Thế Dũng

 

Sự  Truân Chuyên Của Hai Bài Thơ

 

tùy bút

 

 

1

 

Đến Bây Giờ Ta Vẫn ở Bên Nhau

 

Đến bây giờ ta vẫn ở bên nhau

Đêm ấy đếm sao trời quên ngủ

Nắc nỏm nghe con tắc kè tập hát

Được mấy tiếng bổng trầm gió sóng sánh đầy trăng

Ôm chặt nhau chuyện quê kiểng ŕ rầm

Đạn đau thế mày chỉ kêu hơi nhức

C̣n cứ chối là không tức ngực

Ba lô nặng è chẳng chịu để tao mang

Ngày đó đă yêu iếc ǵ đâu

Hoa phơ phất bầy ong nào thương mến

Hớp ngụm rượu bản Lào trước giờ qua trọng điểm

Ṿng cua bay. Pháo sáng. Bụi tung trời...

 

Đến bây giờ vẫn nhớ tuổi hai mươi

Cặm cụi ḅn tàu bay mỏi mắt

Được một nắm lo lèn không chặt bụng

Rủ nhau đi bẫy chột nướng thơm lừng

Cây ghita c̣n mỗi một dây thương

Năm giây nhớ lên ghềnh t́m chẳng thấy

Chúi mũi gẩy bập bùng hồn nhiên vậy !

Hát bâng quơ thương nhớ bỗng lên mầm

Cô gái ấy yêu mày mày chẳng biết bâng khuâng

Cầm thư hộ tao trách ḿnh xấu số

Dầu cây dương cuối cùng bom phạt đổ

Em vẫn đợi anh về. Em toàn nhớ anh thôi.

Mày th́ cứ ngơ ngơ ngượng ngượng chẳng nên lời

Bom nổ có ù tai mày cũng không quên nổi,

Kư ức ngọt ngào cứ dâng lên... tiếc nuối

Ai bảo cứ vô tư trước những chuyện vô bờ !

 

Ôi con đường tuổi ấy quá ngây thơ

Đom đóm múa cứ tưởng là tinh tú

Phấp phỏng chờ nhau bao lần tim muốn vỡ

Ngóng vệt đền gầm như ngóng b́nh minh

Ngủ trong lửa Trường Sơn nghe thác réo tên ḿnh

Tiếc chỉ có một thời trai trẻ

Phù Đổng quá  ! Ôi những ngày đánh Mỹ

Mắt chúng ḿnh ừng ực uống sông Ngân

 

Mắt chúng ḿnh xanh ngắt nước Củu Long

Càng giông băo sóng sông Hồng càng đỏ

Dẫu củ chuối, lương khô và nước lă

Đă yêu sông phải lên tận Kỳ Cùng

Kẻ hiểm độc đây rồi. Máu đỏ đất Tam Lung

Chúng trắng trợn hiện nguyên h́nh tàn bạo

Cởi trần mà bắn thôi ! Trời xanh kia là áo !

Đă trả kiếm cho Rùa Vàng mà vẫn không xong.

Và bây giờ lưng lại tựa vào lưng

Rê gươm lửa vùi thiêu quân bội phản

Ôi lá cỏ như buồm bên khe ngắm

Nhận kiếm của Rùa Vàng ta vạch sáng biên cương

Chúng kéo đến ùn ùn, xấc láo bất lương

Chúng cứ tưởng Đồi Không Tên vô chủ

Hăy tỳ súng lên vai. Lại có nhiều chuyện thú

 

Đến bây giờ ta vẫn ở nhau

Dẫu bao giờ ta vẫn ở bên nhau .

                                                   03.1979

 

2

Cuộc chiến ở biên giới phía Bắc bùng nổ vào ngày 17.02.1979. Sinh viên các trường Đại học ở Hà Nội lúc bấy giờ ở trong t́nh trạng sẵn sàng xung trận và lâm trận. Thoạt đầu bài thơ có cái tựa rất giản dị là Bạn Lính và không có câu cuối cùng.  Lúc đó tôi đang là sinh viên năm thứ ba của Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I. Nhà thơ Phạm Tiến Duật tấm tắc  sau khi đọc xong bản thảo chép tay và quyết dịnh: Bài này sẽ in ! Dạo ấy Phạm Tiến Duật Phụ trách việc biên tập thơ ở Báo Văn Nghệ. Tôi tin anh sái cổ và thầm sung sướng. Khoảng hai ba tuần sau tôi ghé qua anh hỏi thêm về số phận của bài thơ. Anh bảo: Thế Dũng yên tâm đi, đánh máy xong rồi ! Sẽ cho đi vào số... đầu  tháng 05.79.

 Tôi lúc đó 24 tuổi, đă không c̣n cảm hứng hồi hộp khi lần đầu tiên được in thơ 4, 5 năm về trước; nhưng không hiểu sao vẫn rất thích khi biết bài thơ Bạn Lính sẽ được in. Nhất là được in trên Tuần Báo Văn Nghệ. Tôi khoe vung lên với các bạn trai bạn gái cùng lớp và vui vẻ lên đường đào chiến hào trên một pḥng tuyến ở phía Bắc Hà Nội.

  Đến ngày số báo mà nhà thơ Phạm Tiến Duật đă giơ tay chém vào không khí rất nhiều lần để quả quyết cho sự ra đời của Bạn Lính th́ tôi đă thất vọng. Sau khi đi bộ ra thị trấn gần khu vực đào pḥng tuyến mua bằng được tờ Văn Nghệ, lật hết 16 trang không thấy thơ ḿnh đâu tôi buồn lặng người. Buổi ấy, tôi đào đất uể oải chán chường. Trong ḷng th́ bực bội vu vơ. Ngoài mặt th́ xấu hổ với những người mà ḿnh đă khoe vui tớn tở rằng thơ tớ sẽ in. Một. Rồi hai tuần lễ nữa trôi qua.Tôi cũng không hề thấy bài thơ Bạn Lính xuất hiện như lời Phạm Tiến Duật hẹn ḥ. Và tôi cũng không hề nhận được một nhắn nhủ hoặc hồi âm nho nhỏ nào của anh. Tôi tự ái và tự thề với ḷng ḿnh là sẽ không bao giờ gửi bài cho họ Phạm nữa.

Chiến dịch đào hào trên pḥng tuyến sông Cầu kết thúc. Tôi trở về trường và tiếp tục lên lớp. Tưởng chừng như có thể quên đi chuyện in thơ.

 

3

Không ngờ bài thơ Bạn Lính cùng với cả một nẻo đường rừng thời trận mạc vẫn  cựa quậy không nguôi trong óc tôi. May sao vẫn c̣n một bản nháp cuối. Tôi lại chép lại sạch sẽ và chợt nhớ ra là có thể gửi nó tới Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. May sao buổi sáng thứ ba ǵ đó của tháng bảy năm 1979, người tiếp tôi tại pḥng khách của Ṭa Nhà số 4 phố Lư Nam Đế  ( Ṭa soạn Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội ) là nhà thơ Thu Bồn. Vừa mới đi nhận giải thưởng của Hội các nhà văn A Phi  ở Angola về cho nên lúc ấy con người Thu Bồn tràn đầy sinh khí cởi mở. Dáng người  vạm vỡ. Nước da nâu bóng. Mắt như có suối reo nước chảy. Miệng rộng tràn trề những ẩn ngữ đam mê mănh liệt. Mũi nở ngạo nghễ một vẻ lăng du phồn thực. Anh  hào phóng rủ tôi hút thuốc Tam Đảo bao bạc trong khi anh đọc ngay lập tức bài Bạn Lính. Tôi cũng chậm răi hút thuốc chờ đợi . Dạo đó Thu Bồn làm biên tập thơ ở Văn Nghệ Quân Đội cùng với nhà thơ Vương Trọng và nhà thơ Anh Ngọc. Tôi chiêm ngưỡng vẻ mặt rất là Ba Dan Khát , rất Tây Nguyên của Thu Bồn. Khoảng năm mười phút ǵ đó th́ anh bắt đầu phán. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ là tôi đă cảm động và sung sướng đến lâng lâng v́ những lời nhận xét chân thành của anh. Anh bảo: Đây thực ra là một bài thơ t́nh. Ḿnh sẽ cho đi vào số tháng 10. Bây giờ bọn ḿnh đă làm xong trang thơ cho số tháng 8, tháng 9 .

Hôm nay là thứ ba. Thế Dũng hăy mang về xem kỹ lại đoạn cuối một chút. Ḿnh cảm thấy vẫn c̣n có thể hay hơn. C̣n cụ thể phải làm như thế nào th́ tùy bạn. Sáng ngày kia, 10 giờ mang bản thảo đến đây. Tôi cảm ơn Thu Bồn vô hạn v́ nhà thơ  c̣n bói  về thơ tôi: hơi thơ của Thế Dũng rất khỏe, c̣n đi xa nữa. Thơ này là thơ có hơi thở của Trường ca.

Lúc ấy tôi chỉ muốn ôm hôn Thu Bồn cho thỏa cái sướng của kẻ gặp được người đồng thanh đồng khí nhưng không dám. Bởi v́, trước đó tôi đă ấm ức  v́ một nhà thơ  Biên tập thơ ở Tạp Chí văn Nghệ Hải Hưng đă từ chối không sử dụng bài thơ này với nhận xét. Âm hưởng chung của bài thơ là ca ngợi. Song có nhiều câu thơ quá phi lư, không thể chấp nhận. Ví dụ: mắt chúng ḿnh ừng ực uống sông Ngân. Hóa ra khi gặp được Thu Bồn có nghĩa là gặp được một người thẩm thơ sành điệu.

Tôi nghe lời anh. Đọc kỹ lại. Ngẫm nghĩ măi. Rốt cuộc , tôi thêm vào một câu nữa:  Dẫu bao giờ  ta vẫn ở bên nhau để có hai câu đứng xuống hàng thành một đoạn kết. Sau đó, tôi đổi nhan đề bài thơ là Đến Bây Giờ ta vẫn ở Bên Nhau. Và,  chợt cảm thấy bài thơ hoàn chỉnh hơn và hay hơn...

Tôi trao bản thảo mới cho Thu Bồn rất đúng hẹn. Và  Thu Bồn cũng rất đúng hẹn với tôi.  Đầu tháng 10.79, tôi đến tận số 4 Lư Nam Đế nhận sách biểu và lĩnh được 44 đồng nhuận bút. Dạo đó học bổng sinh viên được 22đ/ tháng. Tôi là Trung Sĩ  chuyển nghành đi học đại học được 47 đ lương/ tháng. Quy ra phở th́ khoản nhuận bút ấy có thể xơi được 88 bát phở rất nghiêm ngay ở phố Ḷ Đúc. Tháng 10 năm ấy tôi không dám ăn nhiều phở để mà mua được một số cuốn sách cần thiết cho việc đọc và nghiên cứu văn chương. Tháng mười hai năm 1979, tôi được mời tới dự Hội nghị Tổng kết  Công tác Cộng tác viên của Tạp Chí VN QĐ. Cũng trong tháng 12, bất chợt tôi nghe thấy toàn bài thơ Đến Bây Giờ Ta Vẫn ở Bên Nhau vang lên trong buổi Tiếng Thơ của Đài tiếng nói Việt nam qua giọng ngâm của Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết. Đó là chương tŕnh thơ nhân dịp mừng ngày thành lập quân đội nhân dân Việt nam. Tôi c̣n nhớ chương tŕnh tiếng thơ ấy có thơ của Nguyễn Duy, của Phạm Ngọc Cảnh, của Nam Hà...Sau này tôi mới biết rằng nhờ đó mà nhiều nhà thơ ở Hà Nội bắt đầu để ư và quư trọng tôi như quư trọng một nhà thơ. Điều quan trọng hơn là, từ lần xuất hiện bài thơ ấy tôi bắt đầu dần dà tiếp xúc, quen biết và dần dà trở nên thân thiết với các nhà văn nhà thơ như  Thu Bồn, Hoàng Nhuận Cầm,Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Vơ Văn Trực, Lê Lựu..v..v. Rất nhiều năm sau, mỗi lần vào dịp tháng 12, tôi lại có hạnh phúc nghe lại thơ ḿnh trên làn sóng điện qua giọng ngâm của Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết cùng với bài thơ Tôi Không Thể Nào mang Về Cho em của Hoàng Nhuận Cầm hoặc Chúng Con Chiến Đấu Cho Người Tổ Quốc Việt Nam ơi của Nam Hà...

 

4

Hơn mười năm sau...

Tôi không ngờ số phận của bài thơ Đến Bây Giờ Ta vẫn ở Bên Nhau lại có những thương tích đáng buồn. Tháng muời một 1990, trong một căn hộ độc thân ở Berlin, tôi nhận được Tập Thơ Hoa Hồng Đến Muộn  do Hội Văn Nghệ Hải Hưng xuất bản. Bài thơ Đến Bây Giờ Ta Vẫn ở Bên Nhau được in không trọn vẹn ở trang 13 và trang 14. Những người biên tập đă cắt  đi 15 câu thơ của thi phẩm này mà không hề hỏi ư kiến tác giả.  Từ nơi xa cách ngàn trùng, khi cầm trong tay tuyển thơ đầu tiên ra đời do mẹ tôi gửi sang, tôi rưng rưng cảm động khôn cùng. Nhưng, càng thấm đau cái  nhát kéo biên tập của những người đồng nghiệp nơi quê nhà tôi càng buồn. Tôi buồn cho thân phận hẩm hiu của bài thơ Đến Bây Giờ Ta Vẫn ở Bên Nhau. Toàn bộ 15 câu thơ biểu hiện khí lực tinh thần trong những ngày chống giặc bành trướng  ở biên giới phía Bắc bị chém bỏ có nghĩa là hai câu kết thúc của nó cũng trở nên vô duyên, vô nghĩa. Không có 15 câu thơ trước đó th́ hai câu thơ kết thúc  không có lư do, không đủ sinh khí để xuất hiện. Tôi không cần  hỏi ai. Cũng không muốn hỏi ai. Cũng chẳng có ai xung quanh quan tâm tới thơ phú mà hỏi. Tôi  đọc đi đọc lại tên những người làm sách:  Biên Tập: Đinh Quang Tốn và Vũ Đức Dật. Chịu trách nhiệm xuất bản Vũ Dong. B́a:  Đặng Ngọc Cường. Sửa bản in: Đào Nguyên. Tất cả, tôi và họ đều đă quá quen tên và biết nết nhau. Ai đă cố t́nh vứt đi 15 câu  trong bài thơ 53 câu của tôi ? V́ sao người ta lại chặt 15 câu thơ trong đó có những câu thơ không chỉ một ḿnh tôi chân thành tâm đắc:

       Cởi trần mà bắn thôi! Trời xanh kia là áo ...

       Đă trả kiếm cho Rùa Vàng mà vẫn không xong !

 Đă có nhiều tác giả trích dẫn  hai câu thơ trên cho các bài viết về thơ đương đại. Ngay cả Đinh Quang Tốn và Vũ Đức Dật đều là người đă từng cùng tôi nghe nhiều lần bài thơ đó qua giọng ngâm của Nghệ Sĩ  Trần Thị Tuyết trên  Đài  tiếng nói Việt nam.

Cả hai đều đă từng sống rất có t́nh với tôi. Tôi ai oán âm thầm một nỗi  oán giận dă tràng.V́ thời điểm ấy sách lược chính trị của ta  là hết sức tranh thủ làm vừa ḷng Bắc Kinh  ?  Do  khí hậu chính trị  nhất thời  nên lưỡi kéo biên tập của họ phải buộc ḷng chém đi 15 câu thơ  trong một bài thơ của người đồng nghiệp ?

       

 5

Sự truân chuyên  của bài thơ thứ hai là một kỷ niệm với nhà thơ Vũ Quần Phương. Dạo đó (1979) sau khi bài thơ Đến Bây Giờ Ta vẫn ở Bên Nhau đă được phát hành và phát thanh rộng răi, tôi viết xong  bài thơ : Cổ Loa Thành Bi Tráng Một Thời Vua. Tôi gửi ngay bài thơ này cho Ban Văn Nghệ Đài tiếng Nói Việt nam và cho Tạp chí văn Nghệ Quân Đội. Bài thơ nguyên văn như sau:

Cổ Loa Thành Bi Tráng Một Thời Vua

 

 Khúc dạo:

Bao hưng phế trên hành tŕnh dân tộc

Nên thơ tôi âm vọng tiếng bi hùng

Giữ đất nước có trai làng Phù Đổng

 Đổ Loa Thành tại cả một triều vua

 

Với Nàng Mỵ Châu

Năm tháng ấy tan hoang và thua trận

Cánh tay em buông thơng. Không ngờ...

Tượng cụt đầu nhưng hồn em c̣n đó

Nhắc bao điều tôi muốn nói. Ngày xưa...

 

Ngày xưa,

đâu có biết thâm mưu em chỉ hết ḷng yêu

Trắng trong ơi ! Đời em đang tuổi ngọc

Đừng ấm ức, nhân gian dành giếng nước

Đêm thế nào ngọc cũng sáng mà em...

 

 Mỵ Châu ơi dẫu máu chảy ruột mềm

Loa Thành đổ em có phần nặng tội

Ḷng nông nổi dứt chi hoài áo cưới

Lông ngỗng bay ngơ ngác nẻo đường cùng

            

Tim em rung cờ nghĩa những Bà Trưng

Máu lênh láng xói ṃn mơ với tưởng

Năm tháng ấy cả tin và hẹn ước

Đổ Loa thành không tội một ḿnh em...

           

Với An Dương Vương:

Ôi đường gươm tuyệt mệnh! Nói chi thêm?

Thế đất ấy xoáy bao ṿng sóng cuốn?

Rùa thông thái thủy chung đành nuốt giận

V́ thủa ấy thường  dân phải ở quá xa thành

 

Thành Cổ Loa đồ sộ một trời xanh

Trách cung nỏ quá nhiệm màu để đến nỗi ḷng người không thiêng nữa

Nh́n những mũi tên đồng như bầm nguyên máu ứa

Tôi biết người không kịp trở tay!

 

Cổ Loa Thàng quấn quưt cuộc t́nh say

Trọng Thủy thế! Trách ǵ không xuống giếng ...

Những nham hiểm tàng h́nh trong lịch sử

Khéo khôn ngoan hôn những nụ hôn vờ!

 

 Không được nh́n dung nhan Thục Vương

 Người phút ấy gươm lia như chớp mắt

 Xé ruột chém con để c̣n hồn của nước!

 Núi Sông như vương miện ở trên đầu...

             

Thành tan nát bởi ḷng người chia lẻ

 Những bầy tôi trung  - Vương đă đuổi đi đâu

 Người cao đẹp bởi đường gươm tỉnh mộng

 Đă vỡ ḷng cho trận thắng mai sau !

 

  Vĩ Thanh: 

 Cổ Loa Thành! Bi tráng một triều Vua ...

 Pḥng tuyến mới bây giờ xây đă khác

 Những thế trận Bạch Đằng dâng sóng cọc

 Nước non ḿnh, muôn thủa có Nhân dân !

 

 Đă tên lửa! Quên sao ngày lẫy Nỏ?

 Sa cơ kia! Xin nhớ, dẫu bao giờ...

 Những Binh nhất đang trở thành Tư lệnh

 Vỡ ḷng ḿnh trên kiếm máu năm xưa!

                                                           1979                 

            

 

 

 

6   

Năm ấy tôi đă 25 tuổi. Tôi tin rằng đó là một thi phẩm được. Sau một hai tuần gửi bài đi, tôi ghé qua ban Văn Nghệ của Đài TNVN dể hỏi han. Nhà thơ Trần Mạnh Thường và Nhà thơ Vũ Quần Phương tiếp tôi rất ân cần v́ đă biết tôi là tác giả bài Đến Bây Giờ ta Vẫn ở Bên Nhau. Tôi rất vui khi được biết là các anh ấy sẽ sử dụng bài thơ ấy cho chưong tŕnh tiếng Thơ  của Đài. Bài thơ đă được thể hiện qua giọng đọc của Nghệ sĩ Trần Đức do Hoàng Mănh đệm dương cầm. Hai anh báo cho tôi biết rằng công việc ghi âm thu thanh đă xong.Và  ngày ấy...tuần ấy sẽ phát. Tôi vui sướng v́ cảm thấy ḿnh hữu ích thật sự trong tư cách một thi sĩ.

 Nhưng rồi, đến hẹn vẫn không thấy Thơ lên. Không thấy ǵ cả. Giọng Trần Đức cũng không thấy. Thơ Cổ Loa Thành Bi Tráng Một Thời Vua cũng không thấy xuất hiện trên chương tŕnh tiếng Thơ. Một tuần sau, nhà thơ Vũ Quần Phương báo cho tôi đến lĩnh nhuận bút. Tôi hồi hộp tới Đài nhận 20 đồng. Nhưng điều quan trọng hơn hai mươi đồng là sự giải thích của Vũ Quần Phương: Thế Dũng thông cảm, bài thơ đă được thu thanh nhưng không thể phát được. Thấy mặt tôi nghệt ra, anh nói tiếp. Lư do không phải v́ thơ mà là v́ thế sự. Nguyễn Trăi ở Đông Quan của Nguyễn Đ́nh Thi vừa bị cấm công diễn sau buổi biểu diễn ra mắt. Cả Đạo diễn Nguyễn Đ́nh Nghi lẫn tác giả Nguyễn Đ́nh Thi đang đau đầu héo gan. Bài thơ của cậu có nhiều câu ai oán, rất gai người. Chẳng hạn như :

    Rùa thông thái thủy chung dành nuốt giận

    V́ thủa ấy thường dân phải ở quá xa thành

      Hoặc:                  

    Thành tan nát bởi ḷng người chia lẻ

     Những bầy tôi trung- Vương đă đuổi đi đâu ?

Trong t́nh h́nh hiện tại không thể nào phát thanh bài ấy được. Thế Dũng thông cảm. Đây hoàn toàn không phải v́ Thơ không hay mà v́ thế sự phiền toái.

Tôi không biết than thở ǵ hơn v́ như thế là Biên tập viên của buổi tiếng Thơ đă đối xử với tôi rất chu đáo và ân cần. Sau này bài thơ được in ở Tạp chí Văn nghệ Hải Hưng số 13, năm 1980. Và măi tới hai năm sau nó mới được xuất hiện trên Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội số ra tháng 12 năm 1982

Nhưng câu thơ :

    Trách cung nỏ quá nhiệm màu để đến nỗi ḷng người không thiêng nữa

bị chữa thành :

    Trách cung nỏ quá nhiệm màu để đến nỗi ḷng người sơ hở

Và câu thơ cuối cùng bị mất đi sắc thái cảm khái tự nhiên v́  các Biên Tập Viên ở VNQĐ chữa lại cho hiền lành hơn là: Những Binh nhất đang trở thành Tư lệnh - Đă thuộc ḷng những câu chuyện ngày xưa. Tôi không hiểu v́ sao người ta không thích để nguyên:

    ...Những Binh nhất đang trở thành Tư lệnh

       Vỡ ḷng ḿnh trên kiếm máu năm xưa !

 Để nguyên, theo tôi, hay hơn, thơ hơn và hợp với giọng điệu chung của toàn bài hơn. Nhưng, làm thế nào bây giờ ?

Năm 1990, bài thơ có mặt trong tập thơ Hoa Hồng Đến Muộn ( ở trang 15, 16,17 ) như là bản đă in ở Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số tháng 12 năm 1982.

    

7

Sự truân truyên của hai bài thơ của tôi đâu có thấm tháp ǵ so với các vụ trầm luân  của các bài thơ nổi tiếng của các thi sĩ  khác. Tôi sẽ trở thành kẻ hẹp ḥi cố chấp và thiếu hiểu biết khi cứ phàn nàn không nguôi về sự cắt bỏ thẳng thừng  15 câu thơ trong bài thơ Đến Bây Giờ Ta Vẫn  ở Bên Nhau  và sự cố đ́nh hoăn việc phát thanh bài thơ Cổ Loa Thành Bi Tráng Một Triều Vua. Loay hoay về cái tôi nhỏ nhoi thật là đáng ghét. Nhưng, không phàn nàn sao được khi  việc Thơ luôn luôn bị các lưỡi kéo cảm ứng chính trị cắt xén, sửa chữa tùy tiện hoặc bị  vây hăm cho đến nỗi quá lứa lỡ th́. Nhất là khi chuyện đó đă trở thành chuyện thường t́nh ở nhiều lúc, nhiều nơi trên những ngă ba, ngă tư của lịch sử.

Tuy vậy, mỗi khi nhớ lại sự truân chuyên của hai bài thơ trên , tôi lại cười phá lên, nhận ra mối quan hệ khăng khít giữa thơ ca và thời thế.

Tuy nhiên vẫn phải tâm niệm rằng dù có bị thương tật đầy ḿnh, dù có bị tan vỡ, sứt mẻ hay đứt găy  v́  các tai nạn thế sự;  th́ rút cuộc Thơ vẫn phải lao lên phía trước.

 

Thế Dũng

 

(Trích từ  cuốn Bên Ḍng Sông T́nh Sử, tiểu luận và đối thoại văn chương của Thế Dũng, Nhà xuất bản Lao động – 2010)

                                                                                                                                     

 

  http://www.gio-o.com/TheDung.html

 

 

© gio-o.com 2011