Diep Tran, photo:
Tiffany Liu, dieptran.com


DIEP TRAN

Tôi Là Cô Gái Sàigòn, và

Tôi Ghét Vở Nhạc Kịch Cô Gái Sàigòn

I Am Miss Saigon, and I Hate It

 

Nhất Nương dịch

 

Nó không chỉ phải là một nhạc kịch ăn khách không nói lên được câu chuyện của gia đình tôi.  Điều đáng nói là nó kéo dài mãi mãi một câu chuyện trong đó người Việt Nam là các nạn nhân, không phải là các chiến sĩ. (DIEP TRAN)

 

Bạn có muốn nghe một chuyện kể nữa về một cô gái Việt Nam?

-         Vở nhạc kịch Miss Saigon của Claude-Michel Schonberg và Alain Boublil

Vào độ tuổi đang lớn lên, cha tôi luôn luôn nói với tôi, “Mọi gia đình Việt Nam đều có một câu chuyện đáng chú ý.” Tôi được nuôi lớn lên tại Orange County, California, nơi có Disneyland, đội banh dã cầu Angels, và Little Sàigòn – một khu với dân số đông nhất của người Việt Nam bên ngoài Việt Nam.  Điều đó có nghĩa rằng chúng tôi được bao quanh bởi những người là dân tỵ nạn, các cựu chiến binh, các người sống sót qua chiến tranh – những kẻ đã bị buộc phải cắt rời gốc rễ với tổ quốc của họ, di chuyển ngang qua Thái Bình Dương để đến một xứ sở nơi họ không nói cùng ngôn ngữ và xây dựng một đời sống mới.  Và mọi người trong họ, theo cha tôi, mang theo một câu chuyện về phương cách họ đến đó, về các sự hy sinh mà họ đã phải thực hiện, gia đình mà họ đã mất hay bỏ rơi.

Sau đó cha tôi nói tiếp sau lời phát biểu đó rằng, “Ngày nào đó, con có thể kể lại câu chuyện của chúng ta.” Câu chuyện của gia đình tôi không phải là câu chuyện mà bạn sẽ nhìn thấy trong một phim của Hollywood hay một nhạc kịch tại Broadway.  Trước tiên, nó sẽ không phù hợp với các thành kiến mà các giám đốc điều hành và các nhà sản xuất da trắng nghĩ về chúng tôi.  Không có các phụ nữ Á Châu im lặng và khiêu gợi dục tính.  Không có các người đàn ông Á Châu bị thiến và ngoảnh mặt làm ngơ.  Và không có người da trắng.

Thay vào đó có một thày giáo Nam Việt Nam giảng dạy tiếng Anh biến thành người lính, cha tôi, đánh nhau với Việt Cộng.  Ông gặp một người đàn bà Nam Việt Nam, mẹ tôi.  Họ yêu nhau và trao đổi thư từ trong hai năm, trước khi ông di chuyển 200 dặm, từ Qui Nhơn tới Đà Lạt, để xin cưới mẹ tôi.  Có một khúc ngoặt, 30 Tháng Tư 1975.  Người thầy giáo bị giam trong tù.  Vợ của ông, giờ là mẹ của hai đứa con, bị bỏ lại một mình để chống đỡ gia đình của bà ta.

Bạn sẽ không nhìn thấy tình yêu này trên sân khấu Broadway.  Thay vào đó, điều bạn sẽ nhìn thấy là vở nhạc kịch Miss Saigon.  Tôi đã đi xem vở Miss Saigon ba tuần lễ trước đây, tại nhà Hát Kịch Broadway Theatre được phục hồi hiện nay, “câu chuyện tình yêu anh hùng ca về một người lính G.I. Mỹ da trắng và một cô gái điếm Việt Nam, kẻ đà tự tử để nhường thông hành lại cho đứa con trai của họ được sang Mỹ.  Tôi đi xem kịch cùng với hai người bạn, cả hai đều là người Việt Nam.  Chúng tôi đến xem với sự hay biết rằng sản phẩm này, mặc dù giống như nguyên bản nó được tạo dựng và đạo diễn bởi các người đàn ông da trắng, được tường thuật đã cố gắng bày tỏ sự kính trọng nhiều hơn đối với văn hóa Việt Nam (thí dụ, họ đã thay thế cho đến nay các lời ca lắp bắp bằng các từ ngữ tiếng Việt thực sự).  Và đã có các diễn viên Á Châu, ngay cả một số người Việt Nam, trong tất cả các vai Á Châu.

Nhưng tôi đã ra về với một sự nhức đầu, một sự nhức đầu bạn gặp khi bị buộc phải kiềm giữ cảc cảm xúc của bạn một cách lặng im, như thế chúng di chuyển lên tới sọ não của bạn.  Nói rằng các bạn tôi và tôi không ưa thích vở Miss Saigon là một sự phát biểu không đúng mức.  Nếu vở diễn đang cố gắng nói câu chuyện về người dân Việt Nam, chúng tôi đã không nhận thấy chính mình hay cha mẹ chúng tôi trong bất kỳ gương mặt nào chúng tôi trông thấy trên sàn diễn đó.  Thay vào đó, tất cả những gì chúng tôi có thể nhìn thấy là các nạn nhân đáng thương, tuyệt vọng – những kẻ hoàn toàn khác biệt với các người đàn ông và đàn bà đa diện, can đảm, có khả năng hồi sinh bền bỉ của Little Sàigòn.

Và nếu tôi cần một bảng hiệu rằng vở Miss Saigon không phải dành cho tôi, nó được bày bán ở phòng đón khách.  Họ bày bán một áo đánh banh dã cầu có in hình Hồ Chí Minh và lá cờ cộng sản, chính những biểu tượng mà gia đình tôi đã chạy trốn.

Nhưng quần chúng yêu thích vở nhạc kịch này.  Đâu là điều tôi không nhận thấy? Tôi đã tiếp xúc với Việt Thanh Nguyễn, kẻ đã nhận được giải Pulitzer Prize về tiểu thuyết năm ngoái cho quyển truyện của ông, The Sympathizer (Cảm Tình Viên), về các người tỵ nạn Việt Nam.  Ông ta nói với tôi ông đã đi xem vở Miss Saigon hồi năm 1996 và ông nhớ đã cảm thấy “ngạc nhiên tại làm sao mà các khán thính giả quanh ông đã khóc trong cuộc trình diễn,” ông đã viết trong một thư điện tử.   “Tôi nghĩ thật quá đáng, đầy những nghĩa bóng về Đông Phương mà tôi đã học hỏi và chống lại.  Gạt bỏ các vấn đề vai diễn phản-chủng tộc sang một bên, nó thích hợp một cách hoàn hảo vào lối mà các người Mỹ, và các người Âu Châu, đã nghĩ về Cuộc Chiến Tranh Việt Nam như một sự hoang tưởng tình dục và chủng tộc, phủ nhận ý nghĩa chính trị của cuộc chiến tranh cùng tính chủ quan và tính đại diện cho người Việt Nam.”

Tác giả Nhạc Kịch Qui Nguyễn, người có tác phẩm Vietgone đang được trình diễn khắp nước Mỹ trong mùa này và là một phiên bản về người tỵ nạn Việt Nam của cha mẹ chính ông, phản ảnh các ý kiến đó một cách chua cay hơn.  “Tôi ghét vở nhạc kịch Miss Saigon,” ông đã nói với tôi.  “Tôi mong muốn nó không phải như thế.  Tôi ước muốn rằng nó là một tác phẩm nghệ thuật truyền cảm, phức tạp và đẹp đẽ đối với tôi trong tư cách một người Mỹ gốc Á Châu, nhưng nó không phải như thế.  Nó là một khúc nhạc phóng túng khéo léo về đấng cứu thế da trắng cuờng điệu, không gì khác hơn một vở Mikado thời hiện đại.” Nhiều điều đã được viết về vở Miss Saigon, chính yếu bởi các văn gia da trắng: về sự đánh phấn thành khuôn mặt da vàng gây tranh cãi (yellowface), về các diễn viên liên can.  Nhưng rất ít người Mỹ gốc Việt gia nhập vào cuộc thảo luận.  Chúng ta là nhóm di dân đông thứ sáu tại Hoa Kỳ, với nhân số 1.3 triệu người.  Song các chuyện kể phổ thông về Chiến Tranh Việt Nam, một cách điển hình, gạt bỏ chúng ta.  Và khi vở Miss Saigon được lưu diễn trong nước trong năm tới, câu chuyện kể phổ thông nhất sẽ tiếp tục đóng cửa đẩy chúng ta ở bên ngoài.

Như tác giả Việt đã nói trên NPR, Hoa Kỳ có thể đã thua cuộc chiến tại Việt Nam, nhưng “bất kỳ nơi đâu khi chúng ta ra khỏi Việt Nam, bạn phải đối đầu với các ký ức của Hoa Kỳ về Chiến Tranh Việt Nam.” Và các ký ức này tập trung vào tội lỗi và sự tự trừng phạt của người Mỹ.  Như vai Chris trong vở Miss Saigon than thở, “Tôi là một người Mỹ, làm sao tôi lại có thể không làm điều tốt?!” Các ẩn dụ Mỹ-phạm tội của vở Miss Saigon không hiện hữu trong khoảng trống không, mà trong khung cảnh của các phim như Apocalypse Now, Platoon, và Full Metal Jacket – những sân khấu trong đó người da trắng là các vai chính khổ tâm bị mắc bẫy trong một khung cảnh địa ngục xa lạ và câu nói biểu tượng nhất từ một người Việt Nam là câu “tôi yêu anh dài lâu: me love you long time.”

          Bất kể các giá trị khác nhau của chúng, các phim này trong thực chất cắt giảm Chiến Tranh Việt Nam thành một câu chuyện về việc liệu Hoa Kỳ có nên dính líu hay không, và chúng biến người Việt Nam thành các diễn viên hậu cảnh, các kẻ đứng bên lề lịch sử của chính đất nước chúng ta.  Câu chuyện thì phức tạp bởi có ba phía trong câu chuyện này: phía Nam Việt Nam, phía Bắc Việt Nam, và phía Hoa Kỳ.  Nhưng một điều không phức tạp: các người Tây Phương đã chiếm giữ trung tâm của câu chuyện này quá lâu.

Các người Mỹ của vở Miss Saigon cảm thấy nhu cầu “làm điều tốt,” sống tại “một nơi mà đời sống vẫn còn giá trị, trong khi người Việt Nam, theo Engineer [một nhân vật trong vở nhạc kịch này, ND], “chỉ nghĩ về gạo và thù ghét các nhà kinh doanh.” Chúng ta bị hình dung như các người dân làng sơ khai, các gái điếm, và các ma cô – như một Engineer tự ghét mình mô tả, “các kẻ gốc tàu dơ bẩn: greasy chinks”.    

Phần tác hại nhất là điều này: trong vở Miss Saigon, Việt  Nam là một nơi không đáng cứu vớt và Hoa Kỳ là cái chén thánh đáng để giết người và chết cho nó.  Chúng ta tự ghét mình bởi chúng ta không phải người da trắng (vai Engineer), và chúng ta sẽ còn tự bắn vào mình nhân danh nước Mỹ (vai Kim).  Tại sao bạn lại muốn cặp bồ với một người đàn ông Việt Nam khi bạn có thể cặp bồ với một người da trắng? Tại sao bạn muốn là một người Việt Nam trong khi thay vào đó bạn có thể là một người Mỹ?

Có bất kỳ điều thắc mắc gì không rằng tôi, và quá nhiều người Việt Nam khác, ghét vở nhạc kịch Miss Saigon?

Khi tôi còn ở bậc tiểu học, tôi đã phải viết một bài luận văn về một người đàn bà mà tôi ngưỡng mộ.  Tôi đã viết về mẹ tôi.  Tôi đã viết về việc làm sao, khi chiến tranh chấm dứt, cha tôi bị bắt vào tù và bị giam tại một trại lao đông kiểu như trại lao động cưỡng bách ở Nga Sô (gulag).  Câu chuyện của người Mỹ về Chiến Tranh Việt Nam sẽ làm bạn tin tưởng rằng đó là một bổn phận bất hạnh của người Mỹ để cứu vớt người dân làng Việt Nam nghèo khổ khỏi tay cộng sản độc ác.  Ngoại trừ việc họ quên đi một cách thuận tiện rằng đã có những người Việt Nam hùng dũng cũng chống lại Việt Cộng.  Những người đàn ông đó đã không mơ trở thành người Mỹ; họ đã muốn đất nước của chính họ được tự do.  Và không giống như các người lính Mỹ, các người lính Nam Việt Nam không thể quay về quê nhà.  Sau chiến tranh, hoặc trại tù hay quy chế tỵ nạn chờ đón họ.  Cha tôi đã phải chịu đựng hoàn cảnh kể trước.  Với sự vắng mặt của ông, mẹ tôi đã kiếm sống bằng cách bán hàng trên chợ đen trong khi chăm sóc hai đứa con gái.  Khi đó, cứ mỗi hai tháng, bà sẽ di chuyển hơn 156 dặm, một hành trình kéo dài hai ngày, để thăm viếng người chồng tại một trại lao động, nơi ông phải làm việc 10 tiếng đồng hồ mỗi ngày tại các đồng ruộng.  Họ sẽ nói chuyện trong vòng 15 phút.  Họ sẽ lập lại nghi thức này trong sáu năm.  “”Thật khổ sở,” bà nghĩ lại một cách đơn giản, “Nhưng ông bố sẽ chết đói nếu không có mẹ.”  Tình yêu của bà đã cứu vớt chồng.

Các phụ nữ Á Châu như bà hiếm hiện diện trong văn hóa Mỹ -- như những kẻ có năng lực hôi sinh bền bỉ, tháo vát, mạnh mẽ, chứ không phải là các nạn nhân.  Thay vào đó, trong vở Miss Saigon, Kim, một người đàn bà không có tên họ, hát về sự mong chờ một người đàn ông đến cứu vớt cô ta.  Cô không nói gì khi bị lạm dụng bởi các người đàn ông quanh cô, mà chỉ chịu đựng một cách im lặng, mỹ miều.  Và khi sinh sống tại Mỳ không phải là một sự lựa chọn, cô ta đã tự tử; đối với cô ta, thà chết còn hơn là một người Việt Nam.  Và khối khán thính giả phần lớn là da trắng đã có một trận khóc sướt mướt và cảm thấy giống như họ đã nhận được một kinh nghiệm giáo dục.

Ngoài những gì họ đã lĩnh hội được, thực sự?  Rằng các người đàn bà Việt Nam là các nạn nhân.  Các người đàn ông Việt Nam là các kẻ côn đồ, và các người Mỹ là các anh hề tử tế.  Có lẽ nếu tôi rộng lượng đối với vở Miss Saigon, tôi có hiểu nó như một câu chuyện cảnh cáo người dân Á Châu: Đừng lệ thuộc vào người da trắng; điều đó sẽ giết chết bạn.

 


Eva Noblezada and Devin Ilaw in “”Miss Saigon” on Broadway. (Photo by Matthew Murphy)

 

Nhiều diễn viên đã biện hộ cho vở Miss Saigon vì công việc làm mà nó đã mang lại trong nhiều thế hệ diễn viên Á Châu.  Nhưng đâu là những loại công việc có mặt ở đó? Đóng vai các vai đầy thành kiến, những kẻ thù ghét màu da của mình và thần tượng hóa da trắng đến mức tự tử? Gần 30 năm sau buổi trình diễn đầu tiên, câu chuyện về việc nhuộm thành da trắng, đánh phấn thành mặt da vàng, và đấng cứu thế người da trắng, vẫn còn là các vấn đề khổng lồ đối với các diễn viên và khối khán thính giả Mỹ gốc Á Châu.  Và nếu không có vở Miss Saigon hay King and I trên sân khấu Broadway, các diễn viên Mỹ gốc Á Châu hiếm khi được đóng các vai chính, hay không được đóng vai gì cả.

Các người Mỹ gốc Á Châu vẫn còn đang tranh đấu trong một ngành sinh hoạt sẽ để các diễn viên da trắng đóng vai của chúng ta hơn và để chúng ta đóng các vai phụ và vai gái điếm – các khuôn đúc mà các câu chuyện như vở Miss Saigon chỉ giúp vào việc kéo dài mãi chúng.  Các sân khấu như vở Miss Saigon mang lại một cách thức để các nhà sản xuất da trắng nuôi chúng ta bằng cơm thừa đúc sẵn trong khi tiếp tục để chúng ta đói khát.  Họ sinh lợi từ thân xác của chúng ta trong khi dập tắt tiếng nói của chúng ta.  Nếu có các dấu hiệu của niềm hy vọng, chúng không đến từ các nhà sản xuất thương mại hay các tác giả da trắng.  Thí dụ, nhiều câu chuyện đa diện hơn về Việt Nam và người dân của nó được sáng tác ra bởi các kịch tác gia như Qui Nguyen và Don Nguyễn, từ các người viết tiểu thuyết như Viet Thanh Nguyen, Thi Bui, Andrew X. Phạm và Bích Minh Nguyễn.  Chúng đến từ các tác giả Việt Nam đang kể những câu chuyện của họ và đang đòi hỏi phải được nghe thấy.

Như tác giả Qui đã nói với tôi, ông sẽ không để hai đứa con trai của ông đi xem vở nhạc kịch Miss Saigon.  “Mặc dù đây là một trong các cơ hội hiếm có để nhìn thấy các người Á Châu trên sân khấu, không cách nào tôi để cho chúng đi xem,” ông đã giải thích.  “Tôi không muốn chúng có khi nào phải cảm thấy chúng ta các kẻ phụ trợ của văn hóa thống trị, điều mà vở Miss Saigon khiến tôi cảm thấy như thế.  Tôi muốn chúng biết rằng chúng là các vai chính trong các câu chuyện của chúng.  Một cách thẳng thắn, tôi thà để chúng xem phim hoạt họa trong lâm thời và chờ cho tôi và các bạn nghệ sĩ Á Châu đồng nghiệp của tôi lấp đầy các khoảng trống vẫn còn hiện diện tại cả Broadway lẫn Hollywood.”

Tại Little Sàigòn, Quận Cam, có một đài tưởng niệm Chiến Tranh Việt Nam với một tượng bằng đồng khác biệt hoàn toàn với bức tượng tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn.  Thay vì một tượng gồm các binh sĩ Mỹ, nó cho thấy một người lính Mỹ và một người lính Nam Việt Nam đứng bên nhau, các kẻ đồng đẳng.  Đây là lúc mà người Việt Nam là các anh hùng trong các chuyện kể của riêng chúng tôi.  Đây là lúc chúng tôi lấy lại các câu chuyện của mình./-

Diep Tran

Nguồn - Source: This article was first published in American Theatre magazine, https://www.americantheatre.org/2017/04/13/i-am-miss-saigon-and-i-hate-it/ .