ngựaReo 2014

 

 

THI VŨ

 

Cao Bá Quát,


con người phẫn nộ, một Tuyên ngôn Thơ

 

 

 

Băi cát dài tiếp băi cát dài

Đi một bước lại lùi một bước

Phóng mắt về trước. Không gian dàn trải mênh mông. Mênh mông càng thêm mênh mông, khi mênh mông có đường nét và thể khối. Như băi cát. Nếu không, mênh mông sẽ mù. Băi cát tiếp băi cát, những đường nét, thể khối có giới hạn bỗng biến ra cảnh vô tận. Đi hoài không thấy tới. Càng đi càng thụt lùi. Bởi trời đất vô cùng, ḷng người lại giới tuyến theo từng cái chột dạ.

Tả sự mênh mông của trời đất với con người bé nhỏ như hạt sương, như cái kiến... phải khen là tài t́nh:

Băi cát dài tiếp băi cát dài

Đi một bước lại lùi một bước

Nguyên bản chữ Hán, cô đọng hơn:

Trường sa phục trường sa

Nhất bộ nhất hồi khứ

Tả cái mênh mông trời đất trong nền thi ca tiền chiến «mênh mông trời rộng nhớ sông dài», tưởng không ai hơn Huy Cận:

Sóng gợn tràng giang buồn điệpđiệp

Con thuyn xuôi mái nước songsong

Thuyền về nước lại sầu trăm ngă

Củi một cành khô lạc cuối ḍng

Nhưng không gian của bốn câu thơ trên rụng xuống vũng sầu. Dù có tràng giang tới điệp điệp. Tất cả chỉ song song thôi. Đi bên nhau vẫn không thể gặp nhau. Cụng đầu nhau vẫn cứ lại chia rẽ. Thuyền về nước lại sầu trăm ngă. Thân đời không c̣n là chiếc bách thời xưa nữa. Khả năng trôi nổi, dù phải lênh đênh cũng mất. V́ nay, chỉ là củi khô. Củi một cành khô lạc cuối ḍng.

Dù người đứng lên thành cá thể hiện hữu. Nhưng cũng từ đó, người tách rời vũ trụ. Người tha hóa trên đường sầu, những con đường tranh chấp, chẳng thừa nhận nhau. Giảng văn, b́nh luận hay tới đâu, càng đẩy nỗi sầu ḷng xuống xa trăm ngă cuối ḍng, hay ra xa khỏi quê chung muôn thuở. Nơi mênh mông không thấy mặt người.

Với Cao Bá Quát, mênh mông thật kinh khiếp. Băi cát dài tiếp băi cát dài. Nhưng ở đó con người có mặt. Như một hiện hữu tồn vinh. Một hiển sinh. Tuy hiện hữu ấy đối chơi, chứ không song song: Đi một bước lại lùi một bước. Đối chơi xác định hiện hữu không chịu song song tha hóa. Hai bên gằm ghè nhau. Băi cát tiếp băi cát, con người cứ đi với niềm tự cảm thụt lùi. Càng tự thấy thụt lùi, càng đi tới, xem sức vóc không gian kia đẩy ḿnh tới đâu.

Mới, và đường bệ, hai câu mở đầu bài Sa hành đoản ca (Bài hát ngắn «Đi trên băi cát»).

Đạt tới niềm lưu luyến say ḷng là thơ ca. Như bốn câu thơ của Huy Cận chẳng hạn. Thơ đi vào tinh túy thơ, mẹ đẻ ra nguồn thơ, là lư sống, là lời, nuôi đời bằng những nguồn uyên tư, triết lư. Thơnhư thế, là căn nguyên cho mọi nền tảng. Ta vừa thấy qua Cao Bá Quát. Người thừa kế ḍng Thơ có chất hiển sinh phát lộ từ thưở Lư, Trần, sau đó bị vùi dập. Khiến thi ca Việt nam lao lung qua ba chặng tha hóa: phong hoa tuyết nguyệt sáo rỗng, sầu đau khôn dứt, rồi gầm thét khủng bố.

Hăy thử dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hoa v.v... những trăm bài thơ Việt đăng báo hiện nay. Ta sẽ thấy trong số lớn ấy rất nhiều từ hoa mỹ. Nhưng cái sườn ư th́ không. Lại càng số không, sức mạnh xác tín và hiển sinh của con người. Cần năm mười câu tả ḷng nhớ mẹ, tuy chẳng nói ḷng nhớ ấy ra sao. Năm mười câu ấy chưa ngang với hai chữ Mẹ ơi ! Nhớ nước cũng thế. Nhớ người yêu cũng thế. Ông Kinh Kha v́ không rút kịp gươm ra khỏi vỏ từ trên hai chục thế kỷ trước mà lụy thân dưới tay bạo Tần. Thế mà việc phục quốc trong thi ca ngày nay rất nhiều thi sĩ vẫn c̣n cố rút thanh gươm Kinh Kha. Chắc phải chờ tới hai mươi thế kỷ sau, mới có thi sĩ làm thơ nhảy lên phi thuyền trong nháy mắt đáp xuống quê hương dùng giây la-de trói bạo quyền! Kể cả rượu và sự say sưa đang đổ rất nhiều vào thơ hôm nay. Song có lẽ ít ai tả cái say như Cao Bá Quát:

Chuếnh choáng say v không đợi dắt

Mịt mù khói trúc một ḍng sông

Ŕ rầm ghé tới hoa sen hỏi :

Hoa có hồng như mặt rượuhồng ?

 

Mính đính qui lai bất dụng phù

Nhất giang yên trúc chính mô hồ

Nam nam tự dữ liên hoa thuyết

Khả đắc hồng như tửu diện vô?

Bạc văn túy qui

Sen có hồng như mặt rượu hồng, khả đắc hồng như tửu diện vô? Xưa nay, rượu vào lời ra. Lắm người hiền lành khi tỉnh. Cần rượu mới lấy dũng khí để nói, để phê b́nh, để chửi bới ào ạt. Thiếu rượu coi như thiếu tất cả. Kể cả dũng khí. Với Cao, rượu vào hương tới. Say là người với rượu. Sắc là hoa với mặt trời. Hai bên giao cảm qua sợi gió: một làn hương. Điều làm thi nhân cách biệt với thế nhân thường t́nh, nhưng lại gắn bó cùng vũ trụ. Vũ trụ của những bước đi hoài không đến:

Băi cát dài tiếp băi cát dài

Đi một bước lại lùi một bước

Thế th́ đứng lại ư? — Không:

Mặt trời đă lặn, vẫn c̣n đi

Nước mắt lă chă rơi trên mt kẻ lữ hành

Nhật nhập hành vị dĩ

Khách tử lệ giao lạc

Sao vậy? — V́ :

Anh không học được ông Tiên có phép ngủ kỹ

Cứ trèo non lội nước măi, bao gi mới thôi oán than

Xưa nay hạng người danh lợi

Vẫn tất tả ngoài đường sá

Nghe gió thoảng rượu ngon, ln tới quán

Người tỉnh thường ít, kẻ say vôsố

Băi cát dài băi cát dài biết tính sao đây?

Quân bất học tiên gia mỹ thụyông

Đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng

Cổ lai danh lợi nhân

Bôn tẩu lộ đồ trung

Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu

Tỉnh giả thường thiểu, túy giảđồng

Trường sa trường sa, nại cử hà?

Ông tiên có phép ngủ kỹ là ai ? Đó là Hạ Hầu Ấn. Theo sách Thần tiên thập dị, khi leo núi hay lội nước, Ấn vẫn nhắm mắt ngủ say. Người bên cạnh nghe tiếng ngáy, nhưng Ấn vẫn bước đều, chẳng hề trượt hay vấp ngă. Người đời gọi là ông tiên ngủ. Ở đời có mấy ai tỉnh trong giấc ngủ như thế ? Chỉ thấy rất nhiều «vị tiên» thụy miên giữa ban ngày. Một biệt lệ: loài cá. Đố ai thấy một lần cá nhắm mắt ? Đôi mắt thiền ấy mở hoài như sự tỉnh thức.

Băi cát dài tiếp băi cát dài

Đi một bước lại lùi một bước

Bước là thời gian chuyển động. Thời gian đo đạc hữu hạn. Băicát là không gian. Không gian vũ trụ nở măi không cùng. Vô cùng đẩy lui hữu hạn của thân người, quốc thổ của thời gian, về nơi u tịch vô hạn. Sự rụng chết của thời gian bị đẩy lui từng bước trước hư vô thênh thang như sinh thức. Hư vô là sinh thức. Nơi nẩy loé sáng tạo.

Thông điệp nhận thức ấy thể hiện qua thơ, nơi hai câu giáo đầu. Nhưng chắc ǵ đánh động được con người trầm luân ! V́ gă không biết dừng nơi chỗ cần dừng. Gă đi miết. Đi mải, khi mặt trời đă lặn. Nước mắt lă chă tuôn rơi trên bước lưu đày. Lưu đày là đi mà không biết đi đâu. Gă không là Hạ Hầu Ấn, thức ngay trong giấc ngủ. Như tim đèn, đen cháy giữa hào quang ánh sáng. Trật quỹ đạo, sai vị trí, đưa tới nỗi khổ đau máu lệ. Đi nhưng không vận chuyển, cử điệu hoạt động mà thiếu hành động giải thoát. Cứ trèo non, lội nước với sự oán than khôn dứt (đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng). Phiêu bồng v́ danh lợi:

Xưa nay hạng người danh lợi

Vẫn tất tả ngoài đường sá

Trói buộc với đam mê. Mấy ai làm chủ được đam mê như một sự tỉnh thức. Như chính lóng rượu trong veo điềm tĩnh. Rượu có bao giờ say rượu đâu? Phần đông người uống rượu mới say:

Nghe gió thoảng rượu ngon, lần tới quán

Người tỉnh thường ít, kẻ say vôsố

Cao Bá Quát không chê ai cả. Ông chỉ hỏi:

Băi cát dài băi cát dài biết tính sao đây ?

Truờng sa trường sa, nại cừ hà?

Câu hỏi của thời gian đánh hỏi không gian. Làm sao cho cái không-thời giữ ǵn người đừng tha hóa, đừng trật quỹ đạo hiển sinh, đừng mất thơ trong đời sống? Rơi vào xă hội không thơ, khác chi sống đời con vật lao công tắm suốt nhân sinh trong mồ hôi và nước mắt. Không lối thoát, đường ra:

Bước đường bằng phẳng th́ mờmịt

Bước đường ghê sợ th́ nhiều

Thản lộ mang mang úy lộ đa

Bao nhiêu dấu hỏi nháy đánh trong đời người h́nh thành ra trăm, ngh́n lời giải ư thức hệ. Càng nhiều ư thức hệ, càng nhiều tranh chấp, càng thản lộ mang mang úy lộ đa.

Chỉ c̣n lại tiếng ca của người Thi sĩ. Tiếng ca Cao Bá Quát:

Hăy nghe ta hát khúc ca đườngcùng

Phía Bắc núi Bắc núi muôn trùng

Phía Nam núi Nam sóng muônđợt

Anh c̣n đứng làm chi trên băicát ?

Thính ngă nhất xướng cùng đồca

Bắc sơn chi Bắc sơn vạn điệp

Nam sơn chi Nam ba vạn cấp

Quân hồ vi hồ sa thượng lập ?

Sách Hậu Hán thư kể chuyện Pháp Chân trả lời viên thái thú mời ḿnh vào chốn hoạn đồ rằng: «Nếu ông cứ bắt tôi ra làm quan, th́ tôi sẽ đi ẩn ở phía bắc núi Bắc hoặc ở cuối làn sóng phía nam núi Nam!» Làm quan là đi vào phố chợ. Con người nhập thị này dễ rơi xuống chốn sa lầy, ti tiểu. Mất hẳn khí thế khai thị cho chính ḿnh và người. Đi ẩn không là trốn lánh việc nhân sinh. Đi ẩn là từ giả cơi nhập thị, đễ đứng vào vị trí khai thị. Khó yên thân, nếu chỉ ẩn giữa cḥm núi Bắc hay giữa cḥm núi Nam. Mà phải vượt khỏi hai thái cực. Muốn theo về phương Bắc? Phải vượt khỏi giới hạn của phương Bắc (Bắc sơn chi Bắc sơn vạn điệp). Muốn lánh ḿnh về phương Nam? Cũng phải vượt khỏi giới hạn của phương Nam (Nam sơn chi Nam ba vạn cấp). Tránh xa mọi thái cực.

Kinh đô ở phía Bắc, chưa phải là phương Bắc. Kinh đô ở phía Nam, chưa phải là phương Nam. Hai kinh đô đều là danh xưng. Danh hăo của hư danh. Vượt quá con đường ṃn ảo tượng đi tới chốn đường cùng. Kẻ giáp mặt đường cùng mới biết biến hóa. Dĩ cùng tắt thông. Thông lộ hiện ra nơi đường cùng. Đó là sinh lộ. Cho nên Cao Bá Quát thi sĩ mời ta nghe ông hát khúc ca đường cùng (thính ngă nhất xướng cùng đồ ca). Khúc ca ấy nhắn người đọc thơ, người đi t́m sự tỉnh thức, chớ có đứng lại. Đứng lại là tụt hậu. Cao chấm dứt bài thơ bằng câu hỏi, tự nó đă là lời đáp:

Quân hồ vi hồ sa thượng lập ?

Anh c̣n đứng làm chi trên băicát ?

Dù rằng:

Băi cát dài tiếp băi cát dài

Đi một bước lại lùi một bước

Trường sa phục trường sa

Nhất bộ nhất hồi khước

Không gian tiếp nối rộng thinh tới vô cùng vũ trụ. Bước người đi như thụt lùi kia. Hai khái niệm coi như đối chơi, té ra chỉ là nỗi giao hoan rất niết bàn của đôi lứa nơi điểm gặp sướng điếng. Lư sống của uyên tư hiển sinh. Mà thi ca đóng vai tṛ thông diễn.

Anh c̣n đứng làm chi trên băicát ?

Đi chứ đừng đứng lại. Đi vào ḍng vận hành, chuyển hóa những mâu thuẫn thành sinh thức khai phóng. Đó là thông điệp mà không gian và thời gian nhắc ta không ngừng suốt cuộc trăm năm.

Chấm dứt loại b́nh giảng cà kê dê ngỗng, ta thử đọc lại bài thơ mới nhất trong vài bài thơ tân kỳ. Bài thơ triết học nhất trong ḍng triết học hiển sinh Việt Nam:

Băi cát dài tiếp băi cát dài

Đi một bước lại lùi một bước

Mặt trời đă lặn, vẫn c̣n đi

Nước mắt lă chă rơi trên mặt kẻ lữ hành

Anh không học được ông tiên có phép ngủ kỹ

Cứ trèo non lội nước măi, bao giờ mới thôi oán than

Xưa nay hạng người danh lợi

Vẫn tất tả ngoài đường sá

Nghe gió thoảng rượu ngon, lần tới quán

Người tỉnh thường ít, kẻ say vôsố

Băi cát dài băi cát dài biết tính sao đây ?

Bước đường bằng phẳng th́ mờmịt

bước đường ghê sợ th́ nhiều

Hăy nghe ta hát khúc ca đườngcùng

Phía Bắc núi Bắc núi muôn trùng

Phía Nam núi Nam sóng muônđợt

Anh c̣n đứng làm chi trên băicát ?

Trường sa phục trường sa

Nhất bộ nhất hồi khước

Nhật nhập hành vị dĩ

Khách tử lệ giao lạc

Quân bất học tiên gia mỹ thụyông

Đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng

Cổ lai danh lợi nhân

Bôn tẩu lộ đồ trung

Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu

Tỉnh giả thường thiểu, túy giảđồng

Trường sa, trường sa, nại cừ hà?

Thản lộ mang mang úy lộ đa

Thính ngă nhất xướng cùng đồ ca

Bắc sơn chi Bắc sơn vạn điệp

Nam sơn chi Nam ba vạn cấp

Quân hồ vi hồ sa thượng lập

Nhắc tới Cao Bá Quát, người ta thường nói ông ngông. Nghĩ tới Cao Bá Quát, người ta nhớ những bài thơ nôm, như Tài tứ đa cùng phú. Với vài giai thoại ngạo nghễ trong lời đáp. Ít người nhớ rằng trước tác chính của ông là thơ chữ Hán: 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi. Phải cảm ơn nhà khảo cứu Trúc Khê đă nhắc tới thơ chữ Hán của Cao Bá Quát từ năm 1941. Gần đây có thêm tập thơ chữ Hán của nhà xuất bản Văn học (Hà nội) giới thiệu 160 bài.

Chưa ai may mắn nắm trong tay toàn bộ 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi để đọc, và hiểu tài thơ rất mực này. Tài t́nh đă được truyền tụng qua hai câu tán thưởng của quần chúng trên một thế kỷ qua:

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường

Ba h́nh thức văn học chủ yếu của thời Hán là phú, tản văn và nhạcphủ. Phải chăng v́ Cao viết phú và tản văn hay, nên được sánh với thời Hán ? Hay chỉ v́ người viết câu tán thưởng cần đối chỉnh khi tuyên dương bốn người?

Đọc thơ ông cảm thấy nhiều chất Đường thi: diễm lệ, b́nh dị, chân thành và cảm khái. Ông khuynh về tả thực theo hướng Đỗ Phủ. Thơ tươi đẹp mà không ủy mị. Hùng hồn nhưng trang nghiêm. Rất khác với lối văn bóng bẩy, h́nh thức chủ nghĩa, của phần lớn các bài phú thời Hán. Hoặc những bài phú các thời sau vụ vào sự trầm bỗng du dương, nhưng đă mất chất thơ bộc lộ sự chân thực của ḷng (trực trần kỳ sự) như phú của Tống Ngọc và Tư Mă Tương Như.

Lẵn vào da thịt của thơ ông, mới thấy Cao Bá Quát không ngông. Ông là con người phẫn nộ. Nhà thơ đúng nghĩa. Mỗi thi sĩ là một con người phẫn nộ trong đời. Nếu không, sẽ quy hàng để cho đời chà đạp, uốn nắn thành tên thợ thơ nịnh bợ. Chuyên làm em út cho những tṛ vô lại, cho lũ bất nhân lừa dối.

Ḱa những kẻ xum xoe nịnh hót

Chỉ ba hoa nhộn nhịp, chung cục sẽ ra sao ?

Lấy pháp nhăn (1) ta nh́n

Sáu khiếu cũng đều không (2)

Hố lửa (3) đă bén vào sắc tướng hăo huyền

Th́ bánh xe hay viên đạn cũng giống nhau thôi (4)

Thử phóng chân học lối vừa đi vừa hát (5)

Ai mới thực là ông Ly Tao (6) đây ?

(Ngày 21 tháng Giêng bị giải sang giam ở ngục Thừa Thiên)

Phiên phiên khoa tỳ tử

Hoan hoa an hữu chung?

Tự ngă pháp nhăn quan

Lục tạc dy nhược không

Hỏa khanh trước huyễn tướng

Luân đan dữ hóa đồng

Phóng bộ học hành ngâm

Thùy thị Ly Tao ông?

Lên chơi núi Hoành Sơn, ông phẫn nộ cho ḿnh và người chẳng ai làm được ǵ kế thừa truyền thống uy liệt của cha ông xưa:

Ai tài kéo nước ngh́n năm lại?

Trăm trận c̣n tên một lũy (6) thôi !

Anh hùng mạc văn thiên niênquốc

Chinh chiến không tồn nhất lũy danh

Đăng Hoành Sơn

Được dịp ra ngoại quốc. Thấy cảnh xứ người tiến bộ, phồn thịnh, ông phẫn nộ cho sự hí hửng dốt nát của chính ḿnh. Mà cũng là sự ngu dốt, bưng kín của giới sĩ phu và triều chính thời bấy giờ:

Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt giũa câu văn

Lải nhải nhai lại từng câu, từngchữ

Có khác chi con sâu đo, muốn đo cả đất trời ?

Từ khi vượt bể qua đất Ba Sơn (7)

Mới cảm thấy vũ trụ là bao la

Chuyện văn chương trước đây thực là tṛ trẻ con !

Trong thế gian có ai thật là bậctài trai

mà lại phí cả một đời đọc mấy pho sách cũ ?

Ta ngă bế hộ điêu trùng, xỉ khẩu giảo văn tự

Hữu nhi xích hoạch lượng thiênđịa

Tự ṭng phiếm hải lịch Ba Sơn

Thủy giác lục hợp hà mang mang

Hướng tích văn chương đẳng nhihư

Thế gian thùy thị chân nam tử

Uổng cá b́nh sinh độc thư sử?

Đề sát viện Bùi Công Yên đài Anh ngữ khúc hậu

Là Phật tử chân chính, uyên thâm lẽ đạo, nhưng ông không thể không phẫn nộ khi thấy bọn thầy tu mặc áo tăng để phóng dật, vục đầu vào các món lợi dưỡng, buôn Phật bán người:

Ai bảo kim cương thân chẳng nát

Ḱa xem tượng Phật găy tay ngồi

Thân ḿnh chưa độ độ ai khác

Quả dâng tăng phỗng mất đi rồi

Chế tượng Phật găy tay

Thùy vị kim cương bất hoại thân

Ngă quan hoàn thị chiết quăngnhân

Thử thân bất độ hà thân độ ?

Hiến quả tăng chung ngộ nhĩ tần.

Trào chiết tư Phật

Đâu thể trách Cao báng Phật. Bởi người uyên thâm như ông dư biết kinh Kim Cang chống triệt để cái giả danh. Dù đó là danh Phật. Phật đă không nói đó sao: Kẻ nào thấy ta qua h́nh tướng, thấy ta qua âm thanh, kẻ đó làm tà đạo. Chẳng bao giờ gặp được Như Lai (Nhược dĩ sắc kiến ngă, dĩ âm thanh cầu ngă. Thị nhơn hành tà đạo. Bất năng kiến Như Lai).

Với triều đ́nh hư thối, bọn quan liêu cửa quyền, Cao Bá Quát phẫn nộ phê phán qua bài «Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, đồng thời gửi cho ông bạn già Lê Hy Vĩnh»:

Tiểu ẩn và Ức Trai (8) hai nhân vật tuyệt vời!

Trượng phu sống ở đời đă không làm được việc phơi gan bẻ găy chấn song, giữ vững cương thường

Lại nh́n bọn lang sói nghênh ngang

Đến lúc tuổi già mặc áo gấm làm ô nhục quê hương

Chẳng làm nổi việc mài mực ở mũi lá mộc, truyền hịch định bốn phương

Chỉ cúi đầu luồn mái nhà thấp, nhụt cả khí phách

Đến lúc tuổi già gối đầu vào vợ con mà chết

Bạn về xin đến làng Nhị Khê và làng Cung Hoàng (9)

Bước lên nhà thờ hai cụ

V́ tôi lạy hai lạy dâng lên chénrượu

Tiểu Ẩn, Ức Trai dĩnh song tuyệt

Trượng phu sinh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường

Tọa thị đương đạo kiêu sài lang

Bạch đầu trú cẩm ô cố hương!

Phục bất năng thuẫn tỵ ma mặc, phi hịch định tứ phương

Đê đầu oải ốc khí bất xương

Mộ niên tử chắm nhi nữ bàng

Quân lại, thỉnh phóng Nhị Khê dữ Cung Hoàng

Đăng nhị tẩu chi từ đường

Vị ngă tái bái khuynh tiêu tương

Hoặc trong bài «Độc thi»:

Chiếc giường không, già đời với một quyển kinh

Cứ trằn trọc với điều suy nghĩ

Loại cây bồ kết th́ tốt um

Cây lan đơn độc, thơm không aibiết

Không sàng lăo nhất kinh

Triển chuyền ngă sở tư

Kê kê nất bà sa

Cô lan ám kỳ h́nh.

Theo sứ đoàn đi Nam Dương, đôi mắt nhân đạo Cao Bá Quát nh́n thấu những cảnh bất b́nh xă hội. Cảnh người da đen bị nô lệ:

Lầu gác chập chùng sát với bếnnước

Dưới bóng mát cây tùng, hoa lạ tốt tươi

Cổng sắt không đóng xe về cứ việc vào

Rặt những người da đen đánh xe cho người da trắng

Thơ vặt làm khi ở Hạ Châu

Lâu các trùng trùng giáp thủy tân

Tùng âm lương xứ dị hoa xuân

Thiết lư vô tỏa quy xa nhập

Cá cá ô nhân ngự bạch nhân

Với dân đen đau khổ trong nước, ông có rất nhiều bài tả thực cảm động, hiển sinh, và chân thành. Khác với lối thơ văn hiện thực chủ nghĩa, mà kỳ thực chỉ là chủ trương huyễn hóa thô thiển. Sự phẫn nộ của Cao Bá Quát đă thành thái độ, vượt xa chặng nhận thức hay tố cáo. Nó trầm trầm gặm nhấm tâm tư kẻ trượng phu, để một lúc nào đó búng thân họ vào hành động. Bài «Đêm ngồi một ḿnh» nói lên sự phẫn nộ trường kỳ này:

Một mảnh đất vừa ồn vừa thấp ở nơi thành thị

Một con người vừa già, vừa ốm giữa trời đất

Đem thân ra đời đă thành ngườithừa

Lánh xa phải chịu cảnh lầm than

Nhưng nạn rét, nạn lụt cứ phát sinh liên tiếp

Huống chi dân đen bị tai nạn chưa được hồi phục

Không có một sách lược ǵ làm cho đời được thái b́nh

Thẹn cho nhà nho mà lại tầm thường đến thế!

Thành thị huyên ty địa

Kiền khôn lăo bệnh phu

Tê cung thành nhũng thặng

Bính tích thả nê đồ

Hàn lao năi liên phát

Tai lê huống vị tô

Thái b́nh vô nhất lược

Lộc lộc sỉ vi nho

Độc dạ

Với hai câu nhập quy định ngay con người trên mặt đất và con người giữa vũ trụ. Giữa thế kỷ XX, triết học tây phương nói nhiều tới người thừa (de trop, en trop). Điều ấy đă thể hiện qua thơ văn Cao Bá Quát tử thế kỷ XIX. Đem thân ra đời đă thành người thừa. Người thừa ấy phải nhập thị, nơi vừa ồn vừa thấp. Sự bon chen bẩn thỉu, không đạo lư nơi xă hội tha hóa này làm ṃn mỏi con người như thật, con người khai thị, khiến nó già ốm giữa trời đất, tiêu hao thế tương duyên liên đới với vũ trụ. Tuy nhiên, bị thừa, bị lăng nhục, con người ấy không chạy trốn, không đồng lơa với phi lư. Nó chỉ phẫn nộ và đứng vào hàng ngũ dân đen. Xuất hay nhập đều tiêu vong. Xuất hay nhập không khởi từ ư tưởng, mà khởi từ ḷng xót thương trước một xă hội tha hóa đảo điên. Nhập sẽ bị thừa. Xuất sẽ lầm than. Nhưng xuất cho ai và nhập cho ai ? Người là một thế giới người. Không ai có thể chiết ra riêng. Phải chung cùng đi tới trong hùng lực xô đổ sự giết người.

Chất ngông hầu như vắng bặt trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát. Trái lại ḷng xót thương sự sống của bạn bè, gia đ́nh, dân đen... bàng bạc mối phẫn nộ trường kỳ. Đi chơi sông Bạch đằng, Cao nhớ xưa, nh́n nay, tỏ nỗi bất b́nh:

Trải ba mươi tuổi chẳng nêndanh

Mỏi gót chưa nguôi nỗi bất b́nh

Ca hết bảy bài, quay ngó lại (10)

Mịt mùng thân thế, mắt trừngtrông

Trượng phu tam thập bất thànhdanh

Đạp biến thiên nhai khí vị b́nh

Ngâm băi tht ca cánh hi thủ

Mang mang thân thế độc huhành

Du Bạch Đằng giang...

Nỗi ḷng này chỉ ḿnh Cao biết lấy, giữa non sông ngh́n dặm, giữa đất nước triệu người:

Hạt sen ôm lấm ḷng đắng ngắt, chỉ một ḿnh ḿnh biết

Muốn khơi cạn ḍng Tô thủy (11)

Rửa sạch cho đời dạ nhớp nhơ

Liên tử hữu tâm tri độc khổ

Thi chiêu bách hộc Tô giang thủy

Biến dữ nhân gian tẩy tục trường

Du mỗ cố trạch, dạ thính đàn tranh

Cao Bá Quát tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Hiên. Sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Em sinh đôi của Cao Bá Đạt. Ông đậu cử nhân năm 22 tuổi (1831), trượt kỳ thi hội. Cuộc đời từ nhỏ đến lúc ra làm quan đều nghèo. Được triệu vào Kinh (Huế) làm Hành tẩu bộ Lễ năm 1841. Nhân giữ chức Sơ khảo Trường thi Thừa Thiên, ông thấy có một số bài thi hay, nhưng bị lỗi phạm húy, nên lấy son ḥa muội đèn chữa giúp. Việc bại lộ, bị hạ ngục xử chém. Gần ba năm bị giam cầm, tra tấn cực kỳ dă man, ông được xét lại, chỉ bị cách chức. Rồi được cử đi phục dịch (hiệu lực) đoàn sứ qua Nam Dương để lấy công chuộc tội. Khi trở về được phục chức, nhưng sau bị thải hồi. Năm 1847 lại được triệu vào Kinh giữ việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ ở Viện Hàn Lâm.

Tính khí ngang tàng, luôn phẫn nộ trước các điều chướng tai gai mắt, lên tiếng chỉ trích. Ông bị triều đ́nh và bọn quan lại tị hiềm, ghét bỏ. Năm 1852, bị đổi ra phủ Quốc Oai, Sơn tây làm giáo thụ. Những năm ấy gặp hạn hán, lại có nạn châu chấu, mùa màng mất sạch, nhân dân đói khổ, mà bọn quan lại chẳng làm ǵ cứu dân. Cao Bá Quát liên lạc với nhiều người nổi lên chống  triều đ́nh, tụ tập người Kinh người Mường tham gia khởi nghĩa. Tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, ông làm Quốc sư, lấy tiếng phù Lê mà tranh đấu. Trên lá cờ của nghĩa quân, ông viết hai ḍng chữ:

«B́nh Dương, Bồ Bản vô NghiêuThuấn

Mục Dă, Minh Điều hữu Vơ Thang»

(Không có những vua hiền như Nghiêu Thuấn ở B́nh Dương và Bồ Bản, th́ ở Mục Dă, Minh Điều phải có những người chống lại như Vơ Thang). Nhưng cuộc khởi nghĩa bị dập tắt sau mấy tháng tại Mỹ Lương. Cao Bá Quát bị chết khi lâm trận cùng với 100 nghĩa quân. Tự Đức hạ lệnh chặt đầu ông đem bêu khắp các tỉnh Bắc Hà rồi bổ ra ném xuống sông.

Cao Bá Quát không là kẻ sính ḥ hét trên sân khấu hay sau hậu trường. Ông đă đem sự phẫn nộ trong thơ văn vào đời đối kháng sự hư hèn của xă hội qua một lần khởi nghĩa. Việc không thành, nói theo sự thua được trên trận địa. Nhưng ông đă thắng, khi nh́n từ góc độ nhân sinh: Bọn quan lại chính trị tham nhũng, bọn nịnh hót, ti tiểu, bọn bồi bút trên văn đàn vái lạy đă thất bại trong việc lăng nhục, khuynh đảo và d́m đè một con người. Con người Cao Bá Quát.

Phải nh́n lại Con Người Phẫn nộ nầy, th́ mới không thu bé kích thước Cao Bá Quát vào cái ngông rất tầm thường và vô hiệu, chỉ đáng làm tṛ qua vài giai thoại mua vui khi trà dư tửu hậu. Con Người Phẫn nộ ấy là một Tuyên ngôn Thơ. Cao làm thơ trên giấy, trong đầu, ngoài đời. Cao đă sống Thơ. Không thợ thơ như khá nhiều thi sĩ. Tuyên ngôn Thơ trong đời sống. Tuyên ngôn Thơ qua bài viết.

Năm 1852, bị biếm phải rời Huế đi Quốc Oai, Sơn tây làm giáo thụ. Người bạn thơ thân thiết ở chốn kinh thành là Thương Sơn Miên Thẩm (Tùng Thiện vương) nhờ ông viết tựa cho tập thơ của công. «Thương Sơn công thi tập hậu tự» (Bài tựa đề cuối tập thơ của ThươngSơn công) chính là một Tuyên ngôn Thơ. Gồm năm điểm :

1- Cái học khoa cử ở nhà trường, cũng là lối học giáo điều che mờ Tâm học của Thơ. Tức cái học người để sống người;

2- Ba hạng nô lệ trên văn đàn và học thuật đă giết mất tinh thần khai phóng của Thơ ;

3- Thơ là tính và t́nh ;

4- Thơ phải đạt cái Tính linh ;

5- Thơ là sáng tạo.

Thiếu Thơ, tư tưởng không lập thành, văn hóa khó phát triển, loài người tù ngục nơi bản năng thú tính. Thơ đă sáng lên từ b́nh minh lịch sử loài người. Nhưng Thơ thường trực bị thảm sát bởi những kẻ sợ sự thực, sợ chân lư, sợ mất cái danh hăo và lợi kỷ. Cho nên thời nào Thơ cũng bị đàn áp. Khởi đầu là bệnh giáo điều và cái học khoa cử làm quan giết Thơ. Cao Bá Quát tuyên ngôn:

«... Thơ thật là khó nói. Quốc công cũng đă biết rồi. Hiện nay cái học khoa cứ in sâu vào người ta đă mấy trăm năm, tiếng vang của Phong, Nhă (12) hầu như tắt hẳn. Quốc triều ta trị giáo sáng sủa, các tác gia lại nối gót mà ra đời. Nhưng v́ cái thói ủy mị yếu ớt c̣n rơi rớt lại, ít có người tự thoát ra được.»

Từ nguyên do ấy, Cao Bá Quát điểm ra ba hạng nô lệ trong tuyên ngôn ông: «Người kém th́ khổ về nỗi nhân tuần, dễ dăi. Người có hào khí th́ mắc vào bệnh nuốt sống bắt tươi (ư nói không tiêu hóa, người viết chú). C̣n những người sức học gọi là dồi dào, hí hửng tự đắc, th́ chỉ muốn vơ vét trăm nhà, thâu tóm mọi thể, thành ra mô phỏng quá nhiều mà phong cốt chưa cao, tô điểm có khéo, nhưng tinh thần c̣n thấp. Đúng như Khương Tây Minh (13) đă nói: «Rập kiểu những hơi ngân, câu rườm, cho đó là khí tượng để giả thác làm thơ Thịnh Đường. Đó là thói quen của những người say đắm vào thi thoại của các nhà, ăn món ăn của cổ nhân mà không tiêu hóa được».

Thơ là tính và t́nh. Tính là bản thể của người và vũ trụ. Tính là gốc của thơ. T́nh là ḷng xót thương, rung cảm, khiến cho người liên đới và bảo vệ đất đai và con người trên mặt đất. T́nh là hoạt dụng của thơ. Nắm được tính và t́nh mới có biến hóa tân kỳ cho thơ. Cao Bá Quát tuyên ngôn: «Bàn về thơ, tuy có phải chú trọng về quy cách, nhưng làm thơ th́ phải gốc ở tính t́nh. Nếu việc nào cũng bắt chước cũ, câu nào cũng học theo người, đầu thôn tạm biệt đă hát câu «chén rượu Dương Quan» (14), xóm cạnh qua chơi đă ngâm câu «tiếng gà điếm cỏ» (15). Nắn nót những lời biên tái, loè người là tuyệt diệu Gia Châu (16). Chải chuốt các thể trong cung, tự phụ là văn ṇi Thiếu Bá (17)».

Thơ phải đạt cái Tính linh: «Có thể ngh́n bài chứa đầy bể khổ, trăm vần đă cạn ruột khô, ham được, khoe nhiều, chẳng quan hệ ǵ đến tính linh cả!». Thơ không là sự huyễn hóa của những giấc mộng. Dù là mộng mơ lăng mạn, hay mộng mơ cách mạng. Cả hai đều không có thực. Vốn chỉ nhắm tới một chân trời ảo tượng dưỡng nuôi bằng khái niệm chưa bao giờ thực hiện trong đời. Gốc con người ở cái xác, ở tâm, sinh, vật, lư, hóa. Nhưng có chắc là chỉ có thế? C̣n có gốc của cái gốc, mà ta chưa biết. Khoa học đă biết hết đâu ? Khoa học cũng sờ soạn đi tới trên những điều các thi hào phát hiện và mặc khải qua Thơ, từ khi có loài người. Cao Bá Quát gọi gốc của gốc là Tính Linh. Cơi tâm linh ấy chưa bật mở, đời càng hạ giá, người càng âm u, thơ càng sáo rỗng.

«Ví như học viết, nếu cứ theo lề lối không biết biến hóa, th́ tuy có hệt được cái mặt ngoài của lối chữ Lan Đ́nh (18) cũng chẳng ai thèm kể vào đâu. Tô Đông Pha bàn về cách viết, có nói: «Không học là hơn». Ai hiểu được ư ấy, th́ có thể cùng nói chuyện về việc làm thơ.»

Không học là hơn, bởi học là lệ thuộc, là nô lệ, là tín điều. Học là cột trói ḿnh vào một hệ thống, một chủ nghĩa, một ư thức hệ. Cái học như thế giết Thơ, giết đời. Hành tinh có học bay như những phi công ? Mặt trời có học sáng như người kỷ sư điện ? Cây có học cách ra hoa kết trái như người trồng trọt ? — Không! Những cái ấy đặt đúng ḿnh vào vị trí quỹ đạo vũ trụ trên ḍng Sáng tạo thường nhiên. Không học như thế là nền tảng của mọi học vấn. Hiểu được ư ấy mới có thể cùng nói chuyện về việc làm thơ.

Tức thoát ly nô lệ, đi vào ḍng Sáng tạo của Người Thơ — người Giải phóng nhân sinh.

 

THI VŨ

 

Mồng Một tháng Giêng 1991

 

 

------------------------------

1. Pháp nhăn : con mắt Phật nh́n suốt thấu mọi sự mọi vật.

2. Sáu khiếu (lục tạc): sáu giác quan có lổ trên thân người (như mắt, mũi, tai, v.v...). «Sáu khiếu cũng đều không» diễn tả quan niệm Phật giáo về «Pháp tính không»: mọi sự đều không. Đừng hiểu theo điệu đối đăi không và có. Chẳng phải sáu khiếu, hay thân người, là không có. Sáu khiếu có, nhưng cái có ấy do tổ hợp mà thành, chứ không có như một thực tại cố định và vĩnh viễn. Cây lúa có, nhưng nếu không có hạt lúa cộng với đất, cộng với nước, cộng với ánh sáng mặt trời, v.v... th́ lúa không mọc. Lúa là không trong nghĩa ấy. Rất nhiều bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát chứng tỏ ông là người uyên thâm Phật học, nếu không là một Phật tử trong nghĩa đúng đắn nhất.

3. Hố lửa (hỏa khanh) hoặc nhà lửa (hỏa trạch) là danh từ Phật giáo, thường gặp qua nhiều Bộ kinh, như Pháp Hoa chẳng hạn. Tả sự mê muội của người đời, kinh Phật có câu : Thấy hố lứa của ba con đường ác, vẫn lũ lượt muốn vào (Tam ác hỏa khanh, lâm lâm dục nhập). Ba đường ác (tam ác đạo, cũng gọi là tam đồ) là đường ngạ quỉ, đường súc sinh, đường địa ngục.

4. Bánh xe, viên đạn (luân, đan). Trang tử nói: «Ví bằng cánh tay phải ta hóa làm viên đạn, th́ ta sẽ dùng để săn chim cú về nướng chả ăn, ví bằng xương cùng của ta hóa làm bánh xe, ta sẽ dùng thần thức làm ngựa kéo xe ấy đi chơi...!! Ư nói đời người sống chết chỉ là việc biến hóa tự nhiên, không đáng quan tâm.

5. Đời Chiến Quốc, thi hào Khuất Nguyên tận trung với nước sở. Nhưng Sở Hoài vương phóng trục, ông đi lang thang ở bờ sông, vừa đi vừa hát làm ra thiên Ly Tao, tập thơ nổi tiếng, tỏ ḷng thương đời, lo nước của ḿnh.

6. Bên sườn Đèo Ngang c̣n lũy cũ băng đá gọi là thành Hời do Chiêm Thành xây thời trước, sau gọi là thành ông Ninh, v́ tướng Trịnh là Trịnh Toàn (ông Ninh) có sửa lại trong cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn.

7. Chỉ đất Singapore, nơi Cao được phái đi hiệu lực trong một sứ đoàn.

8. Tức Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Trăi.

9. Làng của Nguyễn Trăi và Chu Mạnh Trinh.

10. Bảy bài ca: tức bài «Đồng cốc thất ca» của thi hào Đỗ Phủ thời Đường nói lên cảnh ngộ ḿnh trong lúc loạn ly, làm ở huyện Đồng cốc.

11. Sông Tô lịch ở phía Tây nam Hà nội, thuộc địa phận huyện Từ Liêm.

12. Phong, Nhă, Tụng là ba thể thơ cổ nhất được tuyển vào Kinh Thi. Đời sau xem đó là mẫu mực cho thơ.

13. Khương Tây Minh tên là Thần Anh, tiến sĩ đời Khang Hy nhà Thanh, nổi tiếng về thơ, văn.

14. «Bôi tửu Dương Quan», thơ tiễn bạn của Vương Duy đời Đường có câu: «Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu. Tây xuất Dương Quan vô cố nhân» (Khuyên bạn cùng cạn chén rượu. Đi về phía tây ra cửa Dương Quan là không c̣n cố nhân nữa).

15. «Kê thanh mao điếm», trong bài Thương sơn tảo hành của Ôn Đ́nh Quân thời Đường có câu: «Kê thanh mao điếm nguyệt, nhân tích bản kiều sương» (tiếng gà gáy dưới bóng trăng nơi đám cỏ tranh, vết chân người trên lớp sương mặt cầu ván gỗ).

16. Gia Châu biệt hiệu của Sầm Than, một nhà thơ thời Đường, nổi tiếng về thơ biên tái.

17. Thiếu Bá tên tự của Vương Xương Linh, một nhà thơ thời Đường, nổi tiếng về thơ cung đ́nh.

18. Lan Đ́nh do bài Lan Đ́nh thi tự của Vương Hy Chi thời Tấn. Ông nổi tiếng viết chữ đẹp, nên đời sau người ta dùng làm thiếp tập chữ, gọi là thiếp Lan Đ́nh.

 

© gio-o.com 2014