gio-o.com số đặc biệt Tết Rồng Vàng 2012
NGUYỄN MAN NHIÊN
NGÀY XUÂN NHỚ LẠI
MỘT SỐ TỤC CỔ, NẾP XƯA
tản mạn
TỤC TẾT GIẾNG
Chiều ngày 30 Tết các lu nước, ghè nước phải chứa cho đầy, bắt đầu xẩm tối đến sáng mùng Một khi chưa tết giếng thì không ai được phép xách nước vì sợ động bà Thủy Long. Người dân quê rất sợ bà này, nếu ai vô ý chọc giận bị bà quở trách thì nguy to. Sáng mùng Một tết chủ nhà sắm mâm lễ vật đặt gần giếng khấn vái bà Thủy Long và con gái của bà, sau đó dán tờ vàng mã bên ngoài thành giếng. Chủ nhà lấy gàu dây múc nước lên để cúng nước đầu năm, lúc bấy giờ giếng nước mới được sử dụng bình thường.
TỤC TẾT ÔNG CHUỒNG BÀ CHUỒNG
Dân gian quan niệm rằng ông Chuồng bà Chuồng là những người khuất mặt cai quản các chuồng nuôi gia súc như chuồng heo, chuồng trâu. Ngày đầu năm phải đi tết cho họ để gia súc được phù trợ.
Sáng mùng một Tết chủ nhà lấy giấy vàng mã dán nơi chuồng heo và cắm cây nhang khấn vái. Riêng chuồng trâu, chuồng bò được lễ kỹ hơn. Chủ nhà sắm một mâm lễ vật gồm: bánh tét một đòn, rim mứt, rượu trà, trái cây… đặt lên chiếc ghế ngồi bên chuồng trâu. Chủ nhà cầm lá vàng bạc và hai tờ giấy in hình trâu và bò dán trước cổng chuồng. Nếu nhà nào có thuê đứa chăn trâu, nó phải được gọi đến đứng bên mâm lễ vật. Chủ nhà thắp hương van vái ông Chuồng bà Chuồng phò hộ cho đám trâu bò có các tên Bầu, Bí, Xe, Pháo, Cộ… (đọc kê cho đủ tên) và vái ba vái. Sau lễ tết trâu bò, mâm lễ vật này được giao cho thằng chăn bưng về nhà nó.

nguồn ảnh: "Kỹ thuật của người
An Nam", Henry Oger, 1909
TỤC TẾT CÂY TRÁI
Ngày xưa ở các làng quê, trong vườn cây chỉ có dây trầu là được coi trọng nhất. Bởi người ta tin rằng Bà Bảy tức bà Bình Vôi là chủ trì cây trầu. Bà này tính rất hung hăng, nóng nảy và thích uống rượu. Ngày đầu năm tết cây trái phải dán lá vàng mã lên nọc trầu trước tiên.
TỤC KHAI TRỐNG LÀNG ĐẦU XUÂN
Trước năm 1945, nhất là trong giai đoạn Nho học đang thịnh hành thì tục khai trống làng đón xuân rất quan trọng. Cho đến trước năm 1975 tục này vẫn còn duy trì trong các làng xã ở Trung bộ, tuy đã được giản lược.
Trời vừa hừng sáng, vị lý trưởng khăn áo chỉnh tề sai gia nhân bưng theo một mâm lễ vật đến đặt tại nhà làng. Trước tiên vị lý trưởng lấy hai câu đối chúc xuân cho làng xóm dán lên hai bên trụ cửa, tiếp theo đứng niệm hương khấn vái rồi lạy bốn lạy. Sau đó khởi đánh ba hồi chín nhịp trống chào đón xuân. Nếu làng có hát bội, khi nào nghe tiếng trống khai xuân khởi động xong, gánh hát mới được phép nổi trống chầu trống chiến.
Các câu đối dán ở nhà làng thường cầu chúc cho quốc thái dân an, xóm làng no đủ như:
Gia tường thế diễn vô cương khánh
Quốc thái thiên hoà bất lão xuân.
(Nhà vui đời đẹp mừng no ấm
Nước thạnh trời xuân mãi vui tươi).
Hay:
Hoa khai thôn lý thuần phong trị
Xuân đáo lương dân phước thọ trường.
(Hoa nở xóm làng gìn tục tốt
Xuân về dân chúng tuổi càng cao).
TỤC DỰNG NÊU, HẠ NÊU, HỒI TRỐNG KHAI HẠ VÀ ĐỘNG THỔ
Hằng năm, đến chiều ngày 30 Tết nhà nào cũng lo dựng nêu đón xuân. Nêu dựng xong được cúng bằng nồi chè nếp, chè đậu hoặc chè khoai. Thời ấy có câu ca dao hát ru:
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Cho mau tới tết dựng nêu ăn chè.
Trên đọt nêu treo một cái giỏ nhỏ đựng trầu cau và một tờ giấy hồng đơn lớn bằng bàn tay viết danh hiệu hai vị thần Uất Lũy và Thần Sầu để khu trừ loài cẩu quái.
Sáng ngày mùng 7 tháng Giêng, sau ba hồi trống làng, cây nêu được hạ xuống. Vị lý trưởng cầm cái cuốc ra sân nhà làng làm thủ tục động thổ cuốc xuống đất 3 cái, lúc này dân làng mới được phép ra đồng cày cấy.
TỤC GẠO ĐẦY CHUM, CƠM DÀNH NỒI
Gạo đầy chum: bất cứ nhà nào dù giàu hay nghèo, chiều ngày 30 Tết phải đổ lúa đầy cối xay, gạo lức đổ đầy cối giã, gạo trắng đầy chum, nước uống đầy lu, mắm muối đầy hũ. Nếu nhà quá nghèo không đủ gạo đổ vào đầy chum to thì đựng trong cái hũ nhỏ hơn. Tục này có ý nghĩa là sang năm mới gia đình sẽ no đủ cơm gạo quanh năm.
Cơm dành nồi: sau bữa ăn không được vét hết cơm trong nồi, ít nhiều gì cũng để lại nửa chén, có ý cầu mong no đủ không đói kém.

nguồn ảnh: "Kỹ thuật của người
An Nam", Henry Oger, 1909
TỤC TRẢ NỢ TRƯỚC NGÀY GIÁP ẤN
Để công việc làm ăn sang năm mới hanh thông, tấn tới, người ta cố gắng trả các món nợ trước ngày 25 tháng Chạp - được gọi là ngày giáp ấn, có nghĩa ngày cuối cùng của năm các cơ quan làng xã còn làm việc, còn dùng đến chiếc ấn (con dấu). Sau ngày đó, ai không trả nợ được thì chủ nợ cũng nên tha cho, không được cầm cố, xiết nợ, mà phải chờ đến ngày mùng 7 tháng Giêng sang năm mới được đến đòi nợ. Chủ nợ nào đòi nợ gây ồn ào trong làng sẽ bị ban hương lý khiển trách, tội nặng hơn có thể phạt vạ.

nguồn ảnh: "Kỹ thuật của người
An Nam", Henry Oger, 1909
TỤC GỞI BÌNH VÔI
Ngày xưa người ta tin rằng bình vôi dây trầu là lộc của Bà Bảy hay còn gọi là Hồ Ly Thất Nương. Bà nổi tiếng hung dữ, mỗi khi đồng cốt ợ ngáp lên đồng thì đòi uống rượu, hò hét om sòm.
Theo tục lệ của người ăn trầu, cứ mỗi 2 năm phải thay bình vôi mới. Bình cũ nhận đầy vôi rồi đem bỏ dưới gốc cổ thụ, hoặc trên bờ thành ngôi mộ cổ, miệng không quên lẩm nhẩm khấn: “Xin gởi Bà Bảy bình vôi”. Trước đây không riêng gì nữ giới, nam giới cũng ăn trầu, cho nên số lượng bình vôi gởi bỏ đi rất nhiều.
TỤC THAY KIỀNG BẾP
Kiềng bếp nấu cơm đến khi mục gãy, không dám liệng bậy, vì được coi là một phần của Táo Quân, nên đem bỏ dưới gốc cây cổ thụ hay nơi mả hoang chung địa điểm với bình vôi.

nguồn ảnh: "Kỹ thuật
của người An Nam", Henry Oger, 1909
TỤC THỜ BÀN THIÊN
Ngoài sân có một bàn thờ nhỏ bằng gỗ hay xi măng nằm trên trụ cao khoảng 1,5 mét, nằm giữa trời không có mái che, gọi là Bàn Thiên. Hàng tháng, ngày rằm, mồng một đều có thắp nhang. Thiên ở đây có nghĩa là Trời. Vào khoảng thế kỷ thứ XIX, phong trào Thiên Địa Hội - một tổ chức của người Trung Quốc, phản Thanh phục Minh, không chịu sống dưới chế độ nhà Thanh, đã di dân sang Việt Nam, ở đông nhất miền Lục Tỉnh Nam Kỳ. Tổ chức Thiên Địa Hội này có tục thờ Bàn Thiên. Lâu dần cư dân cũng theo tục lệ thờ cúng Bàn Thiên.

nguồn
ảnh: "Kỹ thuật của người An Nam",
Henry Oger, 1909
TỤC THỜ THỦ KỲ
Thủ Kỳ là cái miếu nhỏ xây cất trước nhà để thờ Thổ Công, bên trong Thủ Kỳ được viết 2 chữ Như Thần, hay Như Tại, xuất xứ từ câu Luận Ngữ: “Tế như tại tế Thần như Thần tại”, nghĩa là : thờ cúng Thần thì phải tin như vị Thần hiện có mặt.
TỤC CÚNG BÀ HẬU THỔ
Xưa cứ đến ngày 18 tháng 3 âm lịch ở các làng xã vùng Phú Yên, Khánh Hòa nhà nhà đều có lễ cúng bà Hậu Thổ - còn gọi là cúng đất. Những nhà gần sông trong lễ cúng có lễ thả bè thí cô hồn chết nước tức đám ma da. Người ta lấy bẹ chuối hột làm thành chiếc bè (thuyền), bày lễ vật lên đó gồm thịt, chè xôi… Đến lúc tống bè, có người nâng chiếc bè lên vai chạy đến bờ sông, thả chiếc bè trôi theo dòng nước. Chỉ có đám trẻ chăn trâu mới dám bơi xuống sông vớt những phẩm vật này lên ăn. Vì người ta tin rằng mục đồng có phẩm vị cao hơn cô hồn tà ma, nên chúng phải kiêng nể.

nguồn ảnh: "Kỹ thuật của người
An Nam", Henry Oger, 1909
TỤC CÚNG ÔNG ĐỊA
Người miền quê rất tin tưởng ông Địa, mọi việc nhờ vả kêu cầu gì người ta cũng nhờ đến ông, bởi vì thần địa chủ dễ dãi vui tính. Mọi người tin rằng ông Địa chỉ thèm đường “cứt ngựa” và bánh tráng nướng. Van vái và trả lễ cho ông khỏi cần cúng bái rườm rà, chỉ cần để lễ vật trên bàn, chong thêm cây đèn hột vịt và mời: “Mời ông Địa về ăn đường cứt ngựa với bánh tráng”, thế là xong.
Nếu cúng chè thì người ta chỉ nấu chè nếp, cử chè đậu đen vì sợ ông Địa tưởng là chè nấu ruồi, cử chè bánh canh vì sợ ông Địa tưởng nấu bằng trùn, cử chè xôi nước vì sợ ông Địa tưởng nấu chè bằng hột củ chi đắng nghét ăn có thể sình bụng. Cho đến ngày nay người ta vẫn tin là như vậy.
TỤC BẺ BÁNH TRÁNG NƯỚNG ĐỂ LÊN ĐẦU
Trong mâm lễ vật cúng giỗ thường có bánh tráng nướng. Sau khi rót rượu niệm hương tuần đầu, người cúng phải lấy bánh tráng nướng để lên trên đầu bẻ hai, với thái độ rất cung kính.
Bánh tráng làm từ gạo, là lương thực không thể thiếu trong đời sống. Người ta dùng bánh tráng như lương khô khi đói ăn dần, cho nên rất kính trọng món bánh tráng.
Nguyễn Man Nhiên
http://www.gio-o.com/NguyenManNhien.html
© gio-o.com 2012