INGEBORG BACHMANN
(1926 – 1973)
« BÀ ẤY T̀M SỰ CHỞ CHE BẰNG CÁCH GIẢ VỜ »
Thế Dũng & Thiên Trường dịch


Peter Voss: Ông Reich-Ranicki, chúng ta đă chọn ra trong số những nhà văn lớn viết bằng tiếng Đức thời ḱ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai những người ông có quen biết. Hôm nay lần đầu tiên câu chuyện xoay quanh một nhà văn nữ. Trước khi tôi hỏi xem ông nh́n nhận bà ấy ra sao, ta hăy xem một trích đoạn ngắn có lời nói của chính bà ấy: “Và mặc dù luôn luôn có những tuyên bố thú vị của từng nhà văn về nhiệm vụ của họ nhưng bản thân tôi không biết đó là cái ǵ. [...] Dù vậy tất nhiên là có điều ǵ đó, nhưng bản thân mỗi người đều phải tự biết giao ước với nó.”
Đúng, bản thân mỗi người đều phải tự biết giao ước với nó. Tất nhiên đó không phải là một lời phát biểu thật cụ thể. Thật ra bà ấy đă từ chối trả lời, đáng ngạc nhiên đối với một nhà văn nữ thời hậu chiến, người bạn đồng hành của thế hệ có một nền văn học vô cùng nhiệt thành, một người mà người ta tin chắc là phải nhận thấy nhiệm vụ của các nhà văn.
Marcel Reich-Ranicki: Trước hết: Tuyên bố chúng ta vừa mới nghe đây rất đặc trưng cho Ingeborg Bachmann. Bà ấy đă từ chối mọi nhận định cụ thể khi được phỏng vấn. Bà ấy yêu thích những cái mập mờ, mơ hồ và không chính xác. Điều đó ngoài ra cũng đă góp phần vào thành công của bà ấy.
Tôi gặp Ingeborg Bachmann năm 1959. Năm 1958 tôi trở lại Đức từ Ba Lan, nơi tôi đă bị Hitler trục xuất. Và đến năm 1959 đă lần thứ hai dự một buổi họp của Nhóm 47, nơi tôi nh́n thấy Bachmann lần đầu tiên. Tôi đă biết tới tác phẩm của bà ấy. Và tôi biết danh tiếng của bà ấy là rất lớn. Trong buổi họp đó bà ấy đọc một truyện ngắn với nhan đề Mọi thứ tại lâu đài Elmau, cách không xa khu nhà thờ Garmisch-Parten trên dăy Anpơ. Và chuyện xảy ra tại đó rất điển h́nh cho Ingeborg Bachmann và cũng đă có ảnh hưởng đến quan hệ của tôi với nhà thơ nữ này. Hai thành tố đồng thời gây ấn tượng rất mạnh với tôi ngay từ đầu: chất lượng thơ của bà ấy và cái t́nh trạng hơi khác thường là nhà thơ nữ được bao bọc bởi một vầng hào quang. Trong buổi đọc đó bà ấy ngồi bên bàn phía trước. Bà ấy phải bắt đầu, và khi đó tất cả các tờ giấy, toàn bộ bản thảo bà ấy cầm trong tay, rơi xuống sàn nhà. Ngay lập tức ba quí ngài lao đến.
Peter Voss: Cả ông nữa chứ?
Marcel Reich-Ranicki: Không, không, tôi th́ không. Tôi ngồi cách không xa lắm ở phía trước. Tôi phần nhiều là người quan sát hơn. Người ta nhặt nhạnh những tờ giấy, đưa nó cho bà ấy, bà ấy sắp lại chúng . Và ngay lập tức tôi tự đặt cho ḿnh câu hỏi: Bà ấy đánh rơi những tờ giấy đó hay đă cố t́nh ném chúng xuống?
Peter Voss: Câu hỏi này thực ra là một sự gán ghép. Nó thậm chí c̣n hơi thô lỗ.
Marcel Reich-Ranicki: Không. Nói cho ngay, đó hoàn toàn không phải là sự thô lỗ. Bachmann thích cư xử như thế khi chuyện tṛ với ba hay bốn người đàn ông, không chỉ vào cuộc họp ấy của Nhóm 47, cả những lúc khác, cả hai, ba, năm năm về sau nữa. Đột nhiên cái túi xách tay của bà ấy rơi xuống đất. Nó bị rơi hay bà ấy cố t́nh làm nó rơi? Trong khoảnh khắc bà ấy không ở trung tâm của sự chú ư, cái túi đă nằm trên sàn, ba ông vội vă chạy đến để nhặt cái túi lên cho bà ấy. Đôi khi chỉ là sự rơi của một cái khăn mùi soa.
Peter Voss: Dùng khăn mùi soa là một kiểu cổ hơn đấy.
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, nhưng câu hỏi được đặt ra là: Cái ǵ thế? Và câu hỏi này liên tục xuất hiện. Đó có phải là người phụ nữ nhút nhát cả thẹn không? Phải chăng đó chỉ có thể là giả vờ? Phải chăng đó là giả dối? Hồi đó, chủ yếu là những đối thủ phụ nữ, đă cho Bachmann là một diễn viên hài vĩ đại. Nhưng chuyện không đơn giản như vậy.
Peter Voss: ư kiến của ông trong vấn đề này là thế nào?
Marcel Reich-Ranicki: Tôi muốn mô tả điều ǵ đă xảy ra lúc đó. Hồi đó tại buổi họp của Nhóm 47, bà ấy ngồi đấy và đọc sau khi đă thu lại những tờ giấy. Bà ấy đọc rất khẽ câu chuyện có nhan đề Mọi thứ của ḿnh. Bà ấy đọc khẽ đến nỗi tất cả phải căng tai nghe mới lĩnh hội được tiếng thầm th́ này. Và câu hỏi lại được đặt ra. Bà ấy đọc khẽ như vậy v́ quá rụt dè hay th́ thầm để tạo ra sự tĩnh lặng, sự chú ư tuyệt đối? Người ta biết là những người nổi tiếng thích làm như vậy. Arthur Koestler lừng danh đă đến Đức hai, ba năm trước đó và đă tham dự một cuộc thảo luận ở Salzburg. Và khi bắt đầu phát biểu, ông ấy nói rất khẽ, b́nh thường ông ấy có một giọng nói mạnh mẽ, và tất cả phải gắng sức lắng nghe những lời nói của tác giả nổi tiếng thế giới, hồi đó vô cùng đại chúng và có uy tín. Thế, Bachmann đọc Mọi thứ. Chúng tôi rất ấn tượng. Tôi thích câu chuyện ấy vô cùng.
Peter Voss: Nhưng đó là truyện duy nhất ông thích trong tập truyện ấy.
Marcel Reich-Ranicki: Chà, khi đó tạm thời hăy c̣n chưa có tập truyện. Chúng tôi chỉ nghe câu chuyện ấy thôi. Tôi thấy nó rất ấn tượng. Sau đó tất cả chúng tôi cắt nghĩa và b́nh luận truyện đó như thường thấy ở Nhóm 47. Ít lâu sau, năm 1959/60, Bachmann làm giảng viên thỉnh giảng về thơ. Chức danh này mới được lập ra tại đại học Tổng hợp ở Frankfurt bên sông Main. Bachmann là giảng viên đầu tiên. Và bà ấy giảng bài về “Các vấn đề trong thơ ca đương thời.” Trong một buổi thảo luận ở lớp bà ấy được hỏi một cách rất quỵ luỵ: “Truyện Mọi thứ của cô được hiểu và b́nh luận rất khác nhau trong buổi họp của Nhóm 47. Có ba lời b́nh khác hẳn nhau của Hans Mayer, của Walter Jens và của Marcel Reich-Ranicki. Cách cắt nghĩa nào của câu chuyện ngụ ngôn này là gần với cô nhất, cô đồng ư, đồng ư phần nào với lời b́nh nào?” Bachmann th́ thầm trả lời: “Không cái nào cả.” Không nghe thêm được bà ấy nói ǵ nữa. Bà ấy thực sự hoàn toàn không phù hợp với công việc thỉnh giảng đó. Các sinh viên không thu nhận được ǵ ngoài việc được gặp mặt nhà thơ nữ nổi tiếng, người không muốn đưa ra câu trả lời nào cả. Nổi tiếng! V́ sao bà ấy lại nổi tiếng và có chuyện ǵ với toàn bộ vầng hào quang xung quanh bà ấy thế? Với điều này tôi sẽ đề cập tới câu hỏi của ông là ở đây cái ǵ là diễn xuất và cái ǵ không.
Peter Voss: V́ người ta có thể nhắc tới khả năng đóng kịch của rất nhiều nhà văn. Điều đó cũng có thể không phải là tiêu cực.
Marcel Reich-Ranicki: Hoàn toàn không. Nhưng người ta cũng không cần phải giấu diếm điều đó. Một tác giả tự giới thiệu ḿnh và đóng kịch là điển h́nh mà. Năm 1959 Bachmann đă bắt đầu làm thế. Lúc đó bà ấy vừa đúng hai mươi bảy tuổi. Hans Werner Richter, người sáng lập và dẫn dắt Nhóm 47 đến đài phát thanh ở Viên để chào bản thảo. Có một quí cô rất trẻ đang ngồi đó. Khi cô ấy rời pḥng trong chốc lát, Richter ṭ ṃ nhặt một tờ giấy đang nằm trên bàn: những bài thơ. Ông ấy đọc chúng, thấy chúng không tồi chút nào. Khi cô ấy quay lại, ông ấy hỏi ai viết những bài thơ đó. Cô ấy trả lời: “Tôi.” V́ thích những bài thơ ấy, ông ấy nói: “Cô biết không, tôi là người của Nhóm 47.” Dường như cô ấy không hề biết đó là cái ǵ, nhóm c̣n chưa nổi tiếng mà, và ông ấy mời: “Hăy đến chỗ chúng tôi đọc thơ trong những buổi họp các nhà văn nhé.” Và cô ấy đến và đọc những bài thơ ít lâu sau có trong tập thơ đầu tiên Thời giờ của cô ấy. Cô ấy gây ấn tượng vô cùng với Nhóm 47, cô ấy giành thắng lợi ngay lập tức. Đó là những bài thơ hay nhất. Đương nhiên bà ấy đă chọn ra những bài hay nhất! Bà ấy đọc chúng ở đó, và rồi tập thơ được xuất bản. Giờ đây bà ấy bắt đầu nổi tiếng. Ngay năm 1953 bà ấy đă nhận được giải thưởng của Nhóm 47. Đó là một cơn chấn động! Trong khi đó đấy không phải là một giải thưởng không giá trị. Một nhà thơ nghèo hoàn toàn vô danh đă được nhận giải, một tác giả nghèo mà tất cả mọi người coi là một người thợ điện sửa bóng đèn. Ông ấy tên là Heinrich Boell. Cả Günter Eich cũng đă được nhận giải. Boell được nhận một ngh́n Mark, không nhiều lắm, nhưng nó gắn liền với tiếng tăm và thành công.
Bà ấy, bà Bachmann hoàn toàn vô danh không có một cuốn sách nào, đă được nhận giải. Cuốn sách xuất bản, và năm 1954, một năm sau, có một cơn chấn động. Không thể hiểu nổi.
Peter Voss: Ư ông muốn nói câu chuyện trang b́a báo Tấm gương?
Marcel Reich-Ranicki: Đúng! Báo Tấm gương là một tờ báo nổi tiếng, lần đầu tiên trong lịch sử đă dành trang b́a của ḿnh cho một nhà văn, một nữ nhà văn. Chưa từng có chuyện ấy! Có các chính trị gia trên trang nhất, nhưng không phải là nhà văn! Ngoài ra, tôi nghĩ số báo này bán rất kém. Một nhà văn trên trang b́a, chả là ǵ cả. Nhưng đó là một cơn chấn động: Bachmann trên trang b́a! Mất nhiều năm cho tới khi lại có một nhà văn được in ảnh trên trang b́a, khi ấy là Heinrich Boell.
Chuyện ǵ đă xảy ra? Năm 1956 cuốn sách thứ hai của bà ấy Lời kêu gọi cḥm Đại hùng. Cả hai tập này, phải nói ngay là đă tạo nên giá trị của bà ấy. Trong mỗi tập chỉ có ít bài thơ. Đó là những tập thơ mỏng nhỏ. Nhưng nó bao gồm những bài thơ hay nhất mà Bachmann đă viết trong đời. Không có ǵ bà ấy viết ra giấy về sau này. Và bà ấy c̣n viết đủ loại nữa, có được tầm quan trọng ấy, sánh được với hai tập thơ này.
Điều khác thường là ǵ? Tại sao lại có cơn chấn động này? Trong lịch sử văn học không có sự t́nh cờ nào, và tất nhiên thành công của Bachmann cũng không phải t́nh cờ. Bachmann đă sáng tạo ra một thứ thơ trữ t́nh hợp nhất những nhóm độc giả, sự phê b́nh rất khác nhau. Bà ấy đă đưa ra giữa thời đại đó một điều ǵ đó rất khác thường. Chính là những bài thơ làm gợi nhớ đến Klopstock, thậm chí là đến Sappho, đến Droste-Huelshoff. Tôi chỉ muốn tiện thể nhắc đến điều đó. Chưa từng có người phụ nữ nào ở Đức làm thơ mà không làm gợi nhớ đến Droste-Huelshoff. Các nhà phê b́nh viết như nhau về tất cả những người phụ nữ ấy: giống Annette von Droste-Huelshoff.
Peter Voss: Nếu tôi không làm ông thấy phiền lắm v́ hỏi chen vào một câu, chúng ta có thể quay lại cả hai nhóm bà ấy đă gây ấn tượng nhé. Đó chính là tôi coi như ông muốn nói vậy, một mặt là những người theo truyền thống, mặt khác là những người theo hiện đại. Nói ngắn gọn, cả hai nhóm đều rất hài ḷng và đồng ư với bà ấy.
Marcel Reich-Ranicki: Bà ấy đă đưa ra cho cả hai nhóm một thứ: thơ trữ t́nh hiện đại. Nhưng tất cả các giáo viên tiếng Đức, giáo viên phổ thông, các nhà phê b́nh cũng đều hài ḷng. Nó có chút ǵ làm họ nhớ đến Klopstock, Hoelderlin và Trakl.
Peter Voss: Có những người tiếp đăi bà ấy gần như hùng ca.
Marcel Reich-Ranicki: Đúng. Và gợi nhớ đến Rilke. Mặt khác có một giọng rất hiện đại trong đó, một kiểu nói giảm, kiểu giọng của Brecht.
Peter Voss: Brecht và cả một chút Gottfried Benn nữa, đúng không? Cả hai.
Marcel Reich-Ranicki: Giọng kiểu Brecht là điều ǵ đó rất khác thường. Hồi đó Brecht ở phía Tây, ở Cộng hoà Liên bang Đức, rất ít được biết tới như một nhà thơ trữ t́nh. Nhưng bà ấy biết, bà ấy đă biết cái giọng ấy, bà ấy hợp nhất cả hai. Và sự đối lập ấy c̣n măi trong tác phẩm của bà ấy. Bà ấy có thể nói là đă ôm trọn cả vũ trụ. Trong những bài thơ của bà ấy có: mặt trời, mặt trăng và các v́ sao, những đường chân trời và những ḥn đảo.
Peter Voss: Cḥm Đại hùng cũng là vũ trụ mà.
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, những lục địa và những đám mây và những bờ biển, cả một vũ trụ.
Peter Voss: Ông không thích cái chung chung ấy đúng không ông Reich-Ranicki?
Marcel Reich-Ranicki: Không.
Peter Voss: Brecht khác. Chúng ta hăy lấy ví dụ là bài thơ của Ingeborg Bachmann có viết: Những cuộc chiến tranh không c̣n được tuyên bố nữa, mà được tiếp nối.
Marcel Reich-Ranicki: Đó là cái giọng khác.
Peter Voss: Nhưng cái giọng hùng ca cao vời không làm ông thích lắm, đúng không?
Marcel Reich-Ranicki: Cái giọng cao vời ấy? Không. Điều thú vị nơi Bachmann là bà ấy ôm ấp toàn bộ thế giới theo một cách có phần thầm th́. Và đó là điều gây hiệu quả tốt. Và bà ấy thét lên với giọng chói tai về những điều thầm kín, về t́nh yêu của ḿnh. Những sự tương phản này, những sự căng thẳng cùng cực này đă góp phần vào thành công của bà ấy và hợp nhất những nhóm rất khác nhau. Các nhà phê b́nh tiên phong quả quyết: Đó là thi ca mới. Và các nhà phê b́nh bảo thủ nói: Ô cuối cùng cũng có đây rồi, những người trẻ tuổi!
Peter Voss: Thế ông Reich-Ranicki đă nói ǵ?
Marcel Reich-Ranicki: Chà, tôi không nói ǵ cả.
Peter Voss: Tôi không thể nào h́nh dung ra được điều đó!
Marcel Reich-Ranicki: Có chứ, tôi hăy c̣n ở Ba Lan mà. Măi 1958 tôi mới sang.
Peter Voss: Sau đó ông đă nói ǵ khi đến đây? Ông đă chỉ trích gay gắt những truyện trong tập sách ấy, trừ Mọi thứ, cả tiểu thuyết Malina nữa.
Marcel Reich-Ranicki: À, à.
Peter Voss: Không truyện nào trong cuốn ấy làm ông thật hài ḷng. Sau cùng ông đă viết về năm truyện ấy, trừ Mọi thứ , là bà ấy nên đổi nghề, và ông nhắc đi nhắc lại rằng chuyện đó quan trọng. Nhưng trong khi đó ông lại nói thật ra tất cả những thứ này không phải là chuyện của bà ấy.
Marcel Reich-Ranicki: Tôi sẽ nói ông biết lỗi nằm ở đâu: ở chính tôi. Cuối cùng th́ năm 1961 tập truyện ngắn của Bachmann đă xuất bản với nhan đề Năm thứ ba mươi. Tôi đă viết một bài phê b́nh. Tôi không thích những truyện ngắn ấy ngoại trừ truyện Mọi thứ. Điều ǵ làm phiền tôi vậy? Ở trung tâm những câu chuyện là những con người khác nhau, trẻ và già, người này và người kia, nhưng tất cả đều khùng khùng, hơi loạn thần kinh, toàn những nhân vật tuổi dậy th́. Trong đó xuất hiện một ông thẩm phán, không c̣n trẻ nữa, cả ông ấy cũng dậy th́. Và chủ đề của Bachmann là chủ đề chung của văn học. Prômêtê chống lại cả thế giới hay Antigone chống lại xă hội. Bà ấy chỉ ra điều đó ngay trong thế giới hiện đại: Cá nhân nổi loạn, phẫn nộ và sau cùng suy vong.
Lỗi của tôi là ở đâu? Tôi đă viết, truyện ngắn Mọi thứ thật tuyệt vời, tôi thích nó. Ba, bốn năm trước, nữ diễn viên Elisabeth Trissenaar đến Hamburg. Bà ấy được mời đến một buổi thảo luận. Người ta hỏi bà ấy muốn đọc cái ǵ. Bà ấy nói: “Truyện ngắn Mọi thứ của Ingeborg Bachmann.”
Bà ấy đọc, và đọc hay. Chúa ơi, tôi nghĩ, tôi đă khen ngợi cái ǵ thế? Điều ǵ đă xảy ra? Hồi ấy tôi thích cái ǵ chứ? Truyện ngắn này là không thể đọc nổi, nó khùng khùng, loạn thần kinh, nó thật sự không hay! Về sau có một chuyện xảy ra với Malina mà tôi sẽ không bao giờ quên. Một chuyện như vậy chỉ xảy ra trong đời tôi một lần thôi. Tôi không biết trường hợp nào khác tương tự cả. Tôi đang ở Stockholm, nơi tôi làm giáo sư thỉnh giảng cho trường đại học Tổng hợp, và phải đánh giá tiểu thuyết Malina của Bachmann cho tờ Thời báo. Tôi đọc cuốn tiểu thuyết và tuyệt vọng. Tôi sợ. Là nhà phê b́nh tôi chưa từng thấy sợ đến thế lúc đọc và khi đọc xong một cuốn sách. Nỗi sợ của tôi liên quan đến một buổi phát h́nh tôi đă được xem. Ingeborg Bachmann được - tôi nghĩ, bà ấy đang ở Rom - phỏng vấn bởi Dieter Zilligen của đài phát thanh Bắc Đức, và ông ta đặt cho bà ấy một câu hỏi nào đó. Bà ấy trả lời như mọi khi, rụt rè, nhút nhát, ít lời. Và đột nhiên bà ấy nói: “Đàn ông, đàn ông bệnh hoạn. Tất cả đàn ông đều bệnh hoạn.” Zilligen sững sờ.
Peter Voss: Đó phần nào cũng là luận điểm của các truyện ngắn của bà ấy.
Marcel Reich-Ranicki: Người đặt câu hỏi của đài NDW sững sờ. Ông ta hỏi: “Xin lỗi? Bà nói ǵ?” Và bà ấy nhắc lại: “Tất cả đàn ông đều bệnh hoạn. Ông không biết điều đó sao?” Trong cơn tuyệt vọng Zilligen nhanh chóng đổi chủ đề. Cuộc nói chuyện tôi trích ở đây không chỉ được phát trên truyền h́nh, nó c̣n được in ra nữa. Nguyên văn nằm trong một cuốn sách viết về Ingeborg Bachmann. Đó là vào những năm cuối đời của bà ấy.
Peter Voss: Và v́ thế ông không b́nh cuốn tiểu thuyết này?
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, dù bản thảo tôi đă viết được một nửa. Ngoài ra từ đâu bà ấy có cái tên Malina cũng ḱ lạ. Đó là một từ Ba Lan có nghĩa là quả phúc bồn tử.
Peter Voss: Nhưng TS. Malina thật ra là cái tôi khác, trước hết là cái tôi-người kể chuyện...
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, tất nhiên. Nhưng ông biết không, đó là một câu chuyện cũ, và dù thế nó luôn đúng: Văn học thật sự hay trước hết v́ có tính tự thuật.
Peter Voss: Chỉ có là ở đây bà ấy đă tách rời cái tôi thành người kể chuyện và bà TS. Malina nọ. Khác với Ivan, người bà ấy yêu thực sự.
Marcel Reich-Ranicki: Đúng. Phụ nữ hăy c̣n viết văn mang tính tự thuật ở mức độ cao hơn nam giới. Sách do phụ nữ viết hầu như là những chân dung tự hoạ. Đấy không phải là một sự chỉ trích, không phải như người ta hay kêu ca: ông chỉ trích phụ nữ v́ điều này. Tôi không chỉ trích ǵ hết, tôi chỉ khẳng định sách của phụ nữ là những bức chân dung tự hoạ ở mức cao hơn sách của nam giới. Điều đó đúng cả với những nữ tác giả ngày nay, từ Gabriele Wohmann đến Brigitte Kronauer, đúng với tất cả.
Quay lại với Ingeborg Bachmann. Trong cuốn sách này bà ấy viết đi viết lại: “Tôi sợ, tôi phát điên, tôi mất trí” và những điều tương tự. Tôi thấy thế thật gây kích thích. Và tôi nghĩ chuyện sẽ kết thúc tồi tệ với Bachmann. Tôi không biết là ra sao, tự tử hay đại loại như vậy, viện tâm thần hay tự tử, và tôi nhớ tới lời nói vĩ đại của Matthias Claudius:“Tôi mong ḿnh không có lỗi trong chuyện này.” Tôi gọi điện cho biên tập viên văn học của tờ Thời báo ở Hamburg và nói: “Tôi đă đọc cuốn sách, đă viết được nửa bài phê b́nh. Nhưng tôi mong được thông cảm, tôi không thể viết về nó. Ông có thể nói là tôi đă thất bại với cuốn này, tôi không muốn phát biểu về cuốn sách này và mong ḿnh không có lỗi trong chuyện đó.” Ít lâu sau Bachmann qua đời. Và ngày nay chúng ta không biết chuyện ǵ đă xảy ra.
Peter Voss: Đúng, người ta đă điều tra cái chết của bà ấy. Khi ấy có rất nhiều luận điểm. Sau khi đốt một điếu thuốc và ngủ thiếp đi, bà ấy chết cháy trong căn hộ của ḿnh, người ta nói thế. Nhưng bà ấy vẫn c̣n có thể tự ḿnh báo động cho xe cứu thương hay nhân viên cứu hộ và chết mười ngày sau đó vào tháng mười năm 1973. Người ta tính đến từ chuyện tự tử sang giết người, hoặc đó chỉ đơn giản là một tai nạn. Tôi nghĩ Hans Werner Henze thậm chí c̣n cho thông cáo ở Rom và cho khám nghiệm mà không rút ra được điều ǵ. Nhưng có điều rơ ràng là: bà ấy bị ốm. Bà ấy nghiện rượu, nghiện thuốc.
Marcel Reich-Ranicki: Rất đơn giản là nghiện ma tuư. Người ta coi chính việc nghiện ma tuư này là nguyên nhân cái chết của bà ấy. Có những chuyện không bao giờ được làm sáng tỏ.
Peter Voss: Ư ông muốn nói chết v́ ma tuư?
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, điều đó được khẳng định. Ông biết không, có rất nhiều tuyên bố của những người cùng thời. Bachmann có một đặc điểm rất lạ lùng, rất quan trọng. Với văn chương của ḿnh bà ấy đă nhanh như chớp trở thành một phụ nữ vô cùng nổi tiếng ngay sau tập sách đầu tiên năm 1953. Và thực sự chỉ tới 1958 sau tập thứ hai, bà ấy là một người phụ nữ đi t́m đàn ông.
Peter Voss: Bà ấy cũng đă t́m được những người rất nổi tiếng.
Marcel Reich-Ranicki: Chỉ người nổi tiếng thôi. Một nữ đối thủ, một nhà thơ nữ, tôi không muốn nhắc tên ở đây, v́ đó là một nhận định quá gay gắt đă nói: “Ingeborg đáng thương. Bà ta luôn bất tỉnh v́ quá yếu. Và bà ta luôn bất tỉnh khi có một người đàn ông nổi tiếng đứng cạnh đó và có thể đỡ bà ta dậy.” Bachmann có quan hệ với Henry Kissinger, Paul Celan và Max Frisch. Không đồng thời mà lần lượt. Đó là những mối quan hệ có và không có t́nh dục. Bà ấy là bạn với Hans Magnus Enzensberger và Martin Walser, cả với Uwe Johnson nữa. Bà ấy có rất nhiều bạn bè, họ toàn là những người đàn ông nổi tiếng. Sao Bachmann có thể ngay lập tức chinh phục được mọi người đàn ông bà ấy muốn? Và khi đó bà ấy chẳng hề rụt rè chút nào! Frisch đă mô tả chính xác mối quan hệ giữa ông ấy và Bachmann bắt đầu như thế nào.
Peter Voss: Ông ấy viết cho bà ấy sau vở Vị chúa tốt bụng của Manhattan một bức thư, một lời khen ngợi vở kịch phát thanh...
Marcel Reich-Ranicki:... chỉ vài lời thôi, và bà ấy lập tức báo cho ông ấy: “Tôi muốn gặp ông.” Ông ấy đi cùng bà ấy đến buổi diễn ra mắt của vở Biedermann và bọn gây hoả hoạn của ḿnh.
Peter Voss: Nhưng cả hai không hề đến đó.
Marcel Reich-Ranicki: Ông biết điều đó nghĩa là ǵ mà. Một sự mê hoặc đến thế nào phát ra từ người phụ nữ này!
Peter Voss: Ông có thể hiểu được Max Frisch?
Marcel Reich-Ranicki: Từ từ đă nào! Tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều. Toàn bộ chuyện đó có phần khủng khiếp đối với một tác giả tiếng Đức. Vở kịch của ông ấy được công diễn lần đầu bằng tiếng Pháp tại một nhà hát lớn của Paris. Ông ấy sang Paris, bà ấy muốn đi cùng. Ông ấy mang bà ấy theo và không đi đến buổi diễn, mà h́nh như đi lên giường cùng bà ấy.
Peter Voss: Theo lời ông ấy tự thú nhận là có.
Marcel Reich-Ranicki: Do đâu mà có sự mê hoặc này? Bà ấy không thật xinh đẹp. Trong thời gian cuối đời khuôn mặt bà ấy đă bị huỷ hoại.
Peter Voss: Đúng thế, nhưng thời trẻ bà ấy rất hấp dẫn đấy chứ.
Marcel Reich-Ranicki: Không, không, bà ấy hoàn toàn không hấp dẫn; nhưng bà ấy được bao bọc bởi một vầng hào quang. Bà ấy đă trở thành một huyền thoại, và ta biết rằng danh tiếng có một ảnh hưởng gợi t́nh mạnh mẽ. Đàn ông yêu những người phụ nữ nổi tiếng. Phụ nữ yêu những người đàn ông nổi tiếng.
Peter Voss: Nhưng nếu lúc năy tôi hiểu đúng lời ông th́ bà ấy đă có ảnh hưởng này từ trước khi nổi tiếng rồi.
Marcel Reich-Ranicki: Không hoàn toàn như vậy. Bà ấy chỉ có được toàn bộ những mối quan hệ này sau khi nhận giải của Nhóm 47, sau thành công của cuốn sách đầu tiên của ḿnh. Bà ấy rơi khỏi khuôn khổ, chỉ có duy nhất một người phụ nữ như vậy với toàn bộ sự nhút nhát của ḿnh, gắn với sự nổi tiếng ghê gớm ấy. Trong Nhóm 47 bà ấy được gọi là “Đệ nhất phu nhân của Nhóm 47”. Tất nhiên đó là một câu đùa, không hơn không kém. Chỉ có là: Trong đó đă ẩn giấu một chút ít sự thật, sự tôn trọng lớn. Thế nhưng đệ nhất phu nhân với bà ấy là chưa đủ. Bà ấy muốn một thứ ǵ đó hoàn toàn khác. Bà ấy muốn là “Người phụ nữ hàng đầu tuyệt đối” của văn học Đức.
Peter Voss: Theo nhận định của ông bà ấy đă đạt được điều đó chưa?
Marcel Reich-Ranicki: Rồi. Trong thời ḱ đó không có người phụ nữ viết văn nào đóng vai tṛ tương tự như vậy. Biên tập viên của bà ấy hồi đó, Reinhard Baumgart của nhà xuất bản Piper kể rằng bà ấy vô cùng ấn tượng, trong một buổi ra mắt của Callas tại Scala Milan. Callas, đó là h́nh mẫu của bà ấy! Bachmann muốn trở thành một phụ nữ hàng đầu như thế. Và bà ấy cũng đă trở thành như vậy theo một nghĩa nào đó. Bà ấy đă mê hoặc đàn ông.
Peter Voss: Nhưng cuối cùng th́ bà ấy lại không hạnh phúc với ai cả, và Hans Werner Henze, người chung sống với bà ấy một thời gian dài ở Rom lại đồng tính. Họ rất hiểu nhau, nhưng đó là một sự gắn bó dựa trên việc người ta không trực tiếp cần ở nhau điều ǵ. Họ hiểu nhau về tinh thần và con người. Nhưng ngoài ra th́ tất cả đă kết thúc một cách bất hạnh.
Marcel Reich-Ranicki: Bản chất của t́nh yêu làm những câu chuyện t́nh kết thúc bất hạnh.
Peter Voss: Chà, một số kéo dài lâu hơn và một số không đến nỗi thật bất hạnh như những số khác.
Marcel Reich-Ranicki: Ở đây chúng ta phải đưa ra lời khuyên cho cuộc thảo luận tiếp theo. Khi người ta nói đến một nhà văn, đến cuộc đời ông ta, con người ông ta, tinh thần của ông ta, toàn bộ tâm tính của ông ta th́ nên quan sát tác phẩm, tác phẩm văn học và nếu có thể là thư từ và những tài liệu tương tự. Với Bachmann những thứ ấy không có nhiều lắm, chỉ có tác phẩm mà thôi. Đó là năm 1972, một tập truyện kể của bà ấy được xuất bản với nhan đề Đồng thời. Tôi đă phát hoảng! Đó là những truyện đa cảm thuần tuư.
Peter Voss: Thế truyện Mọi thứ có trong đó không?
Marcel Reich-Ranicki: Không, Mọi thứ nằm trong tập Năm thứ ba mươi xuất bản trước đó khoảng mười năm. Đồng thời xuất bản năm 1972. Nó gồm năm truyện. Phụ nữ luôn ở trung tâm, họ có những cái tên quá sức ḱ quặc: Beatrix, Miranda và tương tự. Một người là nhà báo, người kia là nhiếp ảnh gia, một người khác là phiên dịch, nhưng luôn nói về một người phụ nữ ấy thôi. Điều đó quá rơ ràng. Đó là những bức chân dung tự hoạ của Bachmann . Và với những người phụ nữ đó có một mô típ vô cùng quan trọng trong cuốn sách này, chính là họ không chắc v́ sao lại phải lên giường với đàn ông. Thật quả là mệt nhọc, một phụ nữ nói. Người khác nh́n nhận chuyện đó như một nữ bệnh nhân phải phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa. Tất cả họ đều không muốn biết tới tính dục. Người thứ ba nằm với một người đàn ông trên hai chiếc giường. Chỉ có một khoảng cách nhỏ ở giữa, nhưng tạo ra cả một vực thẳm chia cắt. Sự lănh cảm là mô típ chủ đạo của tập truyện Đồng thời. Nếuchẳng hạn một tác giả viết một truyện ngắn trong đó ông ấy đặt một người đồng tính vào trung tâm th́ c̣n chưa thể nói là bản thân ông ta đồng tính. Hoặc là ông ta đặt một người bất lực vào giữa truyện th́ không v́ thế mà bản thân tác giả phải là người bất lực. Thế nhưng nếu một tác giả viết bảy câu chuyện và nhân vật chính của tất cả các truyện đều bất lực th́ phải có lí do. Và sự lănh cảm có trong Đồng thời và cả trong các sáng tác khác của Bachmann như một mô típ có lẽ có liên quan nhiều tới con người bà ấy. V́ thế có lẽ t́nh bạn lớn với Hans Werner Henze đă khuấy động. V́ Henze có nói trong một buổi phỏng vấn sau cái chết của bà ấy là t́nh dục đă bị loại trừ ngay từ đầu.
Peter Voss: V́ thế mà họ hoà hợp với nhau đến vậy?
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, và Henze nói nguyên văn: “Cô ấy biết bản tính của tôi ngay từ đầu. Cô ấy biết chuyện đó không phải là vấn đề, và cô ấy chấp nhận điều đó có phần vui vẻ.” Nghĩa là ở đây chúng ta có một con người vô cùng khác thường.
Peter Voss: Nhưng tất nhiên chúng ta không biết chắc cái ǵ là nguyên nhân và cái ǵ là kết quả. Đó có thể là bản tính, hoặc là bà ấy đă trở nên như vậy do trải nghiệm của ḿnh, v́ có thể có nhiều nguyên nhân lí giải v́ sao những người nổi tiếng không hiểu nhau. Có lẽ bà ấy luôn là một người phức tạp.
Marcel Reich-Ranicki: Trước đó ông đă đặt ra một câu hỏi quan trọng. Tôi đánh giá sự đóng kịch này ra sao? Một câu hỏi rất khó. Tôi nghĩ tôi không thể trả lời nó rơ ràng được. Ở đây một cô gái trẻ từ một tỉnh của Áo bị đánh bại bởi danh tiếng và thành công. Cô ấy hoàn toàn không đáp ứng được thành công vĩ đại này. Câu chuyện trang b́a báo Tấm gương, những giải thưởng đến với cô ấy, hết giải này đến giải khác. Cô ấy ngày càng nổi tiếng hơn, cô ấy được mời đi đọc ở khắp mọi nơi. Và có lẽ cô ấy chỉ t́m sự che chở, t́m sự che chở bằng cách giả vờ. Từ đóng kịch với bà ấy là quá khắc nghiệt. Tôi nh́n nhận điều đó như thế, v́ bà ấy quá bền bỉ trong chuyện đó để người ta có thể lờ đi. Bà ấy đă t́m sự chở che trong nỗi sợ v́ bà ấy rất sợ hăi. Nói cách khác. Những chuyện như bà ấy giả bộ làm rơi đây đó khăn mùi soa và túi xách, rồi quá nhút nhát, việc đó rất đặc trưng cho tính cách của bà ấy. Một chuyện khác rất điển h́nh Bachmann. Một ngày nọ bà ấy bay sang Mỹ theo lời mời của Henry Kissinger, người bạn gắn bó với bà ấy. Bà ấy hạ cánh ở New York, và hăy xem, bà ấy không có hộ chiếu, không có thị thực nhập cảnh, không ǵ hết. Và quí cô đă ra khỏi nước Đức bằng cách nào mà không có hộ chiếu và thị thực nhập cảnh vào Mỹ?
Peter Voss: Ông biết điều đó chứ?
Marcel Reich-Ranicki: Tôi không biết.
Peter Voss: Có lẽ người ta phải hỏi Henry Kissinger.
Marcel Reich-Ranicki: Bà ấy lên máy bay, bà ấy hạ cánh, bà ấy đến nơi và - đó là cao trào của câu chuyện, người Mỹ cho phép bà ấy vào đất của ḿnh. Không có hộ chiếu. Nhưng bà ấy báo cho Kissinger. Và ông ta đến. Ông ta chưa là ngoại trưởng, nhưng là một giáo sư nổi danh của Havard và đă có những nhiệm vụ quan trọng nào đó ở Washington. Ông ta đến đón bà ấy. Chuyện ǵ đă xảy ra? Nếu ông hỏi tôi, th́ bà ấy đă mất hộ chiếu ở dọc đường. Hoặc là bà ấy không t́m ra nó trong túi.
Peter Voss:... hoặc đánh rơi và không ai nhặt hộ bà ấy.
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, đúng, đúng, bà ấy rối trí hay đại loại thế. Nhưng bà ấy đă sang Mĩ. Đó là điều gần như khó tin nhưng điển h́nh và đặc trưng cho tính cách của Ingeborg Bachmann.
Peter Voss: Theo ư ông do đâu mà có nhu cầu được chở che này? Dựa trên những trải nghiệm thời thơ ấu? Bà ấy đă viết về tuổi thơ của ḿnh ở Kaernten, ở Klagenfurt. Bà ấy lớn lên trong một thung lũng nhỏ ở Gailtal, rồi ở Klagenfurt. Có liên quan đến chuyện đó không? Bà ấy kể lại những sự kiện, ví dụ như việc người Đức tiến quân chiếm đóng nước Áo mà bà ấy mô tả như việc chấn động tâm thần. Rồi tất nhiên sau năm 1945 là sự phát hiện điều ǵ đă thực sự xảy ra, điều rơ ràng là một cú sốc đối với bà ấy - dù bản thân bà ấy không bị nhiễm chủ nghĩa phát xít.
Hay ông nghĩ đó đơn giản là bản tính của bà ấy đă thế rồi? Điều ǵ giải thích nhu cầu được chở che này?
Marcel Reich-Ranicki: Nguyên do là bà ấy là một phụ nữ trẻ yếu đuối đến từ một tỉnh của nước Áo. Bà ấy đột nhiên đứng trên một đỉnh rất cao, việc này làm bà ấy rất ưng ư và do như thế nào đó mà bà ấy không đáp ứng được điều ấy. Có lẽ từ đó sinh ra nhu cầu được chở che này. Ngoài ra, không chỉ có thể t́m thấy vấn đề tính dục, sự lănh cảm trong năm truyện ngắn của Đồng thời. Ngoài ra nó c̣n mang nội dung là tất cả những phụ nữ đứng ở trung tâm, nữ phiên dịch, nữ nhà báo, cũng đều cần đến sự chở che. Nhưng họ luôn có những người ở xung quanh ḿnh ủng hộ, tôn thờ, che chở. Đó tất nhiên là những bức chân dung tự hoạ rất rơ.
Bản thân tôi cũng có những sự kiện ḱ lạ với Bachmann. Đương nhiên không thể có t́nh bạn giữa một tác giả và một nhà phê b́nh. Điều đó chỉ có trong các trường hợp ngoại lệ. Tôi làm bạn với Siegfried Lenz nhưng tôi chưa từng viết bài phê b́nh về cuốn sách nào của Siegfried Lenz.
Peter Voss: Có lẽ t́nh bạn dựa trên điều đó.
Marcel Reich-Ranicki: Tất nhiên rồi! Nếu tôi viết bài phê b́nh sách của ông ấy th́ đă chẳng thể có t́nh bạn nào cả! Một lần tôi đă viết một cách nghi ngờ, nửa nọ nửa kia về Siegfried Lenz trong một bài tiểu luận - từ rất lâu rồi, tôi nghĩ là vào năm 1963. Quan hệ bị đứt quăng một năm ṛng. Khi ấy tôi tự nhủ, với ḿnh ở đây t́nh bạn quan trọng hơn nghề nghiệp. Tôi thà không viết ǵ thêm về ông ấy nữa. Ông ấy bằng ḷng với việc này. Và có chứ: Tôi viết bài mừng sinh nhật hay khi ông ấy nhận được giải thưởng nhưng không bao giờ là bài phê b́nh sách của ông ấy. Quay lại với Bachmann. Đương nhiên không thể có một mối quan hệ b́nh thường hợp lư giữa bà ấy và tôi. V́ bà ấy có đọc những cái tôi viết về ḿnh. Bà ấy hoàn toàn không hài ḷng với bài b́nh của tôi về tập truyện Năm thứ ba mươi của ḿnh. Tôi đă khen ngợi và ca tụng một số bài thơ, nhưng cũng nói chúng phải hàm ơn những hoàn cảnh nào. Và điều sau đă xảy ra. Một ngày nọ tôi gặp bà ấy tại Berlin. Bà ấy ở đó v́ có diễn một vở nhạc kịch của Hans Werner Henze, Vị lănh chúa trẻ tuổi.
Peter Voss: Bà ấy đă viết phần lời.
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, theo một câu chuyện cổ tích của Wilhelm Hauff. Trước đó bà ấy đă biên tập vở Hoàng tử Friedrich của Homburg của Kleist cho Henze. Thế là bà ấy ở đó. Tôi tṛ chuyện với Henze và Hans Mayer, sau đó bà ấy tới. Và tôi có trải nghiệm ḱ lạ như thể nó được bịa ra vậy. Nhưng không phải thế! Bà ấy bực bội với tôi, tất nhiên. Tôi đă viết điều này điều nọ về bà ấy mà. Bà ấy bực bội, nhưng ở mức nào đó chúng tôi vẫn nói chuyện với nhau được . Và rồi bà ấy tặng tôi một bản thảo vở Vị lănh chúa trẻ tuổi. Tôi ngỏ lời cám ơn và xin bà ấy đề tặng cho vài ḍng. “ồ vớ vẩn”, bà ấy trả lời, “tôi sẽ không viết ǵ vào đó đâu, chuyện ngớ ngẩn này là để làm ǵ chứ! Nhưng nếu ông nhất định muốn thế th́ tôi sẽ làm như vẫn làm trong những trường hợp như thế này: Tôi sẽ mở đại một trang, lấy bút bi gơ vào một ḍng nào đấy. Tôi sẽ viết ḍng đó cho ông”. Bà ấy cũng đă làm như vậy, gơ vào một ḍng, đọc và sững sờ: “Thần thiện hăy tốt với ngài. Hăy tốt nhé”, bà ấy đọc. Thật sự bà ấy không muốn vậy. Nhưng bà ấy tôn trọng thoả thuận và viết vào: Thần thiện hăy tốt với ngài.
Peter Voss: Đó là một lời tiên đoán đă thành sự thật.
Marcel Reich-Ranicki: Đúng. Tôi hăy c̣n giữ bản thảo có đề tặng của bà ấy đến ngày nay.
Peter Voss: Tôi có thể quay lại với việc phê b́nh không? Ông đă tuyên bố rất rơ ràng, và người ta phần nào đă bực ḿnh với ông v́ chuyện đó. Ông đă diễn đạt các khái niệm như “tính hay tự ái của thiếu nữ”, trong phê b́nh của ông cũng vang lên khuynh hướng đa cảm. Có thể bác lại là chuyện đó tất nhiên có cả ở những người khác. Nhưng người ta gán ngay cho là chỉ có phụ nữ bị viết như vậy c̣n đàn ông th́ không bao giờ. Nhưng nếu người ta lấy ra một tác giả lớn như Rilke th́ người ta cũng phải nói là xu thế hướng đến sự kiểu cách cho tới những truyện t́nh cảm của ông ấy cũng đă đem lại những cái tuyệt vời và thất bại. Thế là lời chỉ trích đối với ông là ở điểm này ông không công bằng hoặc đánh giá một phụ nữ khác đi và lôi ra những quan điểm mà ông không cố làm đối với một người đàn ông.
Marcel Reich-Ranicki: Không! Tôi thấy việc tôi đánh giá Bachmann khác đi v́ bà ấy là phụ nữ thật nực cười. Tôi không thể đánh giá văn học theo tiêu chí người sáng tạo ra nó là phái nam hay nữ. Tôi biết rằng một trong những tiểu thuyết viết bằng tiếng Đức hay nhất là do một phụ nữ viết, chính là cuốn Cây thập tự thứ bảy của Anna Seghers. Và tôi biết có một số nữ thi sĩ trữ t́nh rất vĩ đại. Nói ngắn gọn, nếu người ta hỏi tôi ai là ba phụ nữ quan trọng nhất trong lịch sử thơ ca Đức th́ thậm chí tôi nghĩ ḿnh có thể mạo hiểm quả quyết rằng: Những bài thơ Đức hay nhất là do phụ nữ viết, của Annette von Droste-Huelshoff, của Else Lasker-Schueler và Ingeborg Bachmann. Tôi nghĩ bà ấy là nhà thơ nữ quan trọng bậc nhất thế kỉ XX dù cho không phải bà ấy mà là Nelly Sachs đă nhận được giải Nobel văn học. Bachmann ở một tầm cao hơn nhiều so với Nelly Sachs. Ông biết không, tôi không hiểu v́ sao người ta có thể chỉ trích một nhà phê b́nh là đánh giá văn học của nữ giới khác của nam giới. V́ làm sao phân biệt được văn học của nam và nữ giới? Sẽ luôn gắn với một sự mạo hiểm khi người ta chỉ ra những sự khác biệt. Khi tôi nói ở đây có treo rèm xanh, th́ người ta không hỏi: Ông phản đối ǵ rèm xanh chứ? Hoàn toàn không. Tôi khẳng định là rèm treo ở đây màu xanh. Khi tôi khẳng định phụ nữ trong văn học Đức mạnh mẽ nhất về thơ trữ t́nh th́ sẽ có vụ om ṣm ầm ĩ. “Như thế là ông muốn nói tiểu thuyết của phụ nữ không hay”, họ sẽ chỉ trích tôi. Dớ dẩn! Tôi đă đưa ra một ví dụ nổi bật về một nữ tiểu thuyết gia rồi đấy thôi, đó là Anna Seghers.
Peter Voss: Lúc đầu ông có nói về Ingeborg Bachmann là có những sự vật ông gọi là mông lung. Có bầu trời, mặt biển, vũ trụ, những cảm xúc lớn lao...
Marcel Reich-Ranicki:... vết khắc vào cơi không ràng buộc...
Peter Voss: Người ta có thể nói là có thể chịu được chuyện đó trong thơ trữ t́nh kiệm lời, vứt bỏ đồ vật, trong khi một truyện ngắn phải tràn ngập cuộc sống, đời sống mạnh mẽ hàng ngày, điều mà bà ấy cũng đă thử. Người ta có thể nói là ở đây bà ấy đơn giản đă thất bại không?
Marcel Reich-Ranicki: Điều đó đúng hoàn toàn với t́nh huống này. Trong thơ trữ t́nh nổi bật lên vết khắc vào cơi không ràng buộc và vĩnh cửu kia. Một chuyện thú vị. Trong thơ trữ t́nh của Bachmann cũng như của các tác giả khác những năm năm mươi, sáu mươi ở Đức, ta thấy có rất nhiều sự phê phán thời đại. Về chiến tranh thế giới lần thứ hai, chống lại các thế lực nguyên tử và những chuyện tương tự. Tất cả những điều đó cũng có ở thơ của bà ấy, chỉ có điều nó không bao giờ được gọi tên ra. Nó rất mông lung. Chỉ nhắc đến “thời giờ” mà thôi.
Peter Voss: Đó quả là một cách diễn đạt thiên tài!
Marcel Reich-Ranicki: Đúng, cách diễn đạt tuyệt vời, nhưng trong thơ của ḿnh bà ấy không hề diễn đạt các quan điểm chính trị của ḿnh để chúng có thể bị phê phán. Chúng đă được viết sao cho có thể được chấp nhận hoàn toàn, cả cánh tả và cánh hữu. Tôi không muốn gán ghép là đằng sau đó có sự tinh tế của Bachmann, nhưng nó là như vậy. Nhưng có một điều chắc chắn: nếu ngày nay chúng ta nh́n lại Bachmann, th́ thấy bà ấy đă viết ra một số bài thơ tuyệt diệu, có thể là mười, có thể là mười hai. Những bài thơ ấy sẽ sống lâu hơn tất cả chúng ta.
Tiểu sử Ingeborg Bachmann
Sinh ngày 25 tháng 06 năm 1926 tại Klagenhut. Bà là người con đầu của Olga và Mathias Bachmann. Mẹ bà là người Áo gốc Hà Lan, ông bố là thầy giáo, gốc gác là gia đ́nh nông dân ở vùng Obervellach gần Hermagor. Năm 1928, mẹ bà sinh thêm một cô em gái tên là Isolde và năm 1939, sinh thêm một cậu em trai tên là Heinz.
1932-1938, Ingeorg Bachmann học Tiểu học và Phổ thông trung học ở Klagenhut.
Năm 1933, gia đ́nh bà chuyển đến ngôi nhà ở phố Hensel gần Kreuzbergls và bà sống ở đó tới năm 1945.
1944, bà theo học khóa đào tạo giáo viên.
1945, bà rời bỏ thành phố quê hương tới Innsbruch, sau đấy tới Graz và học Triết học và Luật học tại đó.
1946, xuất bản truyện”Fähre” trên Tạp chí “Kärtner Illu strierte“ ở Klagenhut.
1946-1950,tiếp tục nghiên cứu Triết học, Đức ngữ và Tâm lư học ở Wien. Gặp gỡ Paul Celan, nhưng ông chỉ ở Wien một thời gian ngắn, sau đó họ cùng tới Paris
1948-1948, Xuất bản tập thơ đầu trên tạp chí „Lynkeus.Dichtung, Kunst, Kritik“ ở Wien. Quan hệ với nữ văn sĩ Ilse Aichinger và chịu ảnh hưởng của nhà văn, nhà phê b́nh Hans Weigel.
1949,hoàn tất khóa thực tập tại „Nervenheilanstalt Steinhof“-nay là Bệnh viện Thần kinh „ Baumgartener Höhe“ ở Wien.
1950, hoàn thành Luận văn Tiếp thu sự phê phán triết học hiện sinh của Martin Heideggeers.
1950-1951, Tiến sĩ Ingeorg Bachmann du lịch tới Paris và London. Bà làm việc như là một nhà văn, một biên tập viên, một đồng nghiệp của Jörg Mauthe und Peter Wieser trong Chương tŕnh Phát thanh „ Đỏ-Trắng-Đỏ“ của lực lượng quân đội Mỹ tại Wien. Tại đây bà đă làm quen với Hans Werner Richter, nhân vật Trung tâm của Nhóm 47 ở nơi mà bây giờ được gọi là Nhà văn chương của người Wien. Bà đă đọc thơ của ḿnh lần đầu tiên tại đó. Sự kết nối này là do ảnh hưởng của Nhóm 47 và cũng là thông qua nhà văn Milo Dor.
1952, Kịch truyền thanh "Ein Geschäft mit Träumen". Gedichtzyklus Ausfahrt im Jahrbuch " Stimmen der Gegenwart"do Hans Werner Richter xuất bản. Và cuộc đọc sách của bà ở Niendorf gần Ostsee cùng với Paul Celan do Nhóm 47 tổ chức đă thành công tốt đẹp. Sau đó là chuyến viếng thăm nước Ư lần đầu.
1953, Kết thúc công việc ở Chương tŕnh phát thanh " Đỏ-Trắng-Đỏ". Bà nhận Giải thưởng văn chương của Nhóm 47.
Và chuyển đến Forio trên đảo Ischia sống như một người hàng xóm của nhà soạn nhạc Hans Werner Henze. Tới Neapal.Cư trú tại Rom. Xuất bản tập thơ Từng giờ của Thời gian.
1954, được nhận trợ cấp của Pḥng văn hóa trực thuộc "Bundesverband der Deutschen Industrie"
1956, xuất bản tập thơ " Tiếng gọi của những con Gấu"
1957, Nhận Giải thưởng văn chương của Freien Hanse stadt
ở Bremen dành cho tập thơ "Tiếng gọi của những con Gấu".
Trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm về Ngôn ngữ và Thơ ca Đức tại Darmstadt. Xuất bản hai tập thơ: Trong giông băo hoa hồng" và " Freies Geleit". Những bài đă được Hans Werner
Henze phổ nhạc.
1957-1958, Ingeorg Bachmann làm biên kịch cho Đài truyền h́nh Bayerichen ở München.
1958, nổi tiếng với Kịch truyền thanh Thượng đế ở Manhattan xuất hiện như là một sản phẩm hợp tác với Đài phát thanh Bayerischen ở München và Đài phát thanh Bắc Đức ở Hamburg.
1958-1962, chung sống với Max Frisch ở Rom , ở Zürich. Và mối quan hệ này đă kết thúc bởi cả hai nhà văn.
1959, Giải thưởng Kịch Truyền thanh dành cho " Thượng đế ở Manhattan".
1959-1960, Ingeborg Bachmann, trở thành nữ giáo sư về Thi ca đầu tiên được mời tới giảng dậy tại Đại học Tổng hợp Frankfurt Mainz.
1960, công diễn vở nhạc kịch Chàng Hoàng tử ở Homburg
( Ca từ của Ingeborg Bachmann và âm nhạc của Hans Werner Henze) tại Nhà hát Nhạc kịch Hamburg.
1961, xuất bản tập truyện“Đó là năm 30“ và tập truyện này đă được nhận Giải thưởng Hội các Nhà phê b́nh Đức ở Berlin, trở thành Hội viên đặc biệt thuộc Ban văn học của Viện hàn lâm Nghệ thuật Berlin.
1963, Cư trú một năm tại Berlin với học bổng của Ford –Foundation. Quan hệ với Witold Gombrowicz, người được học bổng sống ở Berlin giống như Günter Grass và Reinhold Lettau.Và nhiều ngày nằm trong bệnh viện.
1964,Du lịch tới Prag, tới Ägypten, và ở Sudan với Adolf Opel. Nhận Giải thưởng Georg-Büchner của Viện hàn lâm Ngôn ngữ và Thơ ca Đức Darmstadt.
1965, Ingeborg Bachmann trở lại Rom. Giới thiệu Ca kịch Chàng Lorg trẻ tuổi tại Nhà hát kịch Berlin ( Ca từ Ingeborg
Bachmann, âm nhạc: Hans Werner Henze)
1968, nhận Giải thưởng Lớn dành cho văn chương của nước Áo
1971, xuất bản tiểu thuyết Manila. Một năm sau, xuất bản tập truyện „Đồng thời“. Nhận Giải thưởng của Anton-Wildgans của Hội kỹ nghệ gia Áo dành cho nữ tác giả.
1973, đọc sách ở Warschau và Đại học Tổng hợp Krakau, Beslau, Thorn và Posen ( BaLan).Thăm quan Trại tập trung
Auschwitz và Birkenau.Tiến sĩ Hans Marte, hiện nay là Giám đốc Thư viện Quốc gia Áo đă đưa Ingeborg Bachmann
Như là một Tham tán Văn hóa của Đại sứ quán tại Warschau.
17.10.1973, Ingeborg Bachmann qua đời sau một hỏa hoạn trong một căn hộ Ytaly. Ngày 25 tháng 10 năm 1973, bà được an táng tại Nghĩa trang ở Klagenhut-Annabichl.
1991, nữ văn sĩ Áo Elfriede Jelinek (Giải Nobel Văn chương 2003) đă chuyển thể tiểu thuyết Malina của Ingeborg Bachmann thành truyện phim. Bộ phim được thực hiện thành công bởi đạo diễn Werner Schröter. B́a 4 của cuốn truyện phim, có trích lời lời của Ingeborg Bachmann lúc sinh thời: Tôi sẽ tồn tại ở nơi không có ḿnh ở đó.
INGEBORG BACHMANN
(25.06.1926 – 17.10.1973)
« BÀ ẤY T̀M SỰ CHỞ CHE BẰNG CÁCH GIẢ VỜ »
Rút từ : Những Con Bệnh Khó Chiều
(12 cuộc Đối thoại văn chương giữa Marcel Reich-Ranicki & Peter Voß
về 12 nhà văn viết tiếng Đức của thế kỷ XX)
Người dịch: Thế Dũng & Thiên Trường
I SBN: 987-3-9813547-2-0 Sách dày. 378 trang.
Thiết kế B́a: Họa Sĩ Duy Ninh
VIPEN & Foyer TAO PHUNG hợp tác xuất bản
và phát hành tại Đức vào tháng 09 năm 2011
Theo Hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa:
Ullstein Buchverlag GmbH Friedrichstr.126-10117 Berlin
và Edition VIPEN tháng 04 năm 2011
http://www.gio-o.com/TheDung.html
© gio-o.com 2011