XuânDê 2015




photo: Hoàng Huy Mạnh



 

Nguyễn Thị Hải Hà

Cưỡi Ngựa Đọc Sách Năm 2014

 

tản mạn

 

Tôi thích đọc hơn thích viết nhưng đọc tạp nhạp, vui đâu trút đó. Sáng thức dậy đọc vài ba blog quen thuộc, đọc tin tức lanh quanh, hằng tuần mượn vài quyển sách ở thư viện có khi đọc nửa chừng rồi đem trả. Bài này, chỉ là một quan sát cá nhân, “điểm” qua những tác phẩm tôi đọc và thích, một sở thích cá nhân hoàn toàn chủ quan.

 

Cái ǵ gần th́ đọc trước. Tôi đọc Gió O thường xuyên, chờ mỗi tuần có báo mới để đọc do đó nói về xin Gió O trước nhất. Gió O có ba tác giả xuất hiện hầu như mỗi tuần, đó là ba ông Ngô Bắc, Đào Trung Đạo, và Đặng Phùng Quân. Ba ông có nhiều bài nhất nhưng ba ông dịch biên khảo lịch sử, lư luận văn học, triết học thuộc thể loại khó đọc. Loại tác phẩm này không cốt t́m số đông, chỉ cần đúng đúng độc giả là đáng công dịch và viết.

 

Nếu gồm chung cả ba thể loại văn, thơ, và dịch có hai tác giả xuất hiện trên Gió O nhiều lần nhất đó là Ngu Yên và Lư Ốc. Nhà thơ Ngu Yên xuất hiện mười bảy lần, và Lư Ốc hai mươi mốt lần. Tôi dùng chữ xuất hiện v́ mỗi lần đăng lên Gió O, số tác phẩm của hai ông không nhất định. Với Ngu Yên có khi là một bài thơ dài, với Lư Ốc có khi là một chùm, hai hay ba bài thơ ngắn. Ngu Yên cái cách đặt tựa đề thơ rất hấp dẫn, và Lư Ốc biến những bài hài cú của Nhật thành thơ Việt rất mượt mà. Những tựa đề của Ngu Yên làm tôi chú ư là “Chuyện Một Người Sắp Bị Hết Viết,”hay “Một Tỉ Hai Trăm Lẻ Chín Triệu Cách Đi T́m Ch́a Khóa” Bài thơ nào của Ngu Yên cũng lạ và giàu suy nghĩ, nhưng tôi đặc biệt chú ư ba câu cuối trong bài Không Thể Dán Nụ Cười Đă Bể.” Chú ư v́ mấy câu thơ này nói lên được sự đổ vỡ đầy đau đớn một cách rất khôi hài.

 

từ nay

nụ cười

có sẹo.

 

Lư Ốc, là một người tự tin và can đảm. Phải can đảm th́ mới dám dịch thơ. Và phải tự tin ḿnh biết làm thơ mới có thể chuyển thơ ngoại quốc thành thơ Việt. Bài hài cú bản tiếng Anh của Basho là:

 

all along this road

not a single soul

only autumn evening comes

 

Lư Ốc dịch ra là:

 

quan san muôn dặm đường dài

biết ai gửi gấm mấy lời t́nh chung

một ḿnh ta với vô cùng

nửa đêm chợt lắng thu không gọi về.

 

Lư Ốc can đảm v́ đă dám nhét vào câu thơ đầu tiên những chữ như quan san muôn dặm, lại c̣n bịa ra trong câu thứ hai gửi gấm mấy lời t́nh chung hoàn toàn không có trong bản chính. Có thể có người không thích nhưng tôi nghĩ nhờ thế mà bài thơ dịch thuần việt và chứa nhiều t́nh cảm hơn.

 

Các nhà thơ nữ của Gió O không nhiều, thường xuyên nhất tôi thấy có Nguyễn thị Khánh Minh và Nguyễn Thùy Song Thanh. Thơ của Khánh Minh xuất hiện nhiều nơi có khi cùng một bài được đăng lại ở nơi khác. Chủ biên Lê Thị Huệ đă ân cần giới thiệu tập thơ Cánh Cửa của Nguyễn Thùy Song Thanh, và tôi cũng được tác giả tặng cho một tập. Hầu hết những bài thơ hay của Song Thanh đều đă đăng lên Gió O. Tuy nhiên, có vài bài trong Cánh Cửa chưa lên Gió O nhưng tôi rất thích như bài Hạc Vàng với những câu:“Hạc vàng ngơ ngác. Rụng ch́m cơi không” làm tôi liên tưởng đến thơ Đường. Tôi đặc biệt thích một đoạn trong bài thơ Sài G̣n Nhan Sắc Thời Gian v́ Sài G̣n trong mắt nh́n của Song Thanh cũng giống như Sài G̣n trong kư ức của tôi.

 

Một góc nào

Sài G̣n rất đen âm u ngơ tối

Sài G̣n rất tối con kênh nước đen

Theo ngọn thủy triều lựng khựng

Hạnh phúc hấp hối.

 

Người có số truyện ngắn xuất hiện nhiều nhất trên Gió O là nhà văn Mặc Đỗ. Hầu hết số truyện ngắn trong tuyển tập Trưa Trên Đảo San Hô đă đưa lên Gió O. Nhà văn Trịnh B́nh An so sánh văn phong “thẳng gọn” của nhà văn Mặc Đỗ với văn phong của Somerset Maugham. Tôi đồng ư với nhà văn Trịnh B́nh An về văn phong của Mặc Đỗ; đọc văn ông tôi có cảm tưởng như đang ngắm một bức tranh theo trường phái Thiền lấy đường nét đơn giản là điểm chính. Tuy nhiên, nhân vật của Mặc Đỗ đức hạnh quá, mẫu mực quá, quân tử quá, nếu so với nhân vật của Maugham. Đọc Trưa Trên Đảo San Hô Người Đàn Bà T́m Lại Được Mùa Xuân tôi nghĩ Mặc Đỗ gần với Vơ Hồng hơn. Nhân vật của Somerset Maugham mang tâm trạng quằn quại dày ṿ trong khi nhân vật của Mặc Đỗ yên tĩnh và tự chủ.

 

Chủ biên Lê thị Huệ cũng viết nhiều bài, đa số là phỏng vấn, và thư chủ biên. Tôi rất thích những lá thư này chỉ tiếc là chị không viết thường xuyên.

 

Trong số sách, khoảng bảy hay tám cuốn, gửi đến tặng Gió O có ba quyển Thư Quán Bản Thảo số 60, 61, và 62 của nhà văn Trần Hoài Thư gửi tặng. Trong TQBT 62 mang chủ đề “Khởi Hành và Tôi”  tôi đặc biệt chú ư bài hồi kư “Bánh Đậu Ngũ Cốc” của Như Thương và độ mười bài tùy bút của Mai Thảo đă từng đăng trên Khởi Hành.

 

Một số nhà văn quan niệm rằng người viết thật sự là nhà văn khi nào tác phẩm của họ không c̣n nét tự thuật. Một trường phái khác chủ trương viết cái ǵ quen thuộc nhất ḿnh ôm ấp cái kư ức ấy lâu dài và nhiều đêm ray rức với kư ức ấy th́ tác phẩm sẽ hay, và người đọc sẽ nhớ. Bài “Bánh Đậu Ngũ Cốc” nằm ở trường hợp sau. Như Thương viết về gia đ́nh cô những năm bố đi cải tạo, mẹ ở nhà nuôi đàn con nheo nhóc, làm từng cái bánh đậu ngũ cốc đi nuôi chồng. Mấy mẹ con ở trong ngôi nhà nh́n thấy trăng sao qua từng chỗ dột kẽ hở, khi mưa th́ lo che cái ḷ nướng bánh như che cho ḿnh. “Căn nhà đă che nắng cho chúng tôi, nhưng đă không che mưa và không che bóng trăng ngà được… . Mùa mưa đến chúng tôi đội nón lá trong nhà và cũng lấy nón lá đội cho cái thùng nướng bánh ấy nữa (để nước mưa không làm rỉ sét nó). Những đêm trăng tṛn th́ kẻ lá của vách nhà bị chúng tôi lén moi thêm lỗ cho rộng thêm ra để nằm ngủ ngắm trăng qua bờ mương, bờ chuối, hàng dừa của xóm giềng!” Như Thương viết chuyện rất riêng nhưng người đọc thấy được một nỗi khổ rất chung của người miền Nam vào thời bấy giờ. Cô này mà không tiếp tục viết văn th́ uổng lắm.

 

Tôi đă từng nghĩ tôi không thích văn Mai Thảo, v́ nó bay bướm hào nhoáng quá. Tôi thích lối cách viết đơn giản “thẳng gọn” và “khô” của Mặc Đỗ, Nguyễn Xuân Hoàng, hay Hemingway. Thật ra tôi khi đọc Mười Đêm Ngà Ngọc của Mai Thảo tôi c̣n trẻ quá và đọc chưa được bao nhiêu. Đọc chùm tùy bút của Mai Thảo trên Thư Quán Bản Thảo số 62 tôi thay đổi ư nghĩ về văn Mai Thảo. Dù người đời thường gọi Mai Thảo là nhà văn, tôi nghĩ Mai Thảo có bản chất là nhà thơ. Chùm tùy bút này như là những bài thơ viết theo lối văn xuôi, hay những bức tranh vẽ bằng thơ tuyệt đẹp.

 

Mai Thảo vào trong một nhà sách ông vẽ lại bức tranh như sau:

 

“Tập thơ đầu tôi đọc suốt một buổi chiều trên một bờ đê Hưng Yên. Nhớ măi, nhớ măi buổi chiều hôm ấy. Sách đưa tôi vào một cảm giác lâng lâng. Lẫn tiếng sóng sông Hồng với tiếng sóng trong hồn. Lẫn cỏ dưới thân với cỏ xanh trong cánh đồng của sách. Lẫn đất với trời. Lẫn hư và thực. Sách sáng chói từng trang và hồn cũng chói ḷa một giải. Tôi ngày xưa úp cuốn sách đầu trên lồng ngực, nằm rất lim dim, thả hồn bay lên. Yêu biết chừng nào, nhớ bao giờ quên, những trang vàng thứ nhất. Sách đẹp như chiều trên đầu. Chiều tím thẫm và chiều cao vút. Sách xa như biển. Biển hoang đường những bến bờ tưởng tượng. Tôi nằm trong cỏ. Tôi say như rượu. Tôi nằm với sách. Tôi nhẹ hơn khói. Những trang sách ngày xưa là những động lực chắp cánh. Đọc là một ảo huyền và say đắm… đọc. Bởi vậy mà mỗi chúng ta, khi bắt đầu biết khám phá và yêu mê cái đẹp, đều có như tôi, những tờ rời ngây ngất ấy là những cuốn sách t́nh nhân, những cuốn sách hành lư, những cuốn sách gối đầu, sau này không c̣n nh́n thấy đâu bởi cái lẽ giản đơn là đă nhuần nhuyễn đă thấm ḥa trong máu.”

 

Đây chỉ là một đoạn tiêu biểu v́ tôi không thể trích hết v́ toàn bài là những câu văn đẹp. Trong hơn chục bài tùy bút đăng trên Khởi Hành tôi c̣n gặp rất nhiều đoạn văn vẽ tranh như vậy.

 

Quán Bệnh” của Mai Thảo cho tôi cái cảm giác tôi đang xem một bức ảnh trắng đen về tuổi trẻ lạc lối tương tự cái cảm giác khi tôi đọc đoạn trích dịch Quán Bụi Đời (Café of the Lost Youths của Patrick Modiano Nobel Văn Chương 2014) trên Quán Gió Lốc.

 

Khi trao giải văn chương Nobel năm 2014, viện Hàn Lâm Thụy Điển đă khen ngợi “The Art of Memory” (Nghệ thuật của kư ức) của Patrick Modiano. Trước khi Modiano được giải Nobel, giới độc giả b́nh thường hầu như chẳng ai biết đến tên ông. Có lẽ nhận ra cái vô nghĩa của nhóm chữ “nghệ thuật của kư ức,” giáo sư Đại Học A&M Richard Grohan đă chữa cháy bằng cách diễn dịch là “evoking the power of the past over human lives and destinies” (nhắc nhớ cái sức mạnh của quá khứ áp đặt lên cuộc đời và số mạng của con người). Măi khi đến cuối năm 2014 Yale University Press mới in lại một bộ ba truyện ngắn dài của Modiano với tựa đề Suspended Sentences. Đọc “Afterimage” truyện đầu tiên của quyển “Suspended Sentences” vài trích đoạn của các quyển “Dora Bruder”, “In the Café of Lost Youths,” “Catherine Certitude,” và xem hai cuốn phim dựa vào truyện của Patrick Modiano, “Lacombe, Lucien” và “Bon Voyage” tôi thấy ông Modiano thường dùng thời kỳ 1942 – 1944, khi Paris tạm thời bị Đức Quốc Xă chiếm đóng, làm chất liệu sáng tạo. “Bon Voyage” do Modiano viết phim bản, nói về một vị giáo sư mang công thức chế tạo “nước nặng” trốn ra khỏi Pháp với sự giúp đỡ của cô học tṛ và mối t́nh của cô học tṛ với anh nhà văn “phản động” nhà cầm quyền bấy giờ. Phim hấp dẫn nhờ t́nh tiết éo le và kết thúc có hậu. Văn của Modiano, có lẽ v́ một nhân vật chính trong truyện là nhiếp ảnh gia, luôn cho tôi cảm giác tôi ở giữa một bức ảnh hay một đoạn phim trắng đen, nhiều bóng tối và ánh sáng chỉ rọi vừa phải vào nhân vật đang được đề cập.

 

Sách tác giả gốc Việt ở Hoa Kỳ, trong năm 2014 tôi đọc cả ba cuốn của Nguyễn Minh Bích trong đó có quyển “Pioneer Girl” mới xuất bản trong năm. V́ cô con gái lớn của tôi cho rằng quyển “Stealing Buddha’s Dinner” nói lên ư nghĩ của cô trong quá tŕnh assimilation bằng thức ăn, nên tôi đọc để hiểu con tôi. Sau đó tôi đọc thêm “Short Girls,” và “Pioneer Girl.” Nguyễn Minh Bích không được các trang mạng Việt nhắc nhở nhiều nhưng theo tôi cô là một trong những nhà văn Việt rất đáng được chú ư. Nguyễn Minh Bích cho độc giả thấy quan điểm của một người Việt đến Hoa Kỳ khi c̣n rất trẻ, sự lạc lơng của họ khi t́m cách gia nhập ḍng văn hóa bản xứ, sự bơ vơ khi phải tự bảo vệ ḿnh trong học đường và xă hội, sự phân vân không biết ḿnh là người Mỹ hay là người Việt. Những nhà văn gốc Việt như Nguyễn Minh Bích đă không có một mẫu mực văn học Việt nào để họ có thể dựa vào, hay từ đó mọc rễ và vươn lên. Nguyễn Minh Bích phải tự t́m kiếm cho ḿnh một hướng đi văn học. Xuất bản sách trong ḍng văn chương bản xứ không phải là một chuyện dễ thế mà cô đă cho ra đời được ba quyển thật là đáng khen ngợi. Nguyễn Minh Bích miêu tả cái thành công và thất bại của thế hệ thứ nhất, cái nh́n của cô về lớp già đôi khi rất khôi hài, một cái cười có phần chế nhạo chua chát. Tôi quí tác phẩm của Nguyễn Minh Bích v́ bên cạnh diễn tả những xung đột nội tâm, xung đột văn hóa, cô c̣n nói lên xung đột giữa cha mẹ Việt và con cái khi họ muốn nuôi dạy con kiểu Việt giữa nền văn hóa Mỹ.

 

Chủ biên Gió O thay thế trang Ảo Ngôn bằng Quán Gió Lốc, nhưng xem chừng quán làm ăn không mấy khá. Ít người đọc, thiếu người cộng tác, tuy nhiên con số rất ít độc giả của quán là lại là độc giả có kinh nghiệm đọc và giàu kiến thức. Tính từ khi mở quán đến nay có chừng 193 posts. Trong đó có 46 bài điểm sách, phê b́nh, hay nhận định chính trị của nhà văn Đặng Đ́nh Túy.

 

Chỉ nói về văn thơ trên Gió O sẽ là một thiếu sót lớn lao nếu không nhắc đến sáu (6) loạt ảnh nghệ thuật của Hoàng Huy Mạnh và hai (2) của Nguyễn thị Lệ Liễu. Làm tăng thêm sự hấp dẫn cho những bài thơ, áng văn là rất nhiều tranh và ảnh mỹ thuật của các họa sĩ và nhiếp ảnh gia Quế Hương, Hà Cẩm Tâm, và NAT.

Tôi tỉ mẩn làm một cuộc tổng kết những bài trên mạng Gió O năm 2014 tính từ sau số Xuân Ngựa Reo. Xin cáo lỗi nếu độc giả phát hiện có sự nhầm lẫn hay con số thiếu chính xác, tại v́ thỉnh thoảng tôi trông gà hóa cuốc, cái nọ xọ cái kia. Như đă viết bên trên tôi chỉ dùng số lượt tác giả xuất hiện chứ không ghi chép cẩn thận số lượng bài đăng. Số lượt bài xuất hiện trên Gió O trong năm 2014:

·        Hơn hai mươi lần có Đào Trung Đạo, Đặng Phùng Quân, và Ngô Bắc.

·        Từ mười đến mười chín lượt gồm có Lê thị Huệ, Đoàn Minh Đạo, Mặc Đỗ, Ngu Yên, Nguyễn thị Hải Hà, Nguyễn Thùy Song Thanh, và Vũ Tiến Lập.

·        Từ năm đến chín lượt gồm có: Đài Sử, Hoàng Huy Mạnh, Ngô Văn Tao, Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Quang Hiện, Nguyễn thị Khánh Minh, Thi Vũ, và Vương Tân.

·        Từ một đến bốn lượt gồm có: Chu Ngạn Thư, Dương Kỳ Đức, Đào Trung Đạo, Hàn Song Tường, Hồ Chí Bửu, Hồ Đ́nh Nghiêm, Hồng Phương Viên, Julie Quang, Kha Ly Chàm, Khế Chua, Lê Lạc Giao, Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Đức Nhân, Nguyễn Ḥa Trước, Nguyễn Hàn Chung, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Thanh Châu, Nguyễn thị Kim Liên, Nguyễn Thị Lệ Liễu, Nguyễn văn Phong, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Thiệp, Phạm Cao Hoàng, Phạm Tấn Xuân Cao, Phan Thanh Tâm, Thế Dũng, MC Thùy Dương, Trần Hoài Thư, Trang Đài Glassey-Trầnnguyễn, Trịnh B́nh An, Trịnh Y Thư, Trường Thu Đông, Tưởng B́nh Minh, và Vũ Hoàng Thư.

Sẵn đây xin nói thêm một chút về vài cuốn sách của Hoa Kỳ tôi đă đọc hoặc nghe đọc (audio book) trong năm 2014. “The Goldfinch” của Donna Tartt là một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn được giải Pulitzer 2014. Quyển sách xoay quanh cuộc đời cậu bé Theo Decker mười ba tuổi. Mẹ cậu qua đời khi đưa cậu đi xem bức tranh The Goldfinch và bị trúng bom của một nhóm khủng bố đặt ngay trong viện bảo tàng. T́nh cờ bức tranh nhỏ The Goldfinch rơi vào tay Theo và trong cơn hỗn loạn Theo mang bức tranh về nhà. Hai quyển sách “Colorless Tsukuru and His Years of Pilgrimage” và “The Strange Library” của Haruki Murakami rất hấp dẫn. Độc giả nếu thích quyển “Norwegian Woods” sẽ thích Colorless Tsukuru và nếu thích tính cách hoang đường vô lư của Kafka sẽ thích “The Strange Library.”

Tôi thường cho rằng cuộc sống quá phong phú và sôi động nên tiểu thuyết không bắt kịp nhịp điệu cuộc sống do đó sách thể loại hồi kư thường hấp dẫn tôi, có khi hơn cả truyện. “Flash Boys” cho độc giả thấy mánh khóe hậu trường và sự lợi dụng kỹ thuật điện toán để thành công trong thị trường chứng khoán. Đây là một trong những quyển sách mà tiểu thuyết không thể nào nắm bắt nổi cái phong phú, sôi động, và phức tạp của kỹ thuật điện toán được áp dụng vào thị trường chứng khoán. Flash Boys được Báo New York Times mệnh danh là những người chuyên săn sói và sói ở đây là những chuyên gia trong thị trường chứng khoán như Jordan Belfort đă dùng sự khôn ngoan đến độ gian manh và sự hiểu biết thâm sâu về thị trường chứng khoán để gian lận và làm giàu. The Wolf of Wall Street cũng bộc lộ cách sống sa đọa bê tha mê say ma túy và rượu của những ông nhà giàu ở Wall Street. Wild, from Lost to Found on the Pacific Crest Trail cũng là một quyển hồi kư phiêu lưu rất hấp dẫn của một cô gái hai mươi sáu tuổi, một ḿnh lang thang lên núi xuống đèo gần một ngàn tám trăm cây số giữa sa mạc và núi rừng.

 

Thế nhé, điểm sơ qua vài tác phẩm văn học của một người đọc sách không ăn lương trong năm Ngựa v́ thế gọi là cưỡi ngựa đọc sách. Chúc độc giả của Gió O năm mới b́nh an và hạnh phúc.

 

 

Nguyễn Thị Hải Hà

Tháng Giêng năm 2015

  

 

© gio-o.com 2015