Ed Stuhler

 

Trưng Cầu Dân Ư

Bắt Đầu Cuộc Chơi

( trích Những tuần trăng cuối cùng của CHDC Đức)

Người dịch: Thế Dũng & Thiên Trường Edition VIPEN 2012

 

 

14. Bệnh bạch hầu thanh quản giả ở Silbersee

                                 ‘Đó là một thảm họa!’

 

                            

Karl-Hermann Steinberg

Bộ trưởng Bộ Môi trường Karl-Hermann Steiberg và Lothar de Maiziere trong những ngày tháng  cuối cùng của DDR.

 

 

Từ lĩnh vực môi trường có thể nhận thấy rơ nhất chính phủ CHDC Đức cuối cùng đang phải đối mặt mới những vấn đề to lớn như thế nào. Karl-Hermann Steinberg, có bằng kỹ sư hóa và là đảng viên CDU, lănh đạo bộ Môi trường, Bảo vệ thiên nhiên, Năng lượng và An ninh phản ứng nguyên tử. Ông nêu ra ba điểm nổi bật của công việc của ḿnh tại chính phủ: thống nhất môi trường Đức-Đức, nghị định vườn quốc gia và việc đóng cửa nhà máy năng lượng nguyên tử Greifswald.

Những tội lỗi to lớn về môi trường của CHDC Đức hoặc là sự che đậy chúng đă vấp phải những phản đối ngày càng tăng trong những năm cuối cùng của CHDC Đức. Thậm chí người ta có thể nói rằng mối quan tâm đến chủ đề hóc búa này đă có đóng góp chủ yếu cho cuộc cách mạng, v́ rất nhiều nhà hoạt động v́ quyền con người thuộc phe đối lập là những nhà bảo vệ môi trường. Tại nhà thờ Do thái Berlin chẳng hạn có thư viện môi trường lừng danh với những tờ báo về môi trường. Nhóm đối lập này đột nhiên được biết tới vào tháng Mười một năm 1987 khi bộ An ninh nhà nước tấn công thư viện và bắt giam các thành viên của nó. Sau những cuộc phản đối mạnh mẽ họ được trả tự do khá nhanh chóng.

Giờ đây chính phủ và bộ Môi trường mới đang đứng trước nhiệm vụ khổng lồ là phải nhanh chóng giải quyết các vấn đề nổi cộm nhất. Khi Steinberg nhậm chức, ông được cung cấp những tư liệu rất mang tính thời sự: ‘Trong đó có những vấn đề bế tắc ở quy mô lớn, tra cứu được toàn bộ sự thực. Chúng lưu lại trong các ngăn kéo. Nhưng giờ th́ thời kỳ đó đă qua. Mỗi ngày tôi nhận được tối thiểu 5 000 đơn khiếu nại từ tất cả các lĩnh vực công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp nặng. Chúng tôi phải có phản ứng. Trước hết phải cho đóng cửa, loại trừ, rửa sạch các khu đốt chất thải, tức là những nguồn xả tồi tệ nhất. Chúng tôi không có tiền. Bộ trưởng Môi trường CHLB Đức Klaus Töpfer dành sẵn tiền ở trong nhà ḿnh, dĩ nhiên là theo quyết định của chính phủ CHLB Đức. Vào thời kỳ chính phủ CHDC Đức c̣n đương chức chúng tôi đă khởi động 30 dự án môi trường Đức-Đức để giải quyết các điểm nóng tồi tệ nhất, những nguồn xả khí thải tệ hại nhất và t́m ra các giải pháp thay thế.’

Trong lúc đó th́ không phải là CHDC Đức không có chuyên gia môi trường. Trong bộ Môi trường trước khi cuộc cách mạng xảy ra, dưới quyền Hans Reichelt, đă có những chuyên gia xuất sắc về mọi lĩnh vực, bảo vệ môi trường, thủy lợi. Họ quá biết các vấn đề này, nhưng họ không thể làm được điều ḿnh muốn và cho là đúng. Việc hoàn thành kế hoạch phải được ưu tiên hơn hết, thảo luận về môi trường là điều không được mong muốn. Lothar de Maizière nói: ‘Ở CHDC Đức cứ mỗi tháng Giêng 598 nhà máy lớn lại được nhận một giấy phép ngoại lệ của bộ trưởng Y tế Mecklinger cho phép họ tiếp tục sản xuất dù họ đă không tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường, nguyên liệu của CHDC Đức và những điều tương tự, những điểm đằng nào cũng cách xa phạm vi của người Tây Đức. Trong hiệp ước thống nhất tiền tệ chúng tôi đă phải đề nghị tạm thời chưa áp dụng các quy định môi trường của Tây Đức ở đây trong ṿng bốn năm, v́ nếu không th́ vào mùng 1 tháng Bảy chúng tôi sẽ phải đóng cửa hầu hết các nhà máy với số chất thải độc hại chúng có, khí thải không được hủy lưu huỳnh và vv.’

CHDC Đức mỗi năm thải 5,2 triệu tấn lưu huỳnh điôxit vào không khí. Thủ phạm chủ yếu là những nhà máy điện than bùn hoạt động mà không có hệ thống khử lưu huỳnh, nhưng là cả cái gọi là đốt lửa tại nhà, tức là vô số ḷ than trong các căn hộ ở CHDC Đức. Nước CHLB Đức với dân số nhiều hơn khoảng bốn lần mỗi năm chỉ thải ra có khoảng một triệu tấn SO2.

Steinberg nói: ‘Người ta có thể thấy điều đó trên dăy Erzgebirge, ở cả rừng Thüringen, người ta cảm thấy nó khi đang ở giữa nước Đức, ở Bitterfeld, Merseburg, ở Espenhain, ở Leipzig, đó là một thảm họa! Vấn đề quan trọng nhất là làm sạch không khí, chủ yếu là khử điôxin, nhưng là khử cả bụi nữa. Gần hai triệu tấn bụi mịn bay ra từ các nhà máy điện than bùn. Mỗi năm là hai triệu tấn bụi! Ở các khu công nghiệp người ta luôn phải phủi bụi khỏi bậu cửa sổ từ trong nhà.

Tôi nhớ đến các đơn khiếu nại từ Bitterfeld. Ở đấy t́nh h́nh đặc biệt nghiêm trọng. Vấn đề trọng tâm thứ nh́ của tôi là phía nam Leipzig. Ở đấy là ḷ nung than bùn Espenhain và nhà máy điện Thierbach và số khí thải khổng lồ kèm theo.

Làng Mölbis, nằm trong khu vực xả khí thải của ḷ nung than bùn Espenhain, ở đây hydrocacbon thơm tập trung trong không khí, tức là tập trung hydrocacbon thơm độc, gây ung thư, mật độ cao không tưởng tượng nổi. Ở khu vực này có hàng ngàn đơn khiếu nại gửi đến. Sau đó chúng tôi cho đóng ḷ nung than bùn này khá nhanh. Thực hiện điều này cũng không khó lắm xét về mặt kinh tế. Nhưng dĩ nhiên là phải trả giá bằng các chỗ làm.’

Lothar de Maizière nêu ra những con số c̣n gây ấn tượng hơn: ‘CHDC Đức không báo cáo số liệu thải lưu huỳnh cho LHQ mặc dù họ có nghĩa vụ báo cáo ở tổ chức y tế thế giới. Sau đó LHQ ước tính là khoảng 3 triệu tấn, và sứ quán CHDC Đức phải lên tiếng phản đối. CHDC Đức tiếp tục không thực hiện yêu cầu tiếp theo sau khi nêu ra số liệu – thực tế th́ hàng năm chúng tôi đă thải ra 7,5 triệu tấn lưu huỳnh. Anh có thể tính xem nó gây tác động ra sao, cho tới việc làm hại sức khỏe và những thứ tương tự. Ở khu vực Halle-Merseburg trẻ em thông thường bị chậm phát triển từ sáu đến tám tháng, khi chúng đến trường, bị bệnh bạch hầu thanh quản giả và hen. Đến giờ tôi vẫn phẫn nộ vô cùng! Và người ta phải cố gắng ghê lắm mới tung hô được điều đó như là việc các nhà máy này sử dụng hết lao động!’

Một vấn đề to lớn ông Bộ trưởng Môi trường phát hiện ra là nguồn nước, sông hồ bị nhiễm bẩn nghiêm trọng. Các biện pháp tức thời phải được đưa ra. Theo gợi ư của Töpfer, Steinberg phái nhân viên đến ủy ban bảo vệ sông Elbe: ‘Sông Saale, sông Mulde là những rănh nước thải! Hồi đó, và bây giờ nữa, tôi sống ở Merseburg. Năm 1989 chúng tôi có chất lượng nguồn nước 5. Hạng 5! Theo thuật ngữ CHDC Đức hồi đó th́ là: ‘Nước không phù hợp để sử dụng cho mục đích công nghiệp’. Tôi nghĩ người ta không cần nói ǵ thêm nữa! Hôm nay, 17 năm sau, có cá hồi trong sông Saale. Ở ngay tại nơi từng có chất lượng nước hạng 5. Thế là chúng ta đă có chất lượng nước loại 2, cá hồi quay trở lại, bơi vào vùng đẻ trứng, qua sông Elbe và Saale, vào sông Unstrut. Điều chúng ta đă làm được thật tuyệt vời!

Ngành sản xuất bông không thân thiện với môi trường, chắc chắn là thế. Ngành này đă gây hại to lớn cho các con sông, ví dụ như ở Eichfeld. Quê tôi ở vùng Heiligenstadt, ở đấy cũng có một nhà máy bông và giấy đổ nước thải trực tiếp vào sông Geislede. Sau đó chúng nằm dưới sông Leine, một nhánh phụ nhỏ của sông Aller. Sông Leine từng là một con sông gần như chết – ngày nay ở đó lại có cá hồi sinh sống.

Sông Werra nhiễm muối. Lúc đó người ta không làm được ǵ nhiều. Trước hết, cũng do áp lực của ngành công nghiệp kali ở các bang cũ, các nhà máy bị đóng cửa. Thị trường thế giới tràn ngập muối kali, ngành sản xuất ở CHDC Đức có thể được hạn chế tối đa. Và việc thải các dung dịch vào các con sông, vào nước thượng nguồn đă chấm dứt.

Sông Werra đương nhiên là một sông nước mặn. Người ta thấy điều đó trong môn sinh học. Các loài cá b́nh thường sống trong nước mặn có trong sông Werra. Ngày nay khác hẳn. Sông này hiện giờ gần như không chứa muối.

Các phụ phẩm rắn cũng gây rắc rối. Có lẽ nhiều người nhớ hồ Silbersee ở Wolfen, gần Bitterfeld, về mặt môi trường th́ không phải là vấn đề lớn, v́ đó trước đây là một mỏ khai thác than bùn lộ thiên không gây ra mối nguy hiểm lớn nào nếu không tính đến mùi khó chịu. Nó bị thối rữa và bốc mùi, sunfat bay vào đó, bị phân thành sunfua, mercapatane, sunfua hữu cơ, và hôi thối kinh khủng. Chúng cũng độc hại, nhưng nồng độ thấp đến mức không gây nguy hiểm thực sự. Nhưng người ta ngửi thấy mùi này dù là lượng cực nhỏ.

Chúng tôi có nhiều vấn đề tệ hại hơn, những vấn đề thực sự đối với mạch nước ngầm ở vùng Bitterfeld. ‘Hầm Antonie’ và ‘hầm Hermine’ – đó là những cái tên của bạn gái hoặc vợ các kỹ sư khai thác mỏ than bùn lộ thiên này cách đây 150 năm -, những cái tên này rồi bị mang tiếng xấu: ‘hầm Antonie’ là băi chứa chất độc hại của nhà máy hóa chất liên hợp Bitterfeld hồi đó, giờ vẫn c̣n 60 000 tấn hexaclorzyclohexan, sản phẩm phụ của ngành sản xuất thuốc trừ sâu. Rất độc, là chất rắn không tan, nhưng gây hại cho nguồn nước ngầm. Ở đây vẫn chưa đưa ra được các biện pháp làm sạch.’

Đống phế thải tồn đọng tiếp theo có tên là SDAG Wismut. SDAG nghĩa là công ty cổ phần Liên Xô-Đức. Wismut là một nguyên tố hóa học không phóng xạ. Thế nhưng SDAG hoàn toàn không phải là một doanh nghiệp khai thác wismut; cái tên là để ngụy trang. Nó khai thác urani cho ngành công nghiệp hạt nhân Liên Xô.

Bộ trưởng Môi trường cũng nhận được hàng chồng đơn khiếu nại về wismut; mức độ nhiễm phóng xạ ở Ronneburg, quanh Schlema, quanh Königstein trên dăy Elbsandsteingebirge là đáng báo động. Lothar de Maizière cho đóng cửa các nhà máy wismut: ‘Khi ở Moskva, tôi bảo ông thủ tướng Ryshkow: ‘Thủ tướng, ông biết không’, tới nay tôi vẫn nhớ như in, tôi lộn túi áo jacket ra, ‘đây là tài sản của tôi. Nếu ông muốn có tiền th́ hăy đi tiếp 600 km đến Bonn, có lẽ ở đấy ông sẽ kiếm được chút ǵ.’ Ông ấy đă bắt đầu nói là chúng tôi đóng cửa nhà máy wismut mà không cho ông ấy biết, điều này cũng đúng sự thực, và chúng tôi nợ tiền ông ấy. Tôi nói: ‘Wismut đă để lại 120 tỷ phế thải tồn đọng cho môi trường. Nếu ông đưa tôi 60 tỷ để thanh toán chỗ đó th́ chúng ta có thể bàn bạc xem có mở lại các nhà máy này không.’

Nhiều thế hệ sẽ c̣n phải bận tâm với wismut, đống rác này vẫn tiếp tục phát xạ, và bệnh ung thư phổi Schneeberg cũng mới chỉ được mô tả trong y văn từ khi những lợn bất hạnh bị săn đuổi chạy vào mỏ khai thác urani tại đó. Nếu người ta nghĩ tới các tù nhân bị trừng phạt theo pháp lệnh tội phạm kinh tế hoặc luật về kim loại quư hoặc các điều luật khác, họ được đi khai thác mỏ và được tính một ngày khai thác mỏ bằng hai ngày giam giữ. Họ nghĩ có thể đơn giản biến 25 năm lao động khổ sai thành 12,5 năm, và sau mười năm họ đi vào hầm với căn bệnh ung thư phổi Schneeberg. Điều đó không được phép ghi vào giấy chứng tử. Sau đó là đến bệnh bụi phổi. Đó là những điều coi thường sinh mạng con người đă xảy ra trong ngành công nghiệp wismut và các lĩnh vực khác của nền kinh tế!’

Từ tháng Năm, lần đầu tiên mới có các lời phản đối các lực lượng quân đội Liên Xô đóng quân tại CHDC Đức. 1500 người biểu t́nh, ném đá và chai lọ, trước một sân bay quân sự Xô viết. Bộ trưởng Quốc pḥng Eppelmann lo lắng là vấn đề này sẽ có tầm quan trọng chính trị toàn châu Âu. Nguyên nhân phản đối là những bản tường tŕnh về những tổn hại môi trường do quân đội Liên Xô gây nên.

‘Tôi vẫn c̣n nhớ là’, Eppelmann nói, ‘hội nghị cuối cùng của hiệp ước Warschau diễn ra tại Strauberg này ngày 14 tháng Sáu. Đă được ấn định từ nhiều năm trước. Người từ chối phục vụ trong quân ngũ và là lính xây dựng Rainer Eppelmann là chủ tọa phiên họp cuối cùng của hiệp ước Warschau! Và sau đó dẫn tới một cuộc tranh luận mạnh mẽ giữa ông Jasow và tôi về vấn đề Hồng quân đă cư xử như thế nào ở CHDC Đức, và nói rơ hơn là đánh giá về dầu hoặc diesel bị đổ, tức là toàn bộ các tội hủy hoại môi trường do các đơn vị quân đội Liên Xô gây ra ở CHDC Đức. Và lúc ấy ông ấy giận dữ khủng khiếp v́ tôi đă đề cập đến chủ đề này! Hiển nhiên là trước đấy không ai bàn với ông ấy về việc này. Đă như thế từ nhiều, nhiều năm trước. Ông ấy rất mất b́nh tĩnh, cởi chiếc jacket quân phục ra, làm ầm lên và nói bảo tôi: ‘Ông đừng quên là ai đă thua trong Thế chiến II!’

Quốc vụ khanh Quốc pḥng Werner Ablaß nói: ‘Phức tạp. Phong trào công dân của chúng tôi không c̣n nhún nhường nữa. Và chúng tôi không biết là người Nga sẽ phản ứng ra sao. Người dân CHDC Đức đă biểu t́nh trước các sân bay Liên Xô. Lính gác Liên Xô cũng đă nổ súng, dù chỉ là chỉ thiên. Chúng tôi phải tranh đấu với họ đến cùng. Những chuyến bay ngày, bay đêm không được kiểm soát và rồi vấn đề là làm ǵ với xăng máy bay đây? Chúng tôi bảo họ: ‘Các anh không được lái xe tăng xuống hồ nữa! Các anh đi lên, và xe tăng sạch sẽ, nhưng hồ th́ nhiễm bẩn.’ Thế là chúng tôi đă t́m cách đạt được một số điều. Trong trường hợp này về phe chúng tôi có Gorbatschow và Schewardnadse. Quân đội t́m cách chơi lá bài của riêng ḿnh, nhưng ơn chúa họ đă không thành công cho tới tận 3 tháng Mười.’

Những băi tập luyện của NVA giờ bỏ hoang, những băi đất trống khổng lồ, ví dụ như ở thảo nguyên Letzling, gây thèm muốn. Những nhà hoạt động v́ quyền công dân yêu cầu phá bỏ tất cả các hàng rào và cho người dân được tiếp cận với thiên nhiên mà không bị trở ngại. Werner Ablaß nói: ‘Sáu tuần sau đó họ lại đến gặp tôi và hỏi có dựng lại hàng rào được không, khách du lịch sẽ xéo nát toàn bộ những thứ đă mọc lên ở đây nhiều năm qua.

Hồi đó tôi đă bắt đầu chuyển giao các ṭa nhà cho Regine Hildenbrandt, v́ bà ấy bảo tôi: ‘Ablaß, hăy cho tôi các doanh trại, tôi cần có các sở lao động!’ Và rồi đến lượt người Anh có nguyện vọng. Thông qua các đồng nghiệp họ cho tôi biết là bằng mọi giá tôi phải ngăn không bàn giao một số địa điểm, ví dụ như thảo nguyên Letzling, đó là một khu thao luyện xe tăng tuyệt đẹp, và họ rất bực với khu thảo nguyên Lüneburg, sau này họ thích thao luyện ở phía đông hơn.’

Ngoại trưởng Anh Douglas Hurd đem lời đề nghị này đến gặp thủ tướng. Nhưng de Maizière biết được là chính người Anh cũng không bao giờ cho quân đội nước ngoài đi vào lănh thổ của ḿnh. Khi ông dẫn chiếu ngoại trưởng Hurd về sự thực này, vấn đề bị bỏ qua.

Nhà máy điện nguyên tử Greifswald sẽ bị đóng cửa ngày 1 tháng Sáu theo quyết định của chính phủ. Steinberg nói: ‘Tôi c̣n nhớ rất rơ thời kỳ này. Không dễ dàng ǵ, dù sao nó cũng gắn với 800 chỗ làm, nhà máy điện nguyên tử này có đóng góp lớn vào việc sản xuất năng lượng cho CHDC Đức. Dù sao cũng có bốn ḷ 440 megawatt trong mạng lưới, một ḷ thứ năm đang sản xuất thử, như thế là có năm ḷ thực sự đang phóng xạ. Tất cả nằm trong một gian pḥng dài 1200 mét, không có tường ngăn. Bản thân tôi đă tới đó, toàn thể cán bộ đi xe đạp giữa các ḷ.’ Dĩ nhiên đó là một nhà máy điện nguyên tử xây theo kiểu Liên Xô. Bản đánh giá của công ty an ninh ḷ phản ứng nguyên tử liệt kê ra nhiều điều kiện c̣n thiếu: Thùng chứa quá yếu, ḍng thác nơtron lớn có thể làm nứt găy vật liệu và gây nguy cơ găy đổ, có quá ít máy phát điện dự pḥng và những điểm khác.

‘Khoảng 14 ngày sau tôi gặp người nữ đồng nhiệm Đan Mạch của ḿnh ở Copenhagen, bà ấy bảo: ‘Đồng nghiệp này, ông biết không, nhà máy điện nguyên tử ở Greifswald ấy, thực sự chúng tôi lo lắm. Ở Đan Mạch chúng tôi không có điện nguyên tử, và nhà máy điện ở Lubmin/Greifswald này chỉ cách Copenhagen có 200 km, ông phải làm điều ǵ đi chứ.’ Tôi đáp: ‘Thưa bà đồng nghiệp, chúng tôi đă cho đóng cửa nó rồi. Và thứ nh́ là nếu bây giờ tôi đi đến cửa sổ và nh́n về phía Malmoe, quăng đường là 20 km chạy qua biển.’ Người ta thực sự có thể trông thấy nhà máy điện hạt nhân Bersebek từ pḥng làm việc của nữ đồng nhiệm của tôi. Thời điểm đó Đan Mạch mua 40% năng lượng điện từ các nhà máy điện nguyên tử Thụy Điển. Như vậy đó là một cuộc thảo luận rất đạo đức giả.’

Pháp lệnh về công viên quốc gia có hiệu lực từ giữa tháng Chín. Steinberg đánh giá đây là điểm nổi bật cuối cùng trước ngày 3 tháng Mười. Với pháp lệnh này, mười lăm khu vực được đặt dưới sự bảo vệ của nhà nước, chẳng hạn như là khu bảo tồn sinh quyển. Chúng chiếm bốn phần trăm lănh thổ CHDC Đức. Vào thời điểm đó CHLB Đức có 0,6 phần trăm lănh thổ ở trong t́nh trạng bảo vệ tương tự như vậy. Ở những khu vực trọng tâm của khu bảo tồn, thiên nhiên phải được giữ ở trạng thái nguyên thủy, không được phép đốn cây, không được phép di chuyển cây đổ.

Steinberg phải đấu tranh với những trở ngại ghê gớm. Ngành nông nghiệp không quan tâm đến các khu bảo tồn. Công ty Ủy quyền lư luận là phải loại trừ các khu vực này khỏi quá tŕnh phát triển kinh tế. Cả bộ trưởng Môi trường CHLB Đức Töpfer cũng nghi ngờ. Ở CHLB Đức bảo tồn thiên nhiên là việc của các bang: ‘Người cha tinh thần thực sự của dự án, ngay từ thời CHDC Đức, là giáo sư Succow. Ông là thứ trưởng Môi trường của ông Modrow trong chính phủ quá độ, ông đă tiếp tục dự án này và sau này nhờ nó cũng nhận được giải thưởng thay cho giải Nobel. Nhưng ông ấy đă không thực hiện được nó về chính trị, mà là chúng tôi. Lothar de Maizière cuối cùng đă nói: ‘Nào, ta sẽ thực hiện dự án này. Nhắm mắt lại mà làm!’ Ông ấy ra chỉ thị cho bộ trưởng văn pḥng thủ tướng Klaus Reichenbach: ‘Thực hiện đi thôi!’ Và rồi chúng tôi đă thực hiện được trong ṿng mười ngày.’ Có thể nói là tấn công chớp nhoáng.

‘Bộ trưởng Môi trường của chúng tôi hồi đó đă thực hiện rất tốt’, Klaus Reichenbach nói. ‘Tôi thấy điều đó bây giờ đă mở ra cho chúng tôi những cơ hội to lớn. Chính nhờ những công viên như thế trong các bang và vùng ít người ở hơn như Brandenburg, và dĩ nhiên là cả Mecklenburg-Vorpommern, họ lại có được cơ hội kinh doanh du lịch, kiếm lợi nhuận. Một mặt là hủy bỏ những chiếc máy bắn rác trong nền công nghiệp CHDC Đức và mở rộng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên đồng thời là một tiền đề tốt để xử lư các vấn đề thời sự như biến đổi khí hậu. Việc giờ đây chó sói đến ở tại vùng Lausitz cũng là một hiện tượng phi thường. Thật là tuyệt khi ở nước Đức, một đất nước công nghiệp vô cùng phát triển, lại có những loài vật từng tuyệt chủng hàng thập niên, đến ở. Đó là điều tốt đẹp nhất chính phủ CHDC Đức đă ít nhiều làm được.’

Steinberg nói: ‘Ngày nay, 20 năm sau, mọi người đều vui vẻ về chuyện đó, đấy là một điểm tốt. Đó là những viên ngọc trai, ngành du lịch đă khởi động, đó là những vùng phát triển mạnh về kinh tế trước đây được coi là không thể phát triển được. Chính điều đó hấp dẫn rất nhiều người. Đấy là một điều tốt, và tôi tự hào v́ nó.’


 

15. ‘Ném đá’

 

 ‘Làm bộ trưởng tôi bị chỉ trích nhiều hơn là ủng hộ.’

                                       Herbert Schirmer

 

Bộ trưởng văn hóa cuối cùng của CHDC Đức tên là Herbert Schirmer, quốc vụ khanh của ông là Gabriele Muschter. Cả hai đều xuất thân từ ngành nghệ thuật tạo h́nh, từng làm việc trong các Viện bảo tàng nghệ thuật và các pḥng tranh. V́ thế họ biết nhau. Trước khi Schirmer đi làm, ông thu dọn văn pḥng bộ của ḿnh, vứt ‘cây cọ gớm guốc’ và ‘những màn cửa sổ kinh khủng’ đi và treo những bức tranh khác lên tường.

Một trong những việc làm đầu tiên sau khi nhận chức của ông là thử t́m cách lấy lại các tác phẩm nghệ thuật bị cướp đi trong chiến tranh từ Liên Xô về CHDC Đức: ‘Tôi đă mời các giám đốc viện bảo tàng nghệ thuật đến Berlin với lời yêu cầu liệt kê các tác phẩm nghệ thuật đă bị đem về Liên Xô từ năm 1945 trở đi, việc này không khó v́ có danh sách mà. Và chúng tôi cùng nhau bàn bạc xem xử trí ra sao. Và không lâu sau buổi bàn bạc này tôi đă chốt lại danh sách, đến gặp đại sứ Liên Xô và bày tỏ rơ ràng quan điểm là bây giờ chúng tôi phải thảo luận về chúng và hành xử thế nào trong tương lai. Khá là hỗn hào. Thế là ông đại sứ lúc đó rất sửng sốt là v́ sao có thể nói là một chính trị gia CHDC Đức lại đến mà đưa ra đ̣i hỏi được. Đó là một điều ǵ đó hoàn toàn mới mẻ. Hồi đó chúng tôi vẫn đang có những ngày văn hóa Nga ở Berlin. Và rồi bộ trưởng Văn hóa Liên Xô đến thăm. Và tôi cũng đă nói chuyện với ông ấy về vấn đề này. Và lúc đó đề xuất chính thức từ phía Nga là, nếu các ông muốn có lại chúng th́ bỏ tiền ra mà mua! Rơ như ban ngày.’

Schirmer cũng có cố vấn người Tây Đức: ‘Hồi đó quan điểm chiếm ưu thế là đầu tiên là phải vứt đi hết đă để rồi sau đó có thể nói là tạo ra những cấu trúc bằng tư duy mới càng giống với ở CHLB Đức càng tốt. Điểm đặc trưng là văn hóa ở hai nước Đức đă phát triển khác xa nhau. Điều này có liên quan đến chẳng hạn như sự quan tâm của nhà nước trong tính hai mặt của nó, như là công cụ chính trị mà cũng là nhiệm vụ phải vẽ nên một bức tranh CHDC Đức tốt đẹp hơn, nhưng mặt khác cũng là sự đánh giá cao mà người nghệ sỹ dù là họa sỹ, nhạc sỹ, diễn viên, được hưởng. Đó là một mối quan tâm đặc biệt mà người ta không thể t́m thấy trong bất kỳ chế độ dân chủ nào. Tại các nhà nước độc tài nói chung nghệ thuật luôn được quan tâm quá mức.’

Ở CHDC Đức có ‘Quỹ văn hóa’ để hỗ trợ tài chính cho các nghệ sỹ và dự án nghệ thuật. Nó được hỗ trợ bằng ‘Đồng xu văn hóa’, một khoản tiền 5 hoặc 10 Pfennig trả thêm trong mọi giá vào cửa và giá bán.

Gabriele Muschter nói: ‘Đồng xu văn hóa là chủ đề thực sự lôi cuốn tôi. Chúng tôi muốn duy tŕ nó bằng mọi giá, v́ thấy nó rất ư nghĩa. Tôi cũng đă nói như vậy ở mọi buổi họp. Và một ngày nọ có người tôi không muốn nhắc tên ở đây bảo tôi là: ‘Lĩnh vực của bà là sát nhập, và chúng tôi không có thứ ǵ như vậy, và sẽ không xét đến. Thế đấy! Rất ngạo mạn! Chúng tôi theo chế độ liên bang, phí tổn quá lớn và đại loại thế.

Trong khi đó điều đó rất ư nghĩa. Quỹ văn hóa đến giờ lẽ ra vẫn có ư nghĩa. Nếu những người của bang Sachsen và Thüringen không bỏ cuộc th́ ở Đông Đức đến giờ vẫn c̣n quỹ này, và nó có thể hỗ trợ rất nhiều. Và nếu giờ đây nh́n vào quỹ văn hóa của liên bang, dần dần tôi thấy chỉ toàn người Tây Đức. Một người của Đông Đức từng làm giám khảo ở đấy nói: ‘Chỉ nghe thấy từ ‘nghệ sỹ Đông Đức’ là họ đă ác cảm ra mặt rồi.’

‘Toàn bộ câu chuyện’, Schirmer nói, ‘không phải như là chúng tôi vừa mới bắt đầu khám phá năng lực của bản thân ḿnh, mà chúng tôi có những h́nh dung dù phải công nhận là ngây thơ và cả tin, nhưng cũng có lư tưởng chính trị. Chúng tôi đă tin là sẽ ṿng tay ôm lấy nhau. Lúc đàm phán có thể thấy rơ đó sẽ là một cái ôm rất vụng về. Mặc dù vậy chúng tôi vẫn nhận cảm nhận được sự chấp thuận song phương, và tôi phải nói thêm là nó chỉ tập trung vào lĩnh vực văn minh phát triển cao của CHDC Đức.’

Gabriele Muschter kể ra những thứ bà coi là rơ ràng đáng được giữ lại: ‘Các nhà hát, nhà văn hóa, cả các câu lạc bộ thanh niên nữa. Chúng là thứ rất quan trọng. Sau một đêm chúng biến mất hết, và giờ thanh niên chả biết đi đâu nữa. Và rồi chả bấy lâu sau th́ bố mẹ họ lại c̣n bị thất nghiệp nữa. Ở CHDC Đức 94% phụ nữ có nghề nghiệp, ở CHLB Đức tôi nghĩ là 42%. Và phụ nữ bị tống khứ đầu tiên. Tất cả những thứ đó ảnh hưởng đến con cái họ. Có những phụ huynh chỉ biết nốc rượu v́ không biết phải làm ǵ nữa. Con cái họ hoang mang, không hề có cơ sở hạ tầng nào ở khu ḿnh ở hoặc tương tự thế. Cũng chẳng có sự thay thế nào, không có ai quan tâm được đến chúng.

Thật ra ban đầu chúng tôi nghĩ có rất nhiều thứ phải ǵn giữ và hoàn toàn có thể tiếp quản được. Nhưng về nguyên tắc th́ các anh chị em gái của chúng tôi có một thái độ rất khác về điều đó. Lúc đó là: ‘Vứt hết đi và thế là xong!’

Thế nhưng bà có những trải nghiệm tốt đẹp với chính trị gia CDU và hồi đó là ủy viên văn hóa của hội đồng thành phố Berlin Volker Haßemer: ‘Ông Haßemer thấy một bộ Văn hóa trung ương như vậy không tệ chút nào. Ông ấy cũng thấy một số thứ chúng tôi đă làm là tốt. Nhưng hồi đó người ta không thể nói to điều ấy lên được, đó là trung ương tập quyền, một thứ bị phản đối kịch liệt! Một số người rất đồng cảm và cũng hiểu sự việc. Những người khác th́ không thế. Họ đến và nh́n quanh như những chủ nhân mới sắp dọn vào nhà ở.

Đôi khi tôi cũng có cảm giác người ta nói mà không hiểu ư nhau. Tôi tham dự một hội nghị bộ trưởng Văn hóa và đă rất ngây thơ nghĩ là ở đó người ta cũng bàn về văn hóa và nghệ thuật. Thế nhưng chủ đề chỉ là đào tạo mà thôi, và về việc trường lớp ở Tây Đức tốt hơn nhiều ở Đông Đức, mà điều đó cũng không đúng. Cuối cùng với tôi thế là đủ, và đơn giản là tôi đă đi ra ngoài. Đó cũng là những quư ông rất tự tin, nổi tiếng, ta gần như không phát biểu được ǵ. Và chúng tôi không quen với cái thứ văn hóa tranh luận, hay là phi văn hóa này.’

Trong những năm 80 ở CHDC Đức có một phong trào phát triển văn hóa thay thế và đối lập. Các nghệ sỹ trẻ, họa sỹ, nhiếp ảnh gia, nhạc sỹ, nhà thơ trữ t́nh, người biểu diễn múa rối không c̣n quan tâm đến tiền quyên góp của nhà nước nữa mà sáng tạo nghệ thuật của riêng ḿnh. Đầu tiên họ không t́m cách củng cố bản thân bằng các nhiệm vụ và sự thừa nhận của chế độ nữa. Đơn giản là họ tự chịu trách nhiệm về các dự án của ḿnh và cùng với những bức tranh, những buổi giới thiệu tác phẩm, những bài hát, những buổi tŕnh diễn, họ đem vào đất nước một nỗi băn khoăn trí thức đă đóng góp không ít vào sự cáo chung của CHDC Đức. Herbert Schirmer nói: ‘Điểm đáng chú ư là tiềm năng ưu tư này trong văn hóa đă bị các đối tác đàm phán CHLB Đức nh́n nhận một cách phê phán. Chủ đề luôn là các nhà hát kịch quốc gia, nhạc viện ở Leipzig, dàn đồng ca nhà thờ ở Dresden, các thư viện lớn và nổi tiếng, tức là không phải các thư viện công đoàn. Các cơ quan này luôn là tiêu điểm trong các cuộc đàm phán. Bản thân chúng cũng nổi tiếng, và v́ thế đàm phán về chúng dễ hơn nhân tố cách mạng trong giới nghệ sỹ kia. Ư thức phê phán ở đoạn kết của CHDC Đức không chỉ có trên đường phố, mà người dân cũng ư thức được này, về cơ bản đă được các nghệ sỹ sáng tạo ra và luôn được duy tŕ tích cực theo năm tháng. Và tôi nghĩ v́ thế mà mới có sự vỡ mộng to lớn năm 1990! Phải nói là làm bộ trưởng tôi bị chỉ trích nhiều hơn là được ủng hộ. Tôi tự dưng bị nhét vào một vai ông bố bằng cái nhiệm sở này, tự dưng được khoác lên những mong đợi rơ ràng đă đ̣i hỏi quá sức tôi! Quá sức ngay cả nếu tôi có hiểu biết về mọi lĩnh vực đi nữa. Dù sao tôi cũng có một nhóm nhân viên gồm các chuyên gia và không chỉ là các lực lượng hoàn hảo về tư cách chính trị. Nhóm này có các chuyên gia kịch nghệ, chuyên gia về nghệ thuật tạo h́nh, một loạt những bạn chiến đấu mới đă vào bộ, những người tôi quen biết từ những lần cộng tác trước đây hoặc trong lĩnh vực tự do hoặc từ các viện bảo tàng. Nhưng các kỳ vọng cao quá.’

Người nghệ sỹ CHDC Đức, một nhóm người tự tin, được tôi luyện trong cuộc đấu tranh liên tục với các cán bộ văn hóa cấp cao, thử nổi dậy. Họ tổ chức phản đối sự hủy hoại văn hóa. Hàng trăm người trong số họ ‘ném đá’ thực sự: ‘Họ chiếm giữ ṭa nhà của bộ, tôi phải phát biểu và trả lời và bị ném đá. Và có những yêu cầu được đưa ra thực sự viển vông và cũng chẳng có ǵ dính dáng đến những việc đang diễn ra ngoài đường phố và trong các cuộc đàm phán Đức-Đức cả. Kiểu như một t́nh huống CHDC Đức kéo dài, các nghệ sỹ vô cùng tự măn dàn hàng và có thể nói là yêu cầu được bảo vệ và tiếp tục duy tŕ các điều kiện của CHDC Đức dành cho nghệ sỹ. Họ nhận thấy điều đó v́ nhà nước có thể nói là đă treo chiếc vơng xă hội vào vô tận, ngay cả khi xuất hiện những thứ không nhất thiết được t́m kiếm v́ nó tốt, v́ chất lượng, mà chỉ v́ nó hoạt động như thế thôi. Đặc biệt với DEFA dĩ nhiên đây là một vấn đề với số nhân viên đông đảo như thế. Tất cả đă được sắp xếp là chúng tôi xuất phát từ ba, bốn năm c̣n lại của CHDC Đức, trong thời gian đó ta sẽ chuyển đổi cơ chế, hiện đại hóa theo nghĩa hiệu quả và không phải với nghĩa bảo đảm an toàn cho các nhân viên và thúc đẩy năng lực sáng tạo.’

Muschter nói: ‘Ở chỗ chúng tôi các giám đốc bảo tàng, nhà hát luôn ngồi trong pḥng và có phần nhục mạ chúng tôi. Chúng tôi đă t́m cách thảo luận với họ rất lâu về những điều chúng tôi thấy là có ư nghĩa cho đến khi đạt được điểm thống nhất.’

Tại một trong các cuộc thảo luận như vậy Schirmer hứa với giám đốc các nhà máy phim truyện của DEFA ở Babelsberg, một cách khinh suất, như lời ông, 119 triệu Mark CHDC Đức để tiếp tục duy tŕ các xưởng máy đang vận hành: ‘Khi nói như vậy trong căn pḥng đó tôi không biết lấy đâu ra 119 triệu này, và cũng không ư thức được chút nào về hành động khinh suất của ḿnh. Tôi chỉ đơn giản có cảm giác mạnh mẽ là phải giúp đỡ sao cho không phải giải quyết đổ vỡ trước kỳ hạn. Ông ấy cho tôi xem phim nào đang được quay, phim nào sắp quay xong và phim nào sắp ra rạp, và từ đó tôi thấy rơ một điều là có một số phim quan trọng. Hồi đó là phim ‘Những nhà kiến trúc’, một cuốn phim có lẽ vài năm sau người ta sẽ cười nhạo nhưng hồi đó đă đem lại một trải nghiệm lớn và cũng là thứ chúng tôi thực sự mong mỏi ở CHDC Đức, DEFA nên làm ǵ, có thể quay những phim nào, ít nhất là chỉ ra như vậy.

Trong thời kỳ đầu này cũng chưa xác định rơ là DEFA sẽ thành cái ǵ. Các cuộc đàm phán về cơ cấu sau này mới diễn ra. Và ban đầu chúng tôi mang đầy lư tưởng và bảo, thế là sẽ có thống nhất, và tới lúc ấy chúng ta sẽ tu bổ một số cơ quan nhất định, v́ chúng tôi cũng có cảm giác là chúng đáng được như thế. Và tôi cũng đă nói chuyện lâu với Heiner Carow[1] và với các đạo diễn, kể cả của Dok-Film, những người cả đời đă phải chứng tỏ năng lực của ḿnh, những người có lẽ đơn giản đă trút bỏ h́nh thức thống nhất mà sau đó họ được biết này. Và mọi sự luôn có liên quan đến ḷng tự tín của chính chúng tôi nữa. Ngay từ đầu đây là đă là một cuộc đấu tranh để có một sự thống nhất ở ngang tầm mắt và không phải để một ai đó có tiền có thể nói là thu mua phần c̣n lại và nhờ thế quyết định đường hướng.’

Khi tài sản của SED-PDS bị xóa sổ, một số trong số này được mang vào lĩnh vực văn hóa:

‘Chúng tôi đă lấy chưa đầy 100 triệu DM, và cụ thể hơn là không chờ bàn bạc với các đối tác Tây Đức, để hỗ trợ cho các địa điểm mà chúng tôi cho là quan trọng, như là ṭa nhà Bauhaus ở Dessau. Và thêm một số nơi có thể nói là được hỗ trợ tài chính để sống qua được ngày thống nhất. Nhà hát quốc gia Đức ở Berlin cũng nằm trong số này, v́ số lượng các cơ quan bị đóng cửa trong thời tôi đương nhiệm nhiều khủng khiếp. Các diễn viên thực sự được đào tạo xuất sắc này dĩ nhiên đă lên đường sang Tây Đức từ lâu, nhận được những đề nghị rất hời và được chèo kéo bằng một số cát xê chỉ có trong tưởng tượng đối với điều kiện của chúng tôi. Đây luôn là một sự pha trộn, tức là những thứ chúng tôi t́m cách phát triển theo chiến lược và mặt khác luôn đề xướng các hạn chế về thiệt hại và cung cấp tài chính trong thời gian ngắn cho chúng.

Tôi có thể nhớ là một ngày nọ một người đàn ông trẻ tuổi từ Berlin-Hohenschönhausen xuất hiện trong pḥng ḿnh và nói anh ta muốn thành lập một trường dạy nhạc tư. Thế là chúng tôi đă nói chuyện với nhau nửa tiếng đồng hồ. Và sau đó anh ra về với một lời hứa chắc nịch là anh sẽ nhận được tiền cho ngôi trường dạy nhạc này. Bộ trưởng Văn hóa cuối cùng của CHDC Đức, cũng giống như tất cả những người tiền nhiệm, có một quỹ chữa cháy, và khi ở đâu có cháy th́ ông có thể chuyển tiền tới đó với một sự hào phóng hiếm thấy.

Nhà máy bia Pfefferberg, ngày nay vẫn c̣n có giá trị như là trung tâm văn hóa thay thế ở Berlin, nhà máy bia văn hóa, về cơ bản được thành lập từ lâu. Hồi đó tôi đi cùng với một số nhân viên và những người trẻ tuổi ḅ qua những tầng hầm ướt sũng trong nhà máy bia văn hóa. Và chúng tôi đă rót tiền vào đó để có thể xây dựng được các trung tâm văn hóa thay thế.’

Nhiều nghệ sỹ đă có tên tuổi ngờ vực, nghi ngờ nh́n cái mới, lo lắng về điều kiện làm việc, có những người c̣n lo cho đặc quyền của ḿnh:

‘Họa sỹ Wolfgang Mattheuer đến gặp tôi, nhưng chỉ nhân cơ hội này mắng chửi tôi ít nhiều về việc tài khoản của ông ấy chỉ c̣n nửa giá trị sau khi thống nhất tiền tệ. Chúng tôi không bàn luận về các mối lo khác. Peter Schreier[2] đến và ông Matthus[3], chủ đề câu chuyện là việc thành lập học viện âm nhạc ở Rheinsberg. Và lúc ấy cả Barbara Schall[4] cũng đến, ơng ẹo quăng ḿnh lên chiếc sô pha da c̣n lại trong pḥng và nói: ‘Nào, cậu bộ trưởng, bây giờ tôi có được nhận tiền cho BE không?’ Có khối chương tŕnh dân gian phụ!

Đương nhiên như vậy cũng đông vui lắm, v́ tôi làm bộ trưởng với tôi không phải là vấn đề, v́ tôi biết thực ra chúng tôi là đồng nghiệp. Ai ngồi trước mặt tôi đều là đồng nghiệp cả. Hôm qua tôi c̣n dẫn đoàn thăm quan ở bảo tàng và viết bài đóng góp cho một tập catalog hoặc treo một bức tranh hay làm một việc ǵ đó. Trong nghĩa đó tôi không phải là một bộ trưởng có vầng hào quang người ta phải phủ phục trước mặt v́ kính sợ hoặc hôn lên đầu gối hay ǵ cả. Tôi nghĩ là lúc đó khá tự nhiên.

Về mặt quốc tế th́ dĩ nhiên lại là chuyện khác. Cũng thú vị, ví dụ như hội nghị đầu tiên ở Italia, đảo Sicilia, hội nghị bộ trưởng Văn hóa châu Âu. Đó là sự nhảy xuống nước. Và điểm lạ thường là đại diện cho một nhà nước thực ra anh chối bỏ v́ sự kỳ quái của nó. Hồi đó chúng tôi có câu châm ngôn tuyệt vời này: ‘Chúng ta yêu CHDC Đức v́ những cái nó có thể là, và khinh bỉ cái nó đă là!’

Dù vậy ở CHDC Đức nghệ thuật đă được sinh ra, nó chắc chắn cũng có thể tồn tại được ở bất kỳ nơi nào khác và ở bất kỳ bảo tàng nào.

Phía Tây Đức luôn có một nhận định chung chung: Dưới một chế độ độc tài thực sự không thể sinh ra được nghệ thuật. Câu hỏi ngược lại là dưới chế độ dân chủ chỉ có thể sinh ra nghệ thuật được thôi cũng khó trả lời y như vậy. Những cuộc tranh luận thực ra đă có thể tŕnh bày tại chính các tác phẩm nghệ thuật lại luôn được dẫn dắt theo cung cách chính trị và luôn kèm theo một dư vị lăng mạ. Sau đấy thực sự có một kiểu tâm lư người thắng cuộc. Dù ǵ việc sát nhập cũng đă có thể là một cơ hội làm hệ thống CHLB Đức đă chạy đều đều trở nên sinh động hơn, thay đổi nó, chất vấn nó, ở Tây Đức chúng ta có làm ǵ cũng đúng hay không? Có phải đó là những cơ cấu đúng đắn hiệu quả không hay là sự sát nhập này cũng giống như một cơ hội, v́ mọi thứ đều rối bời, từ cái rối bời này phát triển được một cái ǵ đó có tính sáng tạo và có thể cùng nhau làm một điều ǵ mới. Và cũng có thể là nh́n nhận sự vật của CHDC Đức theo một cách khác, các cấu trúc, các cơ quan tổ chức. Tức là không chỉ nh́n nhận chúng như là một phương tiện chính trị và các cơ quan bị lạm dụng, mà chính là các cơ quan sản sinh ra nghệ thuật, nơi một phần nào đó đă sinh ra các thành công xuất sắc tầm cỡ thế giới. Nhưng trong thời kỳ đó mọi thứ đều đă có phần bị làm nhỏ đi.

Và dĩ nhiên là cuộc tranh căi về lư lịch các nghệ sỹ, khi đánh giá các tác phẩm không bao giờ đóng vai tṛ quan trọng, mà chủ yếu là những mối quan hệ chính trị đan xen, sự hủ hóa, mối liên hệ chặt chẽ với chế độ. Điều đó luôn mang ư nghĩa quyết định trong việc giữ lại hay bỏ đi cái ǵ hoặc đặt nó lên ngọn lửa liu riu tới khi nó tự được giải quyết.’



[1] Heiner Carow (1929-1997), đạo diễn phim của DEFA.

[2] Peter Schreier (sn 1935), ca sỹ giọng nam cao và nhạc trưởng nổi tiếng thế giới.

[3] Siegfried Matthus (sn 1934), nhà soạn nhạc CHDC Đức (nhạc cổ điển), trưởng giàn nhạc thính pḥng lâu đài Rheinsberg.

[4] Barbara Brecht-Schall (sn 1930), con gái và đồng thừa kế của Bertolt Brecht, diễn viên Đoàn nghệ thuật Berlin (BE).


Ed Stuhler

Trích từ:

Những tuần trăng cuối cùng của CHDC Đức của Ed Stuhler NXB Ch. Links năm 2010

Nguyên tác tiếng Đức: Die letzten Monate der DDR của Edstuhler

Người dịch: Thế Dũng & Thiên Trường -Bản quyền tiếng Việt của VIPEN Edition

VIPEN xuất bản theo  hợp đồng chuyển nhượng Bản quyền

giữa Ch.Links Verlag với VIPEN Edition(www.vipen.de)

Sách dầy: 306 tr. Khổ 14 x 21 cm Thiết kế b́a: Thai Gottsmann -Tŕnh bày sách: Vũ Xương Minh Phát hành tại CHLB Đức từ tháng 05.2012 Giá sách: 15,90 Euro

Đặt mua theo địa chỉ: peter.knost@berlin.de hoặc the.dung@vipen.de

 

 

http://www.gio-o.com/TheDung.html

 

 

© gio-o.com 2013