong qu�n niệm Mandala hay Thangka. Ch�ng l� những bậc cấp dẫn lộ, tiếng thức tỉnh gọi k�u l�n đường trong thế giới thụy mi�n. D� lắm khi ta gặp c�c h�nh ảnh địa ngục, c�c bộ mặt T�ra dữ dằn như Quỷ sống. Thế nhưng T�ra� - Kẻ cứu độ -� đều l� h�a th�n từ giọt nước mắt của đức Qu�n Thế �m. T�y cơ, t�y l� m� T�ra t�y h�nh hiện th�n cứu độ, như �ng Thiện �ng �c ở c�c ch�a viện nước ta. T�ra c� cả thảy 21 h�a th�n qua c�c thuộc t�nh, tư thế th�n thể v� m�u sắc rực rỡ kh�c lạ.

Nghệ thuật vẽ tranh T�y Tạng chi ly nhưng si�u thực, linh thi�ng m� hiện đại. N� l� cỡ c�ch của t�m hồn trong bao b� th�n thể.

Cơ hồ như thu dẹp hết mọi Mandala, Thangka, th� giống n�i T�y Tạng sẽ diệt vong. Chắc v� thế m� khi vừa đặt bước ch�n đầu lưu vong, Đức Dalai Lama mở ngay c�c xưởng vẽ để lưu truyền sắc m�u b� ẩn c�ng tinh ba của tr� tuệ.

Lưu vong kh�ng l� chiếc t�i cẩm nang, m� l� bộ nhớ teo dần theo năm th�ng. Tựa da mặt người người lưu xứ đổi thay trước gương soi tuổi t�c. Chẳng mong chi c�c thế hệ kế tiếp chịu sao ch�p thần tr� hay tinh hồn d�n tộc. Hơn thế, chả lẽ văn h�a chỉ l� bản sao một sự dừng đứng, tho�i tr�o về qu� khứ ? Qu� khứ v�ng son thế n�o chăng, vẫn l� qu� khứ, c�i qua rồi, một thời đ� liệt sức b�nh sinh.

B�i học T�y Tạng dạy ch�ng ta sức sống hiện tiền v� oanh liệt của một giống d�n. Vừa giữ bản sắc truyền thống, vừa ph�t huy trong sinh lực mở đường theo xu thế hướng thiện của to�n cầu.

T�i thầm phục l�c đến thăm Norbulingka, trung t�m bảo lưu nền văn h�a t�m linh qua c�c xưởng vẽ, xưởng mộc, xưởng đ�c, xưởng may dệt, thủ c�ng nghệ. C� người n�i với t�i nền nghệ thuật n�y đang dần d� hủy diệt tr�n qu� hương T�y Tạng trước l�n s�ng duy vật tr�n theo g�t Hồng qu�n x�m lược.

Bảo lưu chưa đủ, c�n phải đ�o luyện thế hệ trẻ. T�i gặp rất nhiều thanh ni�n T�y Tạng tốt nghiệp từ những đại học nổi danh �u Mỹ. Họ thu th�i nền học thuật ti�n tiến của thế giới. Nhưng với căn bản văn minh T�y Tạng, họ thực h�nh t�i t�nh cuộc dung h�a Đ�ng T�y để đẩy x� hội cổ truyền tr�n đỉnh tuyết xuống h�a nhập với cuộc sống mới của nh�n loại. Chẳng những thế, Phật gi�o T�y Tạng đang l� động lực khai thị cho thế giới loạn tưởng ở phương T�y. Sau thời kỳ dẫn nhập của Phật gi�o Nhật Bản, Phật gi�o đang hoằng dương ở phương T�y ng�y nay l� Phật gi�o T�y Tạng.

�t khi nh�n loại chứng kiến sự thuyết phục �n h�a v� quyến luyến như khi nh�n nụ cười v� n�t mặt s�ng rỡ của Đức Dalai Lama. Một Tăng sĩ c� danh hiệu Phật sống, người đ� đắc ph�p, c� tr�nh độ tu chứng nhẫn nhục, tinh tấn v� ho�n m�n. Lời ng�i thuyết gi�o lắm khi kh�ng quan trọng bằng ph�p th�n ng�i tỏa chiếu một l�n s��ng diệu hiền khai ngộ v�o t�m thức ta. Ng�i kh�ng nu�i mộng lập gi�o hay l�m tổ sư. Ng�i c� đủ một c�ch tự nhi�n c�i nằm ngo�i những danh h�o ấy. Ở ng�i, th�n gi�o, khẩu gi�o, � gi�o giao h�a th�nh b�i thuyết ph�p b�nh dị nhưng si�u thần. �t Tăng sĩ � ch�u n�o c� ph�p lực cao cường, đạt sức thu h�t v� thu phục những đệ tử T�y phương nổi danh trong mọi lĩnh vực điện ảnh, văn nghệ sĩ, triết gia, khoa học, đại học như thế. Non trăm cuốn s�ch của c�c t�c giả quốc tế viết về những vấn đề nh�n sinh n�ng bỏng sau cuộc chuyện tr� đối thoại với ng�i. Ở ng�i, kh�ng c�n l� những cuộc Ph�p thoại r� r� kinh viện, l�m d�ng cải lương, n�i năng theo lu�n l� sơ đẳng của thiện - �c, hạnh ph�c - khổ đau thường tục, a dua c�ng thị hiếu của thiểu số trưởng giả phương T�y, những kẻ đi t�m sự an tĩnh chốc l�t cuối tuần hay c�c kỳ lễ nghỉ. Nhưng lại đ�nh mất yếu t�nh giải tho�t tối hậu của Đạo Phật trong t�m linh v� giữa c�i đời.

Đạo Phật T�y Tạng thẩm thấu v� ho�n chuyển t�m thức T�y phương như ngọn kiếm tr� năng của Bồ t�t Văn Th� vừa chặt đứt từ gốc rễ th�c loạn ; như ngọn hải triều h�ng vĩ cuốn phăng những đợt s�ng lăn tăn ẻo lả.

Anh Tsultrim Palden, tốt nghiệp đại học Havard, tr�nh b�y cho ch�ng t�i nghe về cuộc đấu tranh giải ph�ng T�y Tạng. Anh kh�ng mất th� giờ đề cập sự v� nh�n v� độc t�i của chế độ cộng sản Mao-�t, điều ng�y nay chẳng c�n ai cần thiết nghe chứng minh. Anh tr�nh b�y sự khai th�c l�m sản của Trung quốc l�m � nhiễm m�i sinh ở T�y Tạng. Anh trưng c�c số liệu thống k�. Người nghe đau đ�u t�m can trước hiện trạng th� hiếm bị ti�u diệt, nạn ph� rừng nguy kịch đang thay đổi to�n bộ sinh th�i trong l�nh qu� hương anh. Chi tiết l�m r�ng m�nh kinh h�i nhưng �t nghe ai nhắc nhở : 85% nguồn nước m� nh�n d�n ch�u � d�ng, 47% nguồn nước phục vụ to�n thế giới, đều đổ xuống từ thượng nguồn T�y Tạng. H�i thật. Điều n�y c� nghĩa rằng, người cầm quyền sinh s�t nh�n d�n ch�u � v� nh�n d�n thế giới l� người chủ chiếm đ�ng T�y Tạng ng�y nay� - Trung cộng. Một nắm độc dược, c�c phế thải h�a chất, v.v... vứt tr�n nguồn nước ch�t v�t trời cao kia sẽ g�y nhiễm hay chết ch�c c�c trường giang, s�ng lạch m� 85% người � ch�u đang uống,� 45% nh�n loại đang d�ng !

Ch�nh nghĩa th�i chưa đủ cho mọi cuộc đối kh�ng, v� c�n cần nội dung văn h�a v� kiến thức. H�a ra phương tr�nh �Gi�c ngộ ph� V� minh� thật gọn v� minh x�c.

Tất cả những người T�y Tạng t�i gặp, từ Tăng sĩ đến Cư sĩ, từ tiểu thương đến cụ gi� nội trợ, chỉ cần thốt l�n với họ hai chữ Free Tibet ! (Giải ph�ng T�y Tạng) l� ta mở toang c�nh cửa t�m hồn đ�ng k�n tận th�m t�m. Tr�n c�c bộ mặt tr�ng như đ� tảng ngh�n năm, liền nở nụ cười h�n hoan chất ph�c như một v�ng tay huynh đệ siết lấy ngực ta. �Giải ph�ng T�y Tạng�, mật ngữ mang thần lực tập họp v� kết đo�n người T�y Tạng. Kh�c xa với từ ngữ �Chống Cộng� hay �Bọn phản c�ch mạng� trong x� hội người Việt.

Kể cũng lạ. Một d�n tộc sống tr�n đỉnh tuyết mi�n viễn, c�ch biệt ngh�n tr�ng với thế giới, với kỹ thuật. Mười mấy thế kỷ r�ng v�i m�nh giữa b�a ch�, linh ph�, tiếng chập ch�a với t�-v� xương quyển... Thế m� bỗng dưng� họ th�ch ứng t�i t�nh với thời thế. Vừa l�m ch�nh trị hay, vừa truyền đạo giỏi. Truyền đạo giỏi v� họ tu thật ? L�m ch�nh trị hay v� họ kh�ng l�m ch�nh quyền ? Họ tu v� họ sống. Họ hiện hữu để sống Ch�n Thật v� bảo vệ t�nh Ch�n Thật.

Phải chăng họ thấm nhuần đạo Phật hơn những giống d�n kh�c ? Họ nắm bắt T�nh Kh�ng như chỏm n�i quơ m�y ? Họ đặt đ�ng bước ch�n v�o con đường Trung Đạo ?

Trong khi hầu hết mọi người hiểu �Kh�ng� (Sunyata) tr�n phương diện thời gian, người Phật tử T�y Tạng hiểu chữ �Kh�ng� tuyệt đối theo truyền thống Đại thừa ?

Người Việt hay quen miệng ta th�n : C� đ� rồi kh�ng đ� ! C�u ta th�n rủ r� theo một loạt ch�n chường, tụ thủ, � l�, bất lực. Đời như giấc mộng lớn, c� đ� rồi kh�ng đ�, l�m chi cho mệt ! (Xử thế nhược đại mộng, hồ vi lao kỳ sinh). C�u viết của một hiền nh�n T�u ghi ra trong một t�m thế kh�c, trong một tri thức kh�c, lại được người Việt ta biến chất đem d�ng để khoe chữ v� che giấu sự ươn h�n).

Phải lắm. Th�n ta b�y giờ đang hiện hữu, nhưng mai kia sẽ chết. Hiện tại c�, tương lai kh�ng. C� đ� rồi kh�ng đ�. T�nh Kh�ng (Sunyata) được giải th�ch như vậy chỉ l� �Kh�ng� tr�n phương diện thời gian. Chứ chưa l� �Kh�ng� tuyệt đối trong Đại thừa gi�o. �Kh�ng� tuyệt đối (Sunyata) l� �kh�ng� ngay ở nơi hiện hữu. Bởi v� mọi hiện hữu chỉ l� giả hợp. Mọi danh xưng chỉ l� giả danh. Mọi hiện hữu, mọi c�i c� m� ta thấy, sờ m� hay cảm nhận, đều được lập th�nh từ nhiều yếu tố (duy�n). Kh�ng c� tự thể n�o ri�ng biệt, vĩnh hằng. Đống c�t kia do những hạt c�t kết nối l�m n�n. Cuồng phong thổi qua, đống c�t kh�ng c�n l� đống c�t, đống c�t tan bay. Xuống tới một hạt c�t lẻ loi cũng vậy, thuyết vật l� nguy�n tử cho biết chẳng c� ph�n tử n�o c� lập, ri�ng biệt m� hiện hữu. Kinh Kim Cang (Vajrachedikasutra) diễn tả thơ mộng qua b�i kệ : �Mọi sự tồn tại (c�c ph�p hữu vi) đều như mộng, như huyễn, như bọt nước, như b�ng, như sương m�c, như điện chớp. H�y quan s�t như thế!�.

Đừng qu�n c�u cuối rất quan trọng : H�y quan s�t như thế ! H�y qu�n chiếu như thế, h�y lắng s�u v�o đ�y thức bất tận, để đặt tr�i bom hạch nh�n l�m nổ tung lối suy nghĩ tr�i tay, lối suy nghĩ t� tr�, lối suy nghĩ thường tục, kẹt lối, nhị nguy�n v� vọng. N�i theo ng�n ngữ nh� văn Mỹ� Salinger, l� �H�y mửa quả t�o ra !�. Mửa ra khỏi l�ng dạ mọi mặc cảm tội lỗi hay v� minh che �m. Quan s�t, qu�n chiếu, lắng s�u v�o sự thật hiển nhi�n : �Mọi sự tồn tại (c�c ph�p hữu vi) đều như mộng, như huyễn, như bọt nước, như b�ng, như sương m�c, như điện chớp�.

Qu�n triệt được như thế, một sinh thức mới, một h�nh động mới hiện l�n tr�n ch�n trời Gi�c Ngộ.

Kh�ng chịu qu�n chiếu, m� chỉ giải th�ch b�ng quơ, rằng mọi sự l� �kh�ng�, mọi vật đều �giả danh�, mọi sự đều mộng, huyễn, bọt nước... dễ đưa tới t�c phong v� vi, l�nh đời, tụ thủ b�ng quan. Qu�n chiếu (quan s�t rốt r�o) l� vượt thắng c�i nghĩa đen ti�u cực chưa khai mở của s�ch vở, để bước ch�n v�o đường lớn của Trung Đạo.

Căn bản tuy �kh�ng�, tuy �giả hợp� v� �giả danh�, nhưng kẻ đạt tới Trung Đạo l� người dấn th�n l�m hết mọi việc. Kẻ ấy kh�ng chấp trước (cột d�nh v�o) quả b�o khi h�nh động -- bởi c�c tướng đều hư vọng. H�nh động như thế l� bộc lộ � nghĩa th�m huyền của Kinh Kim Cang: �Ưng v� sở tr� như sinh kỳ t�m� (kh�ng b�m v�u v�o bất cứ đ�u hay chỗ n�o khi ph�t t�m).

Từ đ�, l�m tất cả mọi việc m� kh�ng thấy m�nh l�m. Cứu độ mu�n lo�i m� chẳng thấy ai được cứu độ.Kh�ng thấy m�nh l�m�, �chẳng thấy ai được cứu độ�, n�i l�n tinh thần V� Ng�. Chứ kh�ng l� vấn đề ch�nh danh hay số lượng to�n học.

Tuyết thi�n thu v� đạo Phật khai ph�ng đ� t�i luyện n�n giống n�i T�y Tạng tr�n bước đường Trung Đạo chăng ? D� sao, căn bản văn-tư-tu đạo Phật ngh�n đời li�n tục của người T�y Tạng đ�ng cho ta suy gẫm về hiện trạng dao động, loạn tưởng, thất t�n của nhiều Phật tử Việt ng�y nay.

Mỗi buổi s�ng tinh thơ t�i gh� thị trấn McLeod Ganj v�o tiệm Amdo Cha-chung gọi một cốc tr� gừng.� Nhớ Huế. Nhớ b�t ch� Truồi v�ng trong như sắc v�ng tranh L� Phổ. Huế m� cũng l� Quy Nhơn. Thuở nhỏ c� thời t�i ở Cầu Đ�i nơi căn nh� �ng b� Ngoại. Nơi đ� c� n�i, con t�u suốt, c� l� gạch v� l� đường. Những t�ng đường m�u n�u sẫm ngọt xớt t�nh th�m thuồng trẻ n�t. Nước bọt kh�ng đủ l�m tan cơn khắc họng. Con t�u suốt từ Huế v�o, chạy x�nh xịch cuối b�a vườn của Ngoại. Tiếng vọng va v�o n�i thẳm, đến c�ng với tiếng c�i th�c giục gọi kh�ng gian tr�nh x� ra. Tr�n con t�u suốt ấy ch�ng t�i chỉ đợi một người. Người ấy l� dượng Ph�p. Lũ trẻ ch�ng t�i tu�n cỏ nhảy tr�n về ph�a con t�u đang quay b�nh thản nhi�n. Như một nghi thức, mỗi chuyến t�u qua dượng Ph�p nho�i người vất xuống một b� ch� Truồi xanh ngắt, tr�ng điệp v�o cỏ l� c�y đồi. Nhưng b� l� rong du v� cảm kia g�y s�ng sảnh t�m hồn ng�y dại ch�ng t�i.

B�y giờ Huế c� c�n kh�ng những b� b�n nước ch� Truồi cho những b�c phu xa v� kẻ qua đường khi h� tới ? B�t ch� bốc kh�i dưới nắng nung tr�n từng hạt mồ h�i lăn ngọc, đậm vị giải kh�t v� tăng cường cơn sảng kho�i. Nhưng rất dễ say m�ng với ai chưa quen, như số người lần đầu h�t điếu thuốc vấn Cuba khổng lồ.

Tiệm Amdo Cha-chung nằm tr�n tầng thượng lộ thi�n. Nắng gắt bổ xuống đầu. T�i chọn chiếc b�n đối diện d�y Hy M� Lạp sơn tuyết phủ, hiện sửng tr�n nền trời sau rặng n�i chập ch�ng quanh Dharamsala. V�i n�n m�y trắng leo ho�i lưng chừng sườn kh�ng thấu đỉnh. Dưới thung lũng những chỏm nh� m�i đỏ ẩn v�o sương sớm. Tr�n cao trời xanh ngắt. Những con � bay lượn kiếm mồi, chốc chốc lao s� xuống trũng s�u quắp chuột.

Chợt nhớ c�u thơ Huy Cận cực hay : �Chim nghi�ng c�nh nhỏ b�ng chiều sa�. Sa l� rớt, l� rơi. Nhưng kh�ng rơi đứng m� xế nghi�ng, v� c�nh chim chao nghi�ng như thi sĩ b�o hiệu. Kh�ng kh� c�ng gi� thường đỡ th�n chim bay bổng dưới c�nh đập. Song chiều bu�ng sa, ho�ng h�n nặng b�ng đ� l�n c�nh. Sức nặng của b�ng tối thật u trầm. Chim cố đỡ vẫn kh� trả về cho đất mảng nắng trưa nồng ch�y. Đ�m tan loảng vừng h�o quang người.

Chim, c�nh, tư thế tr�n m�n chiều..., những chữ nghĩa thơ. Song thơ kh�ng ở ri�ng đấy. Thơ hiện ra trong chớp mắt nơi B�ng chiều với tất cả d�ng v�c của n�. Chẳng phải chiều đ�u, m� l� b�ng của chiều. Bởi thế mới c� sa, c� ng� xuống, xế nghi�ng từ l�ng trời chạng vạng.

B�y giờ mỗi s�ng, đ�n � chao lượn duới mắt t�i kh�ng nặng c�nh ho�ng h�n, m� cứ l�nh tr�n tầng gi�. Chim s� theo � lực kiếm mồi, kh�ng l� c�nh chim thi sĩ sa theo b�ng chiếc chiều h�m.

Cốc tr� gừng l� giọt nắng đọng giữa tr�ng n�i bạt ng�n. Ba khối v�ng tươi quấn quyện. Đ�y cốc một lớp mật ong �ng ả. M�u nước ch� trong suốt b�n tr�n. Th�m đ�i l�t gừng đập dập. Người dọn b�n lẳng lặng đưa tới, nhưng kh�ch chủ đều hội � cho động t�c khuấy nhanh th�nh cốc nắng mượt m�.

Vị ngọt chen qua hớp đầu vừa ngụm, tới thanh quản bốc m�i gừng, v�o đến bụng tr� khởi sự tọa thiền. Từ phổi thở ra niềm vui thanh tho�t. Cứ thế từ từ, ung dung hớp đến cạn ly. Người l�ng tỏa ra m�y, ra gi�, ra hư kh�ng thi thiết. Người ng�t v�o l�ng n�i. �m thanh, m�u sắc đổ r�t v�o nhau đ�n mừng.

Cảm từ mỗi hạt m�u trong người những tri�u dương chuyển động.

(tr�ch đọan)

 

THI VŨ

 

1.      Lửa Từ Bi, thơ Vũ Ho�ng Chương, tr�ch từ "Ch�ng ta Mất Hết, chỉ c�n Nhau", NXB Rừng Tr�c, Paris 1974

 

http://www.gio-o.com/ThiVu.html

http://www.queme.net

 

� gio-o.com 2009