photo: nguyen thi hai ha

 

 

đọc trong mùa Tết

 

 

Nguyễn thị Hải Hà

con gà trong văn thơ Việt

và vài quốc gia trên thế giới

 

tản mạn

 

Con gà là h́nh ảnh rất gần gũi với người Việt Nam, cả thôn quê lẫn thành thị. Gần gũi đủ để xuất hiện trong văn thơ Việt nhưng v́ gần gũi quá nên không được yêu mến và kính trọng như hạc hay phụng. Gà được nuôi thành đàn. Nh́n một đàn gà người ta thường liên tưởng đến một xă hội hay gia đ́nh người Việt. Gà có nét đẹp riêng nhưng người Việt ít chú ư đến vẻ đẹp của con gà. Hầu như người ta chỉ chú ư đến gà, trước nhất như một món ăn ngon, và sau đó là tiếng kêu của chúng.

 

Tiếng gà mái được dùng để ám chỉ tâm lư của những người phạm lỗi, thường nói lớn hay nói nhiều để t́m cách đổ lỗi lên người khác như: gà đẻ gà cục tác. Tiếng cục tác của gà mái sau khi đẻ trứng gợi người ta nghĩ đến món thịt gà luộc như con gà cục tác lá chanh. Gà mái như một người phụ nữ Việt luôn luôn chịu nhận búa ŕu dư luận. Thậm chí nuôi con chồng cũng bị gán cho tiếng khắc nghiệt chưa làm mẹ kế đă mang tiếng không bao giờ tốt.

Mẹ gà con vịt chít chiu.

Mấy đời d́ ghẻ mà yêu con chồng.

Gà trống thường gáy lúc trời gần sáng khi bóng đêm hăy c̣n dày. Một người đi trong đêm thường bị nghi ngờ, như:

Đêm khuya gà gáy ó o.

Anh ngủ không được anh ṃ đi đâu.

Người Việt vốn trọng nam khinh nữ nên gà mái bị gán cho bao nhiêu là tính xấu. Một phụ nữ chỉ huy trong gia đ́nh th́ bị chê là nữ kê tác quái, gà mái đá gà cồ.

H́nh ảnh của một anh gà trống già với một ả gà mái tơ được dùng để chế nhạo cuộc nhân duyên chênh lệch tuổi tác:

Gà tơ xào với mướp già

Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi

Ra đường, chị diễu em cười

Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng

 

Người ta chê tiếng cục tác của gà mái nhưng nhiều thi sĩ văn nhân yêu thích tiếng gáy của gà trống. Tiếng gà thường hay gợi nhớ nỗi niềm trong quá khứ. Nhà thơ Lưu Trọng Lư nghe tiếng gà gáy trưa mà ḷng rượi buồn theo thời dĩ văng.

Mỗi lần nắng mới lướt bên sông,

Xao xác gà trưa gáy năo nùng – (thơ Lưu Trọng Lư)

 

Tiếng gà trưa của Trịnh Công Sơn nghe mông lung và có đôi chút ngậm ngùi. Ông vẽ ra h́nh ảnh một người lăng tử, về thăm một thành phố cũ, buổi trưa ngồi nghe gà gáy khan, gáy khan gáy khơi khơi, không phải lúc gà  thường hay gáy như hừng đông. Chàng lăng tử ngồi đó suy ngẫm về cuộc vô thường

Về trên phố cao nguyên ngồi,

Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi

Chợt như phố kia không người

C̣n lại tôi bước hoài  -  (Lời Thiên Thu Gọi, Trịnh Công Sơn)

 

Độc giả có thể nhận ra tiếng gà gáy gợi biết bao nỗi niềm của người bị giam cầm ở rừng sâu nước độc qua bài thơ Thức Sớm của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Ngày chưa thức hồi kẻng

Mờ bạc trăng hạ tuần

Gịng đầu hôm khuya lắng

Gợi heo hút phân vân

Đứng ngây trời tối sũng

Ngóng tiếng gà thôn gần

Nghe xa rừng núi bủa

Lùa âm u xốn xang.

 

Tiếng gà xuất hiện rất nhiều lần trong truyện Kiều bởi v́ số phận nàng long đong phải rời nơi cư ngụ khi trời chưa sáng hẳn. Ở đây tôi chỉ xin trích hai câu hầu độc giả:

Mịt mù dặm cát đồi tây,

Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương.

Hai câu này đă dựa vào hai câu thơ trong bài Thương Sơn Tảo Hành của Ôn Phi Khanh:

Kê thanh mao điếm nguyệt,

Nhân tích bản kiều sương.

Có nghĩa là người ra đi khi trời chưa sáng hẳn. Tiếng gà vang vọng lại từ ngoài cổng làng và trên trời vẫn c̣n vầng trăng khuyết. Cầu gỗ vẫn c̣n sương đọng in rơ dấu chân của người đi.

 

Tiếng gà cũng được các nhà thơ Nhật và Trung Hoa yêu chuộng.

 

Basho viết:

On the cow shed

A hard winter rain

cock crowing

 

Trong chuồng ḅ

Mưa mùa đông lạnh giá

Gà gáy vang.

 

Hồi tháng Chín (năm 2016) tôi sang California, ở bên cạnh nhà người bạn là một ngôi nhà kín cổng cao tường, sân trước rộng và sâu, có hàng rào gỗ cao bên ngoài, dọc theo bên trong hàng rảo gỗ là hàng giậu cũng rất cao. Đang giữa trưa tôi chợt nghe tiếng gà gáy. Thú thật, ḷng tôi thấy bồi hồi v́ nhớ nhà. Thuở nhỏ tôi ở thôn quê nhà nuôi gà vịt để ăn và lấy trứng. Tôi cũng bồi hồi v́ nghĩ đến thơ Lưu Trọng Lư và nhạc Trịnh Công Sơn.

 

Tiếng gà, qua thơ và nhạc chứa đầy vẻ lăng mạn nhưng thật ra không phải tất cả mọi người đều yêu thích tiếng gà. Ở Hoa Kỳ không dễ ǵ được nghe tiếng gà gáy nhất là người sống ở thành phố. Bởi v́ tùy theo luật địa phương, có nhiều nơi không cho phép nuôi gà, và nhất là gà trống. Vi phạm luật lệ sẽ bị phạt tiền. Người nuôi gà có thể bị cáo buộc làm phiền láng giềng dù không cố ư.

 

Trong chương tŕnh truyền h́nh Sex and the City (Season 3, episode 18), Carrie Bradshaw nhân vật nữ chính sống ở thành phố New York đường East 73rd khốn khổ không ngủ được v́ tiếng gáy của mấy chàng gà trống được nuôi trên sân thượng của ngôi nhà bên cạnh. Nàng đă thân hành đến ngôi nhà này để yêu cầu chủ nhân phải đem mấy chàng gà trống đi chỗ khác v́ tiếng gáy của chúng làm phiền nàng. Ngôi nhà này h́nh như là một cơ sở cứu trợ thú vật. Cô gái làm việc nơi đây nói cho Carrie biết đây là mấy con gà được cứu thoát khỏi một tổ chức thi đấu gà. Người Mỹ xem đấu gà là hành động độc ác với thú vật nên cấm những cuộc đấu như thế này. Mấy con gà được đưa lên sân thượng để nuôi v́ người ta e ngại nếu giữ chúng dưới hầm sẽ thiếu không khí trong lành để thở. Carrie muốn tử tế với thú vật nên ra về; nhưng v́ không ngủ được, cộng thêm mối bất ḥa với người yêu ngay đêm ấy nàng gọi điện thoại than phiền với Cảnh Sát của thành phố.

 

Con gà trong văn chương thế giới có vị trí đáng kể hơn con gà trong văn chương Việt. Có rất nhiều tác giả danh tiếng nhắc đến con gà trong tác phẩm như Haruki Murakami (Wild Sheep Chase), Truman Capote (Giáng Sinh Trong Kư Ức), John Steinbeck (The Grapes of Wrath), William Faulkner (As I Lay Dying), … . Trong văn học Hàn quốc đương thời, có một tác phẩm được in ra nhiều thứ tiếng và là sách bán chạy trên thế giới. Trong quyển “The Hen Who Dreamed She Could Fly” của Sun-mi Hwang có một con gà mái tơ tên Sprout là nhân vật chính. Qua Sprout, độc giả có thể h́nh dung một phụ nữ Á châu rất hiện đại nhưng vẫn mang đậm nét truyền thống. Làm đủ mọi cách kể cả nhịn đói đến suưt chết để thoát ra khỏi trại nuôi gà của loài người, Sprout được toại nguyện, sống tự do trong hoang dă, thoát khỏi nanh vuốt của con chồn, bằng ư chí muốn sinh tồn. Sprout ấp một cái trứng của vịt trời, nuôi đứa con vịt với tất cả tấm ḷng yêu thương của người mẹ ruột; trái ngược với thành kiến của người Việt so sánh mẹ gà con vịt với mẹ ghẻ con chồng. Như một bà mẹ đơn thân nuôi con đến khi thành tài bay đến những chân trời mới. Trong lúc dùng hết khả năng để được sống tự do, nàng nhận ra là nàng có ước muốn được bay cao, bay xa, như đứa con nuôi của nàng. Ước mơ này được thể hiện rơ ràng trong những trang cuối cùng của quyển sách. Xin mời đọc phụ lục “Sprout và Ước Mơ Bay”.

 

Trong khi văn chương Việt xem thường gà mái, George Orwell trong Animal Farm đă cho bầy gà mái tơ đứng lên chống đối chế độ độc tài bóc lột công sức của người phụ nữ lao động. Nghe lời Napoleon các nàng mái tơ nổi dậy chống loài người v́ họ chỉ biết ăn trứng mà không biết đẻ ra trứng. Một thời gian sau nhà máy xay bị phá hoại nên sập đổ, mùa đông năm ấy lại kéo dài với những cơn băo tuyết dồn dập, cả nông trại bị thiếu thức ăn. Squealer, theo lời Napoleon, nhà lănh đạo tham lam và độc tài, ra lệnh bầy gà mái tơ phải tăng cường sản xuất trứng, dù không được ăn no. Muốn biết các nàng chống độc tài ra sao, xin mời độc giả đọc phần phụ lục “Trại Súc Vật”.

 

Trong truyện ngắn “Con gà trống và Nàng Vũ Công” của Yasunari Kawabata con gà chỉ là nhân vật phụ. Tôi chọn dịch The Dancing Girl là nàng vũ công v́ e ngại chữ vũ nữ mang ấn tượng xấu. Cũng như người Việt Nam, người Nhật tin là gà gáy ban đêm là điềm gở, điềm báo mấy cô gái chưa chồng mà lại có thai. Theo Kawabata hễ nhà nào có gà gáy ban đêm th́ người ta mang con gà đến đền thờ Quan Âm cầu nguyện và thả con gà ở đó. Cô vũ công mang gà đi thả gặp một gă đàn ông rủ cô hợp tác trong một âm mưu làm giàu. Truyện được dịch ở trong phần phụ lục “Con Gà Trống và Nàng Vũ Công”.

 

Trong ba truyện dịch này tôi thích nhất là truyện “Sprout và Ước Mơ Bay” v́ cái nh́n của người phụ nữ hiện đại. Sprout, có thể tự nuôi sống ḿnh, một ḿnh nuôi con, và đứa con lại khác chủng tộc. Sprout có can đảm đi t́m tự do và hạnh phúc cho cá nhân. Tác giả tuy thế vẫn c̣n có cái nh́n rất cổ xưa về phụ nữ là người phụ nữ sinh ra với bản năng muốn có con và luôn luôn hy sinh hạnh phúc của ḿnh cho xă hội.

 

 

PHỤ LỤC

 

SPROUT VÀ ƯỚC MƠ BAY

 

(Trang 81)


Sprout khịt mũi tỏ vẻ không đồng ư với chim đầu đàn; gă đă khoác lác như thể gă là bố của Baby. Gă đâu có biết ǵ về Baby. Baby không bao giờ rời bỏ nàng chỉ v́ lời tán tụng của chim đầu đàn. Không bai giờ. Nàng ưỡn ngực nói đầy vẻ tự tin. “Gà mà sợ đồng ruộng à?”

“Ồ, bà th́ không sợ, chắc chắn rồi. Nhưng mấy con gà khác th́ nào biết quái ǵ. Tôi cam đoan là chúng chẳng hề biết rằng tổ tiên của chúng đă từng diễn hành chung quanh bầu trời, giống như là chim vậy.”

“Gà biết bay? Bay như chim?” Sprout không thể nào tin được lỗ tai nàng. Bay với đôi cánh vung vẩy chỉ đủ để phủi bụi như thế này? Nàng đă từng nh́n thấy một chàng gà trống từ trên đầu của tường đá nhảy xuống với đôi cánh vươn ra thật rộng, nhưng đó không thể nói là bay. Bay, ít nhất, là phải vượt lên khỏi ngọn cây và đi xa đến một nơi nào đó, phải có thể tự lượn lờ trên không trung một thời gian rất lâu, th́ mới có thể gọi là bay. Thật là vô cùng tuyệt diệu nếu nàng có thể bay. “Nhưng điều ǵ đă xảy ra? Tại sao chúng ta không thể bay được nữa?” Sprout dang rộng đôi cánh của nàng. Nàng không thể nào bay vượt qua khỏi ngọn của đám lau sậy.

“Tại v́ bà chỉ có biết ăn suốt ngày rồi đẻ trứng thôi,” chim đầu đàn giải thích. “Đôi cánh của bà trở nên yếu ớt đi và cái bàn tọa của bà trở nên nặng nề hơn. Ấy thế mà loại gà cứ tự cho ḿnh là vĩ đại, lại c̣n nói rằng gà là tượng trưng cho tiếng nói của mặt trời.”

 

- - - 

 

(Trang 131- 134)

 

Mầm cây và cỏ xanh trồi lên những nơi ánh nắng có thể rọi vào. Hoa vàng nở rộ trên cành của những cây đào thù du trên rặng đồi phía sau. Mùa xuân đă về. Sprout đi ṿng quanh bờ hồ mỗi ngày, nhưng Greentop không bao giờ bơi đến gần nàng. Nàng hiểu rằng một người giữ nhiệm vụ canh gác cho đàn th́ không thể rời vị trí, nhưng nàng khó nén được nỗi thất vọng. Đă lâu lắm rồi, chừng như cả năm trời, hai mẹ con chẳng hề tṛ chuyện với nhau.

Thời tiết đang đẹp bỗng dưng trở nên xấu tệ. Gió thật lạnh, trời xám ngoét, dường như một cơn tuyết sắp đổ xuống. Sprout cảm thấy yếu ớt và mệt mỏi. Nàng cũng cảm thấy ḷng nàng xám xịt và buồn bă như bầu trời. Mệt đuối v́ đi ṛng ră quanh hồ suốt ngày, nàng trở về nơi con dốc cũ. Dạo này nàng trở về cái hang trên triền dốc này hằng đêm để nàng có thể nh́n thấy Greentop. Nàng muốn được sống chậm răi hơn với tuổi già của nàng. Nàng biết con chồn vẫn c̣n đang ŕnh rập chung quanh nhưng nàng không c̣n sức lực để chạy trốn nữa. Nàng biết cuộc sống càng khó khăn hơn khi phải trải qua thêm một mùa đông nữa mà không có ai chăm sóc giúp đỡ nàng. Sprout nép ḿnh ở cuối triền dốc và cúi đầu tránh cơn gió lạnh. Đôi khi một cọng lông vũ của nàng rơi ra và bị gió cuốn bay. Gió lạnh như cào cấu da thịt nàng nhưng nàng không muốn vào trong hang. Đuối sức chừng như ngă quỵ nàng vẫn nheo mắt nh́n về phía hồ. Nàng e rằng không c̣n đủ sức để đến bờ hồ ngày mai.

Buổi chiều, đàn vịt đầu xanh hoạt động nhiều hơn. Khi cả đàn bắt đầu vây quanh nhóm vịt đầu đàn và kêu quác quác inh ỏi, giọng chúng đầy vẻ khích động và mạnh mẽ hơn những ngày trước đây. Sprout không biết rằng chúng đang chuẩn bị bay về xứ tuyết ở mạn bắc. Gió thổi mạnh hơn. Gió lộng từ rặng đồi phía sau và lang thang khắp nơi, dày xéo cánh đồng khô. Lá khô cuốn theo chiều gió và băi sậy reo ŕ rào. Đàn vịt đầu xanh vỗ cánh phành phạch khi con chồn đi ṿng quanh chúng, t́m cơ hội tấn công. Con vịt đầu xanh đầu đàn cất cánh mạnh mẽ lên không trung. Cả bầy vịt cũng cất cánh theo gă, hết con này đến con khác, sắp thành từng hàng ngang. Sprout ngước nh́n khi chúng bay ṿng quanh hồ và rặng đồi phía sau. Một con tách rời đàn và bay về hướng triền dốc. Sprout đứng dậy. “Greentop, con của mẹ!”

Sprout dang rộng hai cánh để đón mừng con, nhưng thay v́ đáp xuống, cậu bé chỉ bay ṿng quanh nàng trong chốc lát. Chạm nhẹ vào người nàng bằng đôi cánh, cậu bé kêu, “Mẹ!” như nói lời từ giă. Gió mang giọng nói của cậu bé vào sâu bên trong cánh đồng. Sprout đứng ngẩn ngơ dưới luồng gió do cánh của cậu bé tạo ra. Nàng nhận ra đây là lời giă từ. Con đă đi rồi! Nàng vẫn biết ngày hôm nay rồi sẽ đến. Nhưng nàng không có đủ th́ giờ để tṛ chuyện với con hay làm một cuộc tiễn đưa cho thích hợp. Greentop lại cất cánh bay cao hơn và vẫy cánh thật mạnh cố đuổi theo cho kịp đàn vịt đă bay trước khá xa. Sprout muốn thả tuôn ra bao nhiêu điều nàng hằng giữ kín trong tim, chờ có dịp thích hợp để chia sẻ với con. Nhưng nàng không thành công khi muốn gom tất cả những điều muốn nói vào trong một chữ; thay vào đó nàng chỉ có thể thoát ra tiếng nấc. Đứa con bé bỏng của tôi đă ĺa xa tôi!

Đàn vịt đầu xanh bay phủ kín bầu trời và dần dần biến mất bên ngoài rặng núi phía sau. Tiếng vỗ cánh cũng trở nên nhỏ dần. Như là có một thế giới bí mật nào đó nằm bên ngoài bầu trời đă cuốn hút đàn vịt đầu xanh vào. Th́nh ĺnh tất cả trở nên hoàn toàn vắng lặng. Vắng lặng đến độ Sprout không thể thở được. Mỗi lần cố hít hơi vào, nàng cảm thấy đau đớn như thể tim của nàng bị nghẹt. Nàng mong muốn một cách tuyệt vọng được bay theo đứa con bé bỏng của nàng. Nàng muốn được bay cùng đàn vịt đầu xanh. Nàng sợ bị bỏ lại một ḿnh; nàng thù ghét chuyện đă xảy ra.

Tự lúc nào, con chồn tiến đến gần. Nhưng tên thợ săn chẳng làm nàng sợ hăi bằng nỗi lo sợ sẽ bị cô đơn. Sprout nhắm mắt lại. Nàng chỉ có một mơ ước, được ấp một cái trứng và nh́n thấy trứng nở thành gà con. Ao ước ấy đă biến thành sự thật. Tuy cuộc sống vất vả nhưng nàng luôn cảm thấy hạnh phúc. Đó chính là điều nuôi dưỡng sự sống của nàng. Bây giờ tôi muốn được bay đi xa! Tôi muốn được bay xa như Greentop! Nàng vẫy cánh. Tại sao nàng đă không tập bay, trong khi chính cậu bé đă vụng về tự tập bay? Nàng không nhận biết rằng nàng đă nuôi trong ḷng một mơ ước khác. Đó không chỉ là mơ ước suông; mà là một điều nàng rất muốn biến nó thành hiện thực. Sprout nh́n đăm đăm vào bầu trời trống rỗng, cảm thấy cô đơn tận cùng. Đôi mắt của con chồn như xuyên thấu qua người nàng nhưng Sprout cứ tiếp tục nheo mắt và nheo mắt, cố nh́n ở tận cuối chân trời. Tuyết bắt đầu rơi. Khi nàng ngắm những đóa hoa tuyết bay nhẹ nhàng trong gió, một nụ cười nở trên mặt nàng. Hoa của cây keo đang rơi! Với Sprout, tuyết giống như những cánh hoa keo. Muốn cảm nhận những cánh hoa rơi với thể xác lẫn tâm hồn, nàng dang rộng đôi cánh. Nàng muốn ngửi thấy mùi của hoa. Nàng thấy phấn khởi. Nàng không c̣n cảm thấy lạnh hay cô đơn nữa.

Thế rồi, có tiếng gầm gừ, và vạn vật chung quanh nàng biến mất – những cánh hoa keo, mùi hương, và cơn gió thoảng. Trước mặt Sprout là con chồn đang đói ngấu nghiến. “Lại là mi,” Sprout nói, nh́n thẳng vào đôi mắt sâu hoắm của con chồn. Nàng nghĩ đến những đứa con sơ sinh của con chồn, mềm mại và thịt da mỏng manh. Chúng cũng giống như quả trứng cuối cùng nàng đă sinh, cái trứng có cái vỏ mềm nhủn đă vỡ ngay trong sân. Nàng vẫn nhớ trái tim của nàng đă tan vỡ như thế nào và nỗi buồn nàng đă cảm nhận. Thân h́nh của nàng trở nên tê dại. Nàng không thể chạy trốn được nữa, không c̣n lư do cũng như không c̣n sức lực để chạy trốn. “Tiếp tục đi, hăy ăn thịt ta,” nàng thúc giục. “để giúp cho đám con của mi no bụng.” Nàng nhắm mắt lại.

Sprout bị ngạt thở. Nàng đă nghĩ rằng sẽ bị đau đớn nhiều, nhưng giờ đây nàng chỉ cảm thấy một sự thảnh thơi phát ra tận trong xương tủy. Cuối cùng rồi mi cũng bắt được ta. Mọi vật trở nên tối sầm lại. Nàng đă trải qua cảm giác này lúc ở trong cánh đồng. Khi nàng nghe tiếng con vịt trắng thét lên, mọi vật trở nên tối sầm, sau đó, dần dần, cũng như bây giờ, nàng thấy một màu đỏ lóe. Rồi mọi vật trở nên sáng sủa hơn.

Sprout mở mắt ra. Bầu trời xanh chói mắt. Nàng cảm thấy trong sạch và vui vẻ. Rồi, như một cọng lôngvũ, nàng bay bổng. Bay lượn trong không khí với đôi cánh rộng và xinh đẹp, Sprout nh́n xuống cảnh vật phía dưới – hồ nước với cánh đồng trong cơn băo tuyết, và con chồn đang khập khiểng bước đi, trong mồm nó có cái xác của con gà mái gầy c̣m đang đong đưa.

 

Nguyễn thị Hải Hà dịch từ The Hen Who Dreamed She Could Fly của Sun-mi Hwang. Bản tiếng Anh của Chi-young Kim.

 

 

TRẠI SÚC VẬT

 

Một buổi sáng Chủ Nhật Squealer loan báo rằng bầy gà mái, các nàng vừa mới vào trong ổ để đẻ trứng thêm lần nữa, phải giao nộp tất cả trứng. Napoleon đă nhận, qua trung gian Whymper, một hợp đồng sẽ giao bốn trăm trứng một tuần. Tiền bán những quả trứng này sẽ dùng để trả tiền ngũ cốc và thức ăn cho cả nông trại để có thể tiếp tục hoạt động cho đến mùa hè và lúc ấy thời tiết sẽ bớt khắc nghiệt.

Khi nghe tin này, các nàng gà phản đối kịch liệt. Các nàng đă được báo trước rằng sự hy sinh này có thể sẽ cần thiết nhưng các nàng không muốn tin là nó sẽ thật sự xảy ra. Các nàng đă chuẩn bị sẵn sàng để ấp trứng vào mùa xuân, v́ thế họ phản đối rằng lấy trứng lúc này là hành động sát nhân. Lần đầu tiên kể từ ngày Jones bị trục xuất, mới có một cái ǵ đó gần giống như một sự nổi loạn xảy ra. Dẫn đầu bởi ba nàng gà tơ màu đen (Black Minorca), bầy gà mái quyết định ngăn chận ước muốn của Napoleon. Cách chống đối của các nàng là bay lên trên xà nhà rồi đẻ trứng xuống, làm cho trứng vỡ tan nát trên mặt đất. Napoleon xử trí thật nhanh chóng và độc ác. Hắn ra lệnh ngăn chận khẩu phần của các nàng gà, và hăm rằng bất cứ loài thú nào nếu cả gan cho các nàng ăn dù chỉ một hạt bắp cũng sẽ bị xử tử. Lũ chó sẽ thực hiện bản án tử h́nh. Các nàng chống đối được năm ngày, sau đó xin đầu hàng vô điều kiện và trở về ổ của các nàng. Trong khoảng thời gian này, có chín con gà bị chết. Xác của chúng được chôn trong vườn cây ăn trái và có tin loan báo là chúng bị mang chứng bệnh rụng lông đuôi. Whymper không hề nghe biết tin này, và trứng gà vẫn được giao b́nh thường. Chiếc xe vận tải đậu trước cửa nông trại vẫn xuất hiện hằng tuần để chở trứng đi.

 

Nguyễn thị Hải Hà dịch từ Animal Farm của George Orwell trang 54.

 

 

CON GÀ TRỐNG VÀ NÀNG VŨ CÔNG

 

Dĩ nhiên, nàng vũ công rất ghét – phải cặp dưới nách một con gà trống – bất kể là đêm đă khuya đến chừng nào.

Nàng vũ công không nuôi gà. Đây là con gà của mẹ nàng nuôi.

 

 

“Chúng nó tập thể dục thẩm mỹ trên mái nhà, trần truồng.”

Mẹ nàng giật ḿnh.

“Không phải chỉ một hay hai đứa. Có cả bốn mươi hay năm mươi đứa cả thảy. Như thể bọn chúng đang ở trong trường dành riêng cho nữ sinh. Trần truồng. . . thật ra chỉ có đôi chân để trần thôi.”

Nắng xuân tràn trề trên mái nhà đúc bê tông. Các nàng vũ công có cảm tưởng như tay chân của họ mọc dài ra như những búp măng non.

“Ngay cả ở trường tiểu học học sinh cũng không c̣n tập thể dục thẩm mỹ trên sân trường nữa.”

 

 

Mẹ của cô gái đến trước cửa pḥng thay quần áo để chờ con.

“Con gà trống gáy ban đêm. Đó là lư do mẹ đến đây. Mẹ sợ có chuyện không hay xảy đến với con.”

Mẹ nàng chở ở ngoài cửa trường cho đến khi buổi học múa chấm dứt.

“Bắt đầu ngày mai, con sẽ biểu diễn múa trần truồng trước khán giả.” Nàng đă chẳng nói trước điều này. “Có một gă đàn ông rất kỳ cục. Chỗ mẹ ngồi chờ con lúc năy là pḥng thay quần áo để chuẩn bị diễn xuất. Có người nói rằng gă đứng ở đó thơ thẩn nh́n xem cả tiếng đồng hồ - mặc dù nơi đó có vách tường rất cao và cửa sổ làm bằng kính mờ. Hắn ta không thể nh́n thấy ǵ dẫu chỉ là một cái bóng mờ. Người ta nói hắn chỉ nh́n những hơi nước trên cửa kính đóng thành giọt chảy xuống.”

“Thảo nào, có thế th́ gà trống mới gáy ban đêm chứ.”

 

 

Người dân ở quận hạt Asakusa có tục lệ đem bỏ những con gà trống gáy ban đêm ở đền thờ Quan Âm. Làm như vậy, họ nói, sẽ tránh được tai họa.

Hiển nhiên đàn gà sống chung với đàn bồ câu ở đền thờ Quan Âm đều là những nhà tiên tri trung thành với chủ của chúng.

Nàng vũ công về thăm nhà. Buổi chiều hôm sau trở lại Asakusa, băng qua cầu Kotoroi từ bên phía Honjo. Nàng cắp dưới nách một con gà trống được bọc trong miếng vải.

Nàng mở bọc vải này trước cửa đền thờ Quan Âm. Vừa chạm chân xuống đất, con gà trống tức khắc vỗ cánh bay đi.

“Lũ gà đúng là đồ ngu.”

Nàng thấy thương hại cho con gà trống, có lẽ c̣n đang ẩn núp đâu đó trong bóng tối. Nàng cố nh́n nhưng không thấy được.

Nàng vũ công chợt nhớ ra là mẹ bảo phải cầu nguyện.

“Thưa Quan Âm, ngày xưa ngài có khiêu vũ lần nào không?” Nàng cúi đầu. Khi ngẩng lên, nàng chợt giật ḿnh. Trên cành cây hạnh nhân ở măi tít trên cao và nàng nh́n thấy bốn hay năm con gà đang ngủ trên ấy.

“Tôi tự hỏi không biết con gà trống ấy ra thế nào rồi.”

 

 

Trên đường về hí viện, nàng vũ công dừng lại trước đền thờ Kannon.

Con gà trống nàng thả ra hôm trước bắt đầu tiến đến gần nàng. Đỏ mặt, cô gái bỏ chạy. Con gà trống rượt theo nàng.

Đám người trong công viên ngạc nhiên, miệng họ há hốc khi thấy con gà trống rượt đuổi cô gái.

 

Ngày qua ngày con gà trống trở thành con chim hoang sống chung với đám người trong công viên.

Nó bắt đầu bay giỏi. Cánh của nó dính đầy bụi đất và biến thành màu trắng. Nó cùng với lũ bồ câu mổ nhặt những hạt đậu rơi với thái độ vô tư của một đứa trẻ bụi đời ở Asakusa và vênh váo đứng trên tủ tiền cúng dường Quan Âm.

Nàng vũ công không bao giờ đi ngang đền thờ Quan Âm nữa.

Nếu như nàng có đi ngang, th́ con gà trống cũng đă quên nàng rồi.

 

 

Ở nhà của nàng vũ công, có hai mươi con gà con vừa mới nở.

“Có lẽ đó là điềm xấu nếu bầy gà con kêu chút chít ban đêm.”

“Đối với loài người, trẻ con khóc ban đêm là b́nh thường.”

“Nó thật chẳng b́nh thường nếu người lớn khóc ban đêm.”

Cô vũ công nói những lời vụn vặt; tuy nhiên, nàng bắt đầu nghĩ rằng những lời này có mang một ư nghĩa nào đó.

Nàng thường đi chung với đám nam sinh. Dường như mấy cô vũ công không xuất sắc lắm, thỉnh thoảng, đi chung với đám học tṛ nam.

Khi nàng về nhà, mẹ nàng nói, “Không biết điều ǵ lại xảy ra. Có một con gà trống lại gáy vào ban đêm. Con hăy đi đến đền thờ Quan Âm mà cầu nguyện.”

Nàng vũ công cảm thấy như ḿnh bị khám phá ra đă làm điều ǵ đó không tốt, nhưng nàng mỉm cười. “Hai mươi con gà con vừa nở, có lẽ gà trống gáy ban đêm có nghĩa là chẳng có ǵ xấu xa nếu ḿnh đi chung với hai chục đàn ông. Như thế cũng đủ vui cho một đời người.”

 

Nhưng nàng đă lầm. Điều tiên đoán của con gà trống không phải là chuyện đi bộ với nam sinh.

 

Một gă đàn ông kỳ hoặc đă đi theo nàng vũ công khi nàng cắp dưới nách con gà trống gói trong bọc đến đền thờ Quan Âm. Nhưng bởi v́ có con gà trống, cô gái thấy hổ thẹn hơn là sợ hăi. Rồi th́ cô gái nhút nhát – đúng là cô có tính rất nhút nhát - chúng ta nên hét to lên cẩn thận với gă đàn ông để cảnh giác nàng.

Nàng vũ công cắp dưới nách một con gà trống th́ đúng là một h́nh ảnh khá kỳ khôi. Gă đàn ông chắc chắn nghĩ rằng đây là cơ hội thuận tiện.

“Cô bé, cô có muốn hợp tác với tôi trong một kế hoạch sẽ kiếm ra rất nhiều tiền không? Tôi sục sạo thùng rác mỗi ngày ở hí viện nơi cô múa – không phải để nhặt rác. Trong thùng rác chứa đầy những lá thư đă được gửi cho các nữ vũ công, những lá thư đă bị ném đi.”

“Ô?”

“Cô biết là tôi muốn nói ǵ, phải không? Chúng ta có thể dùng những lá thư ấy để rút rỉa tiền từ đám đàn ông ngu ngốc đă gửi thư đi. Nếu tôi có người ở trong nhà hát giúp tôi, th́ công việc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.”

Nàng vũ công t́m cách tháo chạy. Gă đàn ông nắm lấy nàng. Không suy nghĩ, cô gái gạt cái mặt gă sang một bên, bằng tay phải – bàn tay đang nắm con gà.

Nàng quơ vụt nguyên một bọc gà vào mặt gă đàn ông. Con gà trống vỗ cánh. Gă đàn ông làm sao chịu được nó chứ?

Gă bỏ chạy, la hét ầm ĩ. Gă không biết đó là con gà trống.

 

- - -

 

Sáng hôm sau, khi cô gái đến trước đền thờ Quan Âm, chắc bạn không thể ngờ rằng, con gà trống đêm hôm trước vẫn c̣n ở đó và chạy theo nàng. Nàng cố nén cười, nhưng lần này nàng không c̣n chạy trốn nữa. Nàng im lặng ra về.

Vừa về đến pḥng thay quần áo, nàng nói, “Tất cả các bạn, xin hăy giữ kỹ những lá thư. Xin đừng ném vào thùng rác và hăy gửi tin nhắn đến các hí viện khác – để bảo vệ đạo đức chung.

Dĩ nhiên, với cách cư xử này, có lẽ nàng sẽ trở thành một vũ công nổi tiếng.

 

Nguyễn thị Hải Hà dịch nguyên tác “The Rooster and the Dancing Girl” của Yasunari Kawabata từ tập truyện ngắn Palm of the Hand. Bản Anh ngữ của J. Martin Holman.

 

Nguyễn thị Hải Hà

 

 

© gio-o.com 2017