PHẠM TẤN XUÂN CAO
BẢN THỂ THỰC TẠI ĐA KHÔNG GIAN
tản mạn triết học
1. CHIỀU HƯỚNG CỦA CÔNG CUỘC DẪN NHẬP VÀO BẢN THỂ THỰC TẠI ĐA KHÔNG GIAN.
Bằng mắt thường, chúng ta sẽ rất khó để có thể nhận biết được một cách chính xác sự tồn tại của các chiều dư (extra dimensions) được nêu ra trong lý thuyết dây (string theory). Theo đó, không-thời gian mà chúng ta đang sống, như Einstein chỉ ra, với tính chất đầy đủ của một đa tạp 4 chiều Minkowski, mà không chỉ có vậy, thế giới này còn có thêm 6 chiều nữa; điều này nhằm đảm bảo cho lý thuyết dây có được sự liên kết về mặt toán học. Sáu chiều mới đó gọi là những chiều dư (extra dimensions), chúng được cuộn lại theo mô hình compact hóa thành những đa tạp mang tên Calabi-Yau. Chiều dư trong lý thuyết dây được hiểu rằng, ở mỗi điểm của không gian vĩ mô tồn tại một đa tạp các chiều dư. Khi dây (một thực thể có kích thước khoảng 10-33cm) dao động trong không-thời gian, với điều kiện một dây kín, tức là với một graviton (lượng tử của hấp dẫn), không có đầu mút để đảm bảo nó là một dây kín, nên khi graviton dao động nó có khả năng thoát khỏi màng D3 (màng 3 chiều) và truyền sang các chiều dư (extra dimensions).
Hiện nay, nhiều nhà khoa học đã sử dụng các chiều dư (extra dimensions) để giải thích hiện tượng gia tốc của vũ trụ (cũng có một cách giải thích khác về sự dãn nở của vũ trụ khi dựa vào năng lượng tối (dark energy) đóng vai trò làm nguyên nhân gây nên lực đẩy, nhờ vào phát hiện của Edwin Hubble vào năm 1929, cho rằng, các thiên hà đang chuyển động xa dần). Sử dụng các chiều dư (extra dimensions) nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng, vì hấp dẫn lan truyền vào các chiều dư (extra dimensions) mà chính do đó, vũ trụ dãn nở trở nên có gia tốc. Tương tác hấp dẫn là một tương tác đặc biệt mà chỉ có nó mới có khả năng lan truyền sang các chiều dư (extra dimensions).
“Nếu hai thiên hà ở rất xa nhau thì các graviton trao đổi giữa chúng là những graviton có bước sóng dài, loại graviton này sẽ thất thoát sang các chiều dư khiến cho lực hấp dẫn trở nên yếu, định luật hấp dẫn không còn là 1/r2 nữa (trong không gian nhiều chiều thì định luật hấp dẫn sẽ là 1/rn-1). Đây là một điều kiện cho sự dãn nở có gia tốc”[Cao Chi, Vật lí hiên đại, NXB Tri Thức, 2011, trang 56].
Tóm lại, vũ trụ ba chiều của chúng ta nằm trong một màng (brane) D3 và hấp dẫn xảy ra trong vũ trụ ba chiều của chúng ta, thì hấp dẫn đó có thể thoát khỏi màng và lan truyền sang các chiều dư (extra dimensions).
Lỗ đen (black holse), một vùng mà ở đó lực hấp dẫn lớn đến nỗi không cho bất kì một thứ gì đó có thể thoát ra khỏi nó, kể cả ánh sáng. Nơi mà mật độ vật chất có ở đó cực kì lớn. Và bởi vì mật độ vật chất ở đó rất lớn nên người ta đã tính tới sự tồn tại của các chiều dư (extra dimensions) tồn tại trong lỗ đen, được nhìn nhận rằng, có một phần lỗ đen chui vào trong các chiều dư (extra dimensions) đó. Khi một phần lỗ đen chui vào trong các chiều dư đó thì quan hệ giữa nhiệt độ và khối lượng sẽ thay đổi, đồng thời, khác với chính quan hệ đó có trong không gian 3 chiều.
“Như vậy việc chế tạo được lỗ đen vi mô trong phòng thí nghiệm sẽ đánh dấu ranh giới của một nền vật lý. Sau ranh giới đó là vương quốc của những chiều dư (extra dimensions)”[Cao Chi, 106].
Không gian của các chiều dư được gọi là những đa tạp các chiều dư. Không gian đó mang tính chất của hình học topo rõ rệt. Nó có thể có rất nhiều hình dạng. “Các quy luật vật lý quan sát được trong không gian vĩ mô phụ thuộc vào kích thước và cấu trúc của đa tạp các chiều dư: có bao nhiêu tay quai (handles), độ dài và vòng tiết diện của mỗi tay quai, số lượng và vị trí các màng, số đường sức thông lượng quấn quanh”[Cao Chi, 126]. Căn cứ vào sự tồn tại của các chiều dư mà không gian cổ điển được xét đến trong những phân vùng mới mẻ. Nghĩa là ngoài không gian cổ điển, tức không-thời gian 4 chiều mà chúng ta đang sống còn tồn tại những không gian của các chiều dư nữa. Từ đó chỉ rõ bản chất thực tại này là một thực tại đa không gian và bản thể thực tại này không là gì khác đi nữa của một bản thể thực tại tự tồn đa không gian. Điều này sẽ được diễn giải rõ hơn trong vấn đề đa vũ trụ. Vấn đề nhắc đến như một truy xuất về khả năng tồn tại của một alter ego (cái tôi khác).
Đa vũ trụ (multiverse) là tập hợp rất nhiều vũ trụ, trong đó có cả vũ trụ của chúng ta. Hiện nay các nhà khoa học đã đề ra bốn mức đa vũ trụ. Đa vũ trụ mức I cư trú trong một bọt (bubble). Đa vũ trụ mức II nằm trong rất nhiều bọt. Đa vũ trụ mức III được giải thích thông qua trạng thái con mèo của Schrodinger (Schrodinger’s cat): “Trong cơ học lượng tử, một đối tượng có thể ở vào nhiều trạng thái khác nhau – như con mèo Schrodinger vừa ở trạng thái sống vừa ở trạng thái chết – chỉ một can thiệp bên ngoài mới làm co (collapse) về một trạng thái – nhiều nhà vật lý cho rằng tất cả các trạng thái khả dĩ đều tiếp tục tồn tại, mỗi trạng thái nằm trong một thế giới phân nhánh khác nhau”[Cao Chi, 392]. Đa vũ trụ mức IV có được nhờ vào những mô tả toán học khác nhau làm thành sự khác nhau tương ứng đối với mọi thực thể tồn tại được xây dựng nên từ những mô tả toán học đó.
Đối với đa vũ trụ mức I và mức II thì chúng ta khó lòng có thể hiểu rõ được nó. Khi, thật sự, nếu cái bóng đó (doppelgonger) – chỉ một bản sao của bản thân chúng ta nằm cách quá xa đối với chúng ta ở đây. Nên chúng ta hướng trọng tâm đến đa vũ trụ mức III và đa vũ trụ mức IV, bởi vì, chúng không quá xa lạ gì đối với chúng ta.
Trong đa vũ trụ mức III, “tính xác suất của các quá trình lượng tử làm phát sinh nhiều phiên bản vũ trụ, mỗi phiên bản là một hệ quả khả dĩ của quá trình”[Cao Chi,66]. Căn cứ trên mức độ xác suất của các quá trình lượng tử và mỗi khả năng có thể xảy ra được coi như là một mức độ biểu hiện của một đa vũ trụ mức III.
“Như chúng ta biết, trong cơ học lượng tử đối tượng quan trọng là hàm sóng mô tả trạng thái của hệ. Hàm sóng biến thiên theo thời gian theo một cung cách mà các nhà vật lý lý thuyết gọi bằng từ “unitarity” (bảo toàn thông tin), do đó hàm sóng thực hiện một phép quay trong một không gian trừu tượng có vô cực chiều gọi là không gian Hilbert.
Hàm sóng dẫn đến những tình huống khó hiểu về mặt trực giác, như tình huống con mèo của Schrodinger vừa ở trạng thái sống vừa ở trạng thái chết theo nguyên lý chồng chất. Đến năm 1920, người ta đưa ra luận thuyết: hàm sóng sẽ co (collapse) về một trạng thái cổ điển khi tiến hành phép quan sát.
Năm 1957, Hugh Everett (Đại học Princeton) chứng tỏ rằng định đề về quá trình co (collapse) là không cần thiết. Cơ học lượng tử tự thân không chứa một mâu thuẫn nào. Một thực tại cổ điển sẽ là trạng thái chồng chất của nhiều thực tại cổ điển khác và việc tách (splitting) trạng thái chồng chất đó sẽ gắn liền với những xác suất (phù hợp với xác suất trong phép collapse). Sự chồng chất các thế giới cổ điển đó cấu thành đa vũ trụ mức III. Cơ học lượng tử tiên đoán một số lớn các vũ trụ song song”[Cao Chi,66].
Nói một cách khái quát, “các vũ trụ song song mức III ở ngay quanh ta, một trạng thái cổ điển đã tách làm nhiều trạng thái cổ điển nằm trong những vũ trụ cổ điển khác nhau”[Cao Chi,67].
Đối với đa vũ trụ mức IV chúng ta hiểu rằng thế giới là khác nhau để đa vũ trụ mức IV tồn tại là do thực tại (ở đây chỉ thực tại được tạo thành từ những quy luật vật lý – thực tại vật lý) có thể khác nhau nhờ có bản chất mô tả toán học khác nhau. Điều đó đúng như phát biểu của nhà vật lý Eugure P. Wigner: “Sự hữu ích lớn lao của toán học trong các khoa học tự nhiên là tạo ra những vùng biên với sự bí ẩn”.
“Chúng ta có thể không bao giờ tìm được chứng cứ hiển nhiên về sự tồn tại những vũ trụ khác và chắc cũng không bao giờ đến thăm viếng các vũ trụ đó được, song càng nghiên cứu những vũ trụ này, chúng ta càng nhận thức được rằng vị thế của chúng ta trong thế giới khách quan quả không phải là vị thế độc tôn, duy nhất và đặc biệt”[Cao Chi, 398].
Đa vũ trụ đặt một cơ sở nền tảng vững chắc cho hệ hình đa không gian mà trong chiều hướng dẫn nhập dựa trên căn cứ của những nghiên cứu về đa vũ trụ là hoàn toàn đảm bảo tính duy lý.
2. CẢM THỨC KÍCH XUẤT KHÔNG GIAN.
2.1 DIỄN GIẢI VỀ CẢM THỨC.
Cảm thức là cái chứa đựng một diễn trình mang tính tác động chung cuộc trong việc hướng định đến tổng thể nội tại của chủ thể. Diễn trình đó, ở đây, chính là sự tương quan giữa cảm giác và tri giác, cả hai yếu tố đó hòa quyện vào nhau và liên thông với nhau. Khi nhận thức, bản thân chủ thể luôn là trung tâm của những gì được tác động đến. Yếu tố đầu tiên chi phối quá trình nhận thức đó không gì khác ngoài cảm thức, nói cảm thức, ở đây, là muốn nhấn mạnh đến cả cảm giác lẫn tri giác, đồng thời, không loại trừ ra khỏi mối quan hệ trong quá trình tác động qua lại giữa cảm giác và tri giác; rõ rang, rằng, việc chú ý đến tính tương quan giữa tác động qua lại đối với cảm giác và tri giác là một sự chú ý rất cần thiết, bởi lẽ, chỉ một khi nhìn nhận về mối tương quan đó thì khi xem xét đến cảm thức, ta sẽ thấy được mức độ quan trọng của cảm thức là như thế nào.
Và chính sự tương quan đó mà trong một mức độ tối thiểu sẽ cho chúng ta hiểu rằng, nó không gì khác chính là một diễn trình, do đó cảm thức là cái chứa đựng một diễn trình. Những gì được tác động đến từ thế giới bên ngoài sẽ phải được thực hiện thông qua cảm thức. Như vậy, chính cảm thức là một sự tác động, một sự tác động trung gian, và giả sử nếu như sự tồn tại của sự tác động này không có thì sẽ dễ dàng thấy rõ về một hệ quả rằng, chủ thể không có được tri thức. Nhưng sự tác động của cảm thức không chỉ có thế, mà cảm thức, vai trò quan trọng của nó, hơn hết, được nói đến ở đây, chính là bản chất của sự tác động mà nó đảm nhận, sự tác động đó không thể được coi như là một sự tác động đơn thuần, như chính sự tác động từ thế giới bên ngoài về phía chủ thể, mà sự tác động của cảm thức mang bản chất là một sự tác động chung cuộc, tức là chính sự tác động đó bao hàm một diễn trình như đã nói. Một sự tác động bao quát.
Nói đến diễn trình như thế, tôi muốn nhấn mạnh đến tính biết của cảm giác/sự biết của cảm giác. Ở cảm thức, theo định nghĩa thông thường trong tâm lí học, “là một ý thức trực tiếp và minh tàng về một nội dung tâm thần hiện có trong tâm trí mà không bao giờ được nghĩ tưởng đến hay biểu lộ qua các phản ứng cảm xúc hoặc các động tác vừa mới phát sinh, hoặc các ý hướng hay chiều hướng suy tưởng”[Trần Nhựt Tân, Tâm lí học, NXB Lao Động, 2005, trang140].
Sự biết của cảm giác theo cách hiểu của tôi cũng về khái niệm cảm thức, ở đây, tôi muốn nhấn mạnh đến tính chất “trực tiếp và minh tàng”, đó như là một biểu hiện của trực giác được soi chiếu một cách đồng bộ cùng cảm giác và tri giác trong quá trình nhận thức, được diễn giải dưới tên gọi khác đi như là một diễn trình. Với diễn trình là một quá trình đang tiếp diễn. Đó là một quá trình và việc nhìn nhận về nó, ở đây, chúng ta muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của quá trình đang được nói đến, ngay trong quá trình đang nói hay đang nhìn nhận nó, để thấy rõ được tính tiếp diễn của chính nó là như thế nào. Quá trình đó hội tụ những khía cạnh mà việc chúng ta nhìn nhận về nó, khiến chính sự nhìn nhận đó được đảm bảo cho mức độ khái quát, về những hệ quả đạt được mà quá trình đó có được.
Chính vì thế, cảm thức, không gì khác, tự bản thân, nó chính là một tổ hợp giữa cảm giác, tri giác và trực giác. Nhưng không phải tổ hợp ở đây, đơn thuần chỉ là việc nhìn nhận có 3 viên bi trong một hộp giấy hình vuông kín chứa đựng chỉ riêng 3 viên bi xanh, vàng, đỏ; mà tổ hợp đó mang tính tác động chung trong cung cách biểu hiện vai trò. Điều này phải chăng tương tự như “một phức hợp gồm những ý lực (idées forces) hay những khuynh hướng chủ đề (thématisme) tình cảm, biểu tượng, ảnh tượng hay phán đoán về giá trị vui thú và buồn khổ, đôi khi về cảm xúc và các tác động gây ra hiệu quả cho cảm thức”[Trần Nhựt Tân, 144], được hiểu như là bản chất sâu kín của cảm thức trong tâm lí học. Phức hợp đó cũng chính là tổ hợp theo một sự diễn giải tương đồng. Hệ thống tâm lí (tâm hệ) của mỗi cá nhân, trong sự hướng định đến của cảm thức, chính bằng với tổng thể nội tại của chủ thể.
Tổng thể đó, chính là một hệ thống. Mà hệ thống này gieo thành sự ủy thác ý thức tính từ phía tâm hệ trải ra trên bình diện mạnh mẽ của cảm tính. Ở đây, chúng ta thấy rằng, khi tri nhận một sự vật, hiện tượng; cảm thức đồng thời huy động những định phần có trong chính bản thân mình. Và bằng cách phân tích những định phần đó, chúng ta sẽ thấy được bình diện cảm tính của cảm thức mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây.
Với việc nhìn nhận diễn trình mang tính tác động chung cuộc của cảm thức, nên tự nó mang những khuynh hướng, mà những khuynh hướng đó luôn khi nào cũng có đối tượng của riêng nó. Khuynh hướng đó vạch nên những đường lối mà chính những định phần của nó hướng đến trên những đối tượng thành phần. Cảm giác có đối tượng của cảm giác, tri giác có đối tượng của tri giác và trực giác thì cũng không ngoại lệ, trực giác có đối tượng của trực giác. Những đối tượng đó, mà bản thân mỗi định phần tạo ra những khuynh hướng cho riêng mình tạo nên tác động, điều này giải thích vì sao ở cảm thức lại mang một tính chất chung cuộc trong việc hướng định đến tổng thể nội tại của chủ thể. Mà chủ thể, nói đến nó, chính là nhằm chỉ ra một đối tượng mà ở đó, nó – chỉ đối tượng đó – không gì khác ngoài những gì đang thực hiện một sự phân biệt với những gì khác nó. Ở đó nó luôn luôn đảm nhận một vai trò được xem xét như là trung tâm của sự tiếp nhận những tác động từ bên ngoài về phía chính nó. Nói một cách chính xác hơn rằng, chủ thể là thành phần của quá trình nhận thức thế giới mà ở đó chủ thể đóng vai trò tiếp thu những gì mà thế giới bên ngoài đang luôn luôn tác động đến chủ thể. Tác động nhưng phải thực sự có hướng định một đích đến nào đó. Đích đến đó không gì khác chính là tổng thể nội tại của chủ thể. Tổng thể đó phải đang có để có thể đảm bảo tính diễn trình của cảm thức, đồng thời tổng thể đó là nội tại, tức là nó phải chứa đựng trong chính bản thân chủ thể, nội tại của chủ thể là ở trong bản thân chủ thể. Tổng thể nội tại của chủ thể, được nói đến, để chỉ ra rằng, xem xét về nó chính là thực hiện một nhìn nhận về những gì tồn tại bên trong bản thân chủ thể, mà ở đó, chủ thể có thể có được hình dung như là một chủ nhân sở hữu chính những thứ đó vậy. Cảm thức thực hiện công cuộc hướng định đến tổng thể đó nhằm để chỉ ra rằng, cảm thức luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong sự tác động mang tính nhắm đến cái đích đó. Nhìn nhận về mức độ quan trọng của cái đích đó như thế để gián tiếp nâng cao vai trò của cảm thức. Cảm thức ở đây được hiểu như một sự hiểu biết đầu tiên, nhưng không là hiểu biết nhỏ nhặt mà chính nó thực hiện được một sự chi phối gián tiếp đến tổng thể nội tại của chủ thể, như đã nói.
Cảm thức thắt chặt và bủa vây mọi ngóc ngách mà nó hiện có, để tự nó phác thảo ra một diễn trình, được hiểu như là một diễn tiến quá trình trên những khuynh hướng nhắm đến đối tượng từ phía mỗi định phần ở trong cơ cấu của chính nó. Trong đó hướng định chính là việc nhìn nhận để chuyển tải về một đối tượng khi quá trình nhận thức được thực hiện, đó chính là bước kế tiếp của sự phản ánh thế giới (sự chịu sự tác động hay tiếp thu tác động từ thế giới).
Và chính cơ cấu định phần của cảm thức, không gì khác, chính là cơ cấu tiền niệm, xây dựng nên hay vạch ra để trả lời/đem lại/mang đến những lời giải đáp thực sự rõ ràng cho cảm thức – khái niệm được sử dụng chứa đựng từ tính chất của hiện tượng. Cơ cấu đó trình bày một cách thông suốt hơn tính minh bạch hóa của cảm thức.
Cơ cấu tiền niệm diễn giải nên sự hiển minh cấu trúc không trương của cảm thức và ưu trương của thời trường. René Descartes nổi tiếng với mệnh đề “Cogito ego sum – Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”. Thì chính cái tôi tư duy của Descartes rộng ra là vật suy tư (res cogitans) cùng với cái tôi hiện hữu đó rộng ra là vật khả trương (res ectensa) và bằng hành động phủ định đặc tính khả nhiên đó làm nên một phần cấu trúc cho sự hiển minh của cảm thức được diễn giải đi bởi cơ cấu tiền niệm. Cơ cấu tiền niệm chính là sự quy hồi từ cơ cấu định phần cảm thức trên mức độ của trực tính thành phần. Một chiết suất sẽ được quy hồi thành kết quả của quá trình tri nhận thụ nạp tri thức từ phía đối tượng nhận thức, tạo ra từ mỗi định phần đó.
Nói đến không trương cảm thức là muốn nhấn mạnh đến tính khả nhiên của những định phần diễn tiến bên trong tâm hệ. Một sự vật/cái gì đó hiện hữu thì được gọi là vật khả trương, chính nhằm vào sự căng trương như là tính chất của vật chất mà sự vật hay cái gì đó chỉ có thể có được, khi nó hiện hữu. Còn cảm thức mang tính không trương, thì để hiểu được tính chất này, chính bằng với việc phủ định đi tính khả trương của đối tượng mang nó, hay nhìn nhận dưới một khía cạnh khác đi của ngôn ngữ xưng danh thì không trương chính là không khả trương; và thường đối tượng mang đặc tính không trương thường là những đối tượng thuộc về tinh thần, hay được biểu hiện khác đi trên một bình diện của cái được gọi là vật suy tư. Mọi định phần của cảm thức đều mang tính không trương, được biểu hiện qua cơ cấu tiền niệm, được diễn giải, trước hết, tạo nên một sự hiển minh.
Trong khi tri nhận, phân vùng của cảm thức sẽ tạo nên những dải tần khỏa lấp vào mọi bộ phận của tâm hệ. Một khi sự kiện khỏa lấp đó được tạo ra với một tiến trình hồi quy bình thường, thì diễn tiến của chính những sự kiện đó tạo nên tính thời trường của cảm thức. Nó giống với điều gì đó, bắt đầu xuất hiện, đi qua và lấp đầy. Trong cấu trúc tạo nên sự hiển minh của cơ cấu tiền niệm, được diễn giải ra một cách thành công thì cần phải thông qua thuộc tính ưu trương của thời trường. Với những bình diện sơ đẳng nhất của định phần cảm thức, mỗi định phần luôn dàn nạp ra cho mình những động cơ mang tính tiềm ẩn, nhưng chính những động cơ đó lại luôn là những khuynh hướng chiếu xét theo sự ưu đẳng trong quá trình tri nhận. Chính những khuynh hướng xuất phát từ bản thân của định phần hướng đến đối tượng của chính nó, chi phối lên trên tâm hệ và hướng cơ cấu tiền niệm đi theo một cách thông suốt, trên lộ trình của diễn tiến khỏa lấp mà thời trường triển khai ra.
Cơ cấu tiền niệm là tối ưu so với cơ cấu định phần cảm thức, như là thượng tầng của chính nó, mà cơ cấu định phần đóng vai trò làm hạ tầng cơ sở. Nhấn mạnh đến định tính linh hoạt của thời trường được điều chỉnh trên những cơ cấu có trong tâm hệ ngã theo những chiều hướng ưu đẳng nhất, mà tự thân vai trò của mỗi định phần có trong cơ cấu định phần cảm thức phác thảo ra. Cơ cấu tiền niệm chi phối, chi phối một cách đồng bộ, quy định tính diễn giải về cấu trúc không trương của cảm thức và đặc tính ưu trương của thời trường. Khuynh hướng mà cảm thức nhắm đến chính bằng việc soi xét tính tường minh của cơ cấu vừa nêu. Đặc cách của thời trường là không mang vác sự đẳng trương mà ý hướng về không trương của cảm thức được tạo dựng trong một cung cách liên quan đến đặc tính ưu trương của thời trường diễn ra trong tâm hệ. Và cũng chính với tính ưu trương đó mà trên những đương lượng tồn tục triền miên (miên tục) có trong chính bản thân thời trường làm nên một sự giao phó thâm sâu từ phía cảm thức.
Miên tục của thời trường là một định lực của cảm thức. Trong cơ cấu tiền niệm của cảm thức, ta đã biết được thời trường là gì. Và miên tục của thời trường là những khoảng biên niên tồn tục một cách triền miên của thời trường. Nó đi qua và đi qua trên chính những đương lượng được khảo sát đồng thời nhất. Trong sự giao phó của cơ cấu tiền niệm được hiển minh cho đặc tính ưu trương thời trường, miên tục đóng vai trò làm cấu nối giữa những chuỗi sự kiện diễn ra trong quá trình thời trường được huy động thịnh hành. Vì thế cho nên miên tục định vị trong nó sự định hướng tái chuẩn hóa của những lược đồ tri nhận mà cảm thức vẽ ra. Không có một dính dáng tất yếu nào giữa những sự kiện được khởi thảo nên trong miên tục mà tương ứng với những hệ quả bị cố kết chặt chẽ trong từng đối tượng. Nhưng lưu ý, ở đây, miên tục này là miên tục thời trường, nhằm để phân biệt với miên tục mang tính chất của một huyền nhiệm tiềm ẩn trong bản thân thực tại. Miên tục của thực tại là tất cả những gì có đó và không có ở đó. Có đó bởi vì nó là tồn tục, tồn tục sự tồn tục chứ không phải tồn tục của những khoảng tồn tục như quan niệm của Henry Bergson. Và không có ở đó chính là một khi sự tồn tục được tồn tục thì không còn gì ở đó nữa để mà sẽ được hiểu như chính những gì ở đó là sẽ được tồn tục.
Miên tục của thời trường, do đó, chứa đựng những gì mà cảm thức giao phó với sự đặc cách tinh tường nhất, khởi đi từ những khả hữu tự thân. Và sự đặc cách tinh tường đó chứa đựng tính khả hữu kìm nén trong bản thân thời trường chẳng qua cũng chỉ là một liên tiến của những xâu chuỗi hiển hiện trong bản thân cảm thức. Cho nên, điều đó dẫn đến sự tương thích giữa những gì mà bản thân miên tục của thời trường có được bằng với chính những gì mà cơ cấu tiền niệm, trên đương mức thuần thành nghiêng về phía ưu trương của thời trường tác chuyển nên. Bản thân miên tục của thời trường là những đồng đẳng được hiểu như là những định lực của cảm thức có khả năng hoán vị. Không chồng chéo như điều gì đó là hiển nhiên, trong cơ cấu hữu biệt ra, rõ ràng, rằng, để có thể hiểu về miên tục của thời trường dưới ánh sáng một định lực của cảm thức thì chỉ có thể xét trong sự thoát ly những hợp cảnh tồn hữu khi khởi đi xây dựng những hệ hình mang đầy tính ngẫu biến của bản thân những tương tranh xuất hiện trong bản thân cảm thức.
Đôi khi, sự hiện diện miên tục của thực tại là những mức độ ứng biến có trên hệ hình thao tác cảm thức, gieo vào miên tục của thời trường là một điểm nhấn mang tính định lực. Ở đây, cảm thức như muốn từ đó, qua lăng kính miên tục của chính đặc tính thời trường cảm thức, cơ cấu tiền niệm khúc xạ qua đó, mang những gì chứa đựng từ sự ưu trương của thời trường tìm về một lộ trình quy hợp trên chung cuộc của không trương cảm thức. Yếu tố định lực được diễn giải ra ở đây, không gì khác, mang những mong muốn đang ngày đêm có trong cảm thức được thôi thúc qua miên tục thời trường của chính nó. Tuy nhiên, như đã nói, ưu trương của thời trường thực hiện một lộ trình tìm về không trương của cảm thức qua lăng kính miên tục của chính nó, việc biện giải như thế, đôi khi, được thôi thúc từ chính những gì đang từng ngày được giản quy đi đến một sự tồn hợp không còn đoán định từ những phía nào, để cưu mang cho nó một sự tự trị thích đáng trong những gì là vô nghĩa. Định lực của cảm thức không là gì khác đi ngoài những gì miên tục của thời trường biểu hiện ra trên cơ cấu tiền niệm của cảm thức. Hẳn nhiên luôn là có một sự hạn định của những phông nền diễn giải thật cặn kẽ và chi tiết để tạo nên điều gì đó rõ ràng ở tính chất của thời trường không khi nào không tương tác với cảm thức.
Cho nên tác động của luận lí vào cảm thức đang nắm giữ cơ trình thiết tạo vào thời trường là hoàn toàn bất lực. Bằng với những cố gắng diễn giải một cách chặt chẽ nhất như là mong muốn của luận lí từ sự tác động của chính nó hướng đến đối tượng bất kì. Bản thân của cảm thức là bất khả kháng để diễn giải tường minh tuyệt đối. Cho nên tác động của luận lí nhắm đến cảm thức mang bản tính bất phục. Cảm thức đang nắm giữ cơ trình thiết tạo vào thời trường, chính muốn nhấn mạnh đến vai trò sâu sắc của cảm thức tạo ra thời trường. Trong khi thời trường xảy ra thì việc biểu hiện của nó trở thành đặc tính ưu trương như là biểu hiện nổi bật nhất luôn tiếp cận với tính không trương của cảm thức. Mà thực sự những nhân tố đó có thể có khả năng khơi gợi ra rõ ràng, do mang tính đồng thời trình hiện trong thời trường, nên việc dàn nạp những nhân tố đó khó có thể biểu hiện rõ rệt. Việc diễn giải chỉ là, trong một phần nào đó, tự nó giới hạn lại vào vai trò của chính nó. Khi mà chính cơ trình thiết tạo vào thời trường luôn hướng đến nhằm xây dựng nên một giá trị tới hạn của những gì làm nên bản thân cảm thức.
Tính bất lực của luận lí được nêu ra ở đây là muốn nhắm đến, không gì hơn nữa, tính bất toàn của diễn giải về cảm thức. Hậu tố từ cảm thức chưa thực sự được xây dựng nên một cách thật sự chắc chắn, nhưng hạn định tất cả những gì gieo rắc thành tư tưởng phi tuyệt đối khi nhắm đến để hiểu hơn về cảm thức vẫn là một mong muốn tiếp cận chính đáng. Bởi dù gì đi nữa thì tiếp cận cũng là mong muốn tiệm cận đến dù là khó khăn ở những biên vùng có đòi hỏi điều gì đó thật sự rạch ròi và chặt chẽ. Bởi chính những đòi hỏi đó làm cạn kiệt đi nỗi nào giảm thiểu những đề hướng về cảm thức. Và một lần nữa thời trường của cảm thức đóng vai trò của những phác đồ thâm sâu về cảm thức, vẽ ra từ viễn tượng của sự trình hiện tự bản thân chính nó.
Chính vì vậy, lược đồ của lộ trình hành xử không trương cảm thức cơ cấu nên miên viễn về tụ độ của chú ý vào thời trường. Hẳn nhiên là ở đây, chúng ta đã thấy rất rõ mối quan hệ giữa không trương cảm thức và ưu trương của thời trường. Đặc tính ưu trương của thời trường, dưới một biểu hiện nào đó, gọi là miên tục của chính nó, như đã nói, chính là một định lực của cảm thức. Nhưng, còn hơn thế nữa, sự chú ý của cảm thức vào thời trường đang hiện hoạt trong nó thông qua điểm quy kết tụ độ là rõ ràng và thông suốt hơn để suy nghĩ trên những miền thửa xa xăm của các quy tắc linh động trong tâm hệ. Thâm nhập từng ngày vào cảm thức để hình thành nên một trật tự; một toàn vẹn tồn sinh; lược đồ của lộ trình hành xử không trương cảm thức luôn bảo tồn tính nguyên vẹn trong từng khoảnh khắc hiện hoạt. Mỗi định phần trong cơ cấu, được diễn giải rộng hơn qua cơ cấu tiền niệm, bung vỡ ra những cuộc hội nhập song trùng mà chính sự định hướng mang tính chỉ dẫn xuất phát từ mỗi định phần đã cần đến một tụ độ của chú ý chính bản thân cảm thức nhìn ngắm về phía thời trường, như là nhìn ngắm về những gì nó đang xảy ra khi nó hoạt động tri nhận.
Tính không trương cảm thức và ưu trương thời trường được khúc xạ về nhau qua lăng kính miên tục của chính thời trường. Ở đây, nói miên viễn về tụ độ của chú ý vào thời trường, chính muốn nói rằng, không có một cái nhìn cận cảnh cho việc thu nhận được bất kì một thông tin nào, khả hữu, từ lộ trình đó, để suy diễn trong mối tương quan về ưu trương của thời trường chịu định hướng bởi tụ độ chú ý. Tất cả quá trình đều có sự can thiệp, can thiệp đó chính là sự tương tác lẫn nhau giữa không trương cảm thức và ưu trương thời trường. Qua cái nhìn miên viễn về tụ độ chú ý, thời trường thực hiện một bước phóng vọt hướng đến trung tâm của những định phần làm nên không trương cảm thức, nhằm kết hợp các đặc thù đó lại với nhau để điều động nên một mong mỏi nguyên vẹn toàn thể.
Nói đến lộ trình đó, chúng ta như lùi ra xa một bước để nhìn ngắm về phía không trương cảm thức đang từng ngày khỏa lấp đi những khoảng trống không đáng có. Từ đó chiết xuất ra, một cách thật sự không phải là lật lọng, tất cả những đề hướng làm nên cơ cấu định vị tương quan trên từng đối tượng chiếm hữu những khuynh hướng được quy chiếu hẳn hoi. Tụ độ chú ý đó, ở đây, được gieo mầm trong chính từng hướng định quy chiếu rốt ráo ở trực tâm của mỗi định phần. Nó khả hữu bao hàm những gì miên man nhất có trong mỗi định phần không nhằm kết hợp củng cố những cuộc thoái trào lộn ngược xuất phát từ mỗi định phần. Tụ độ chú ý, tự nó hạn định cho ý chí của những trực tính mỗi định phần biểu hiện hợp lý. Ấn tượng về tụ độ, cũng chỉ có thể khai sinh nên bên trong cảm thức đang miên man, trôi trong lang thang của thời trường. Định vị tụ độ là bước quy kết không khả quan. Nó có thể, nay đây mai đó trong tâm hệ, quy kết trên giá trị tới hạn của cảm thức. Tụ độ tự nó thực hiện một kiểu cách chế tác bí nhiệm cho chính nó khi đặt tất cả mọi sự chú ý, rộng ra là ý chí, vào vùng thửa của cảm thức, chính là không trương của mỗi định phần. Tại vị của chính mỗi định phần cảm thức là cố kết nhưng cơ chế hiện hoạt của chúng lại linh động, vì linh động cho nên ngẫu sinh ra thành nhiều cương mục mà tụ độ mang khuynh hướng tự tại ở mỗi chúng sẽ làm nên điều gì đó là khả hữu, một khả hữu thật sự. Cho dù cơ chế đó có linh động thì cũng chỉ linh động trên cảm thức. Giữa cảm thức và thời trường, diễn giải đi, hiểu ngắn gọn như là chính định phần của cảm thức tự cảm nhận rồi cảm thấy chính những hiện tượng mà chính chúng tạo ra. Tuy nhiên, đây vẫn không thể được xem như là một hành động tự hư vô hóa chính nó, điều đó là không được minh bạch cho mọi kết luận, có chủ ý, tương tự như thế.
Biểu hiện trong một khía cạnh khác đi, dự ý của cảm thức liên thông với phóng trợ không trương vào thời trường. Dự ý đó, diễn ra trong miên tục. Dự ý, được hiểu theo nghĩa khác đi như mang chiều hướng của sự chú ý nhằm về phía đối tượng. Bước phóng trợ không trương vào thời trường là công việc nhằm để duy trì chính nền tảng mà thời trường đang hiện hoạt. Nếu không có bước phóng trợ không trương vào thời trường thì thiết tạo tự thân cảm thức sẽ không thể diễn tiến nên thời trường. Lúc đó, khi muốn nói đến thời trường, là muốn nhấn mạnh đến cuộc phóng trợ không trương có trong cảm thức, hữu biệt hóa ra thành những dự ý có một cuộc liên thông vào thời trường nên phóng trợ không trương vào thời trường nhằm duy trì chính sự hiện hoạt của thời trường trước những gì là quá vãng và khả dĩ cho một liên thông là ở đây chính liên thông ấy làm nên mọi cuộc dịch chuyển trong từng bước phóng trợ để thời trường diễn ra. Dự ý của cảm thức không thô ráp quá đà khi mọi thao tác của nó hướng về phía thời trường lại không được khải lộ nên những gì ở đó điều minh bạch. Trong suốt quá trình phóng trợ, dự ý cảm thức luôn tìm cách hướng định đến thời trường, nhằm mang những cấu trúc không trương thực hiện một cuộc đổ bộ vào chính sự hiện hoạt của chính cảm thức tiến diễn. Chỉ có thể thông qua bước phóng trợ mà không trương cảm thức mới có khả năng xâm nhập vào thời trường. Dự ý đóng vai trò diễn dịch tất cả những cơ cấu nền tảng của trực giác tính đang tồn hợp trong cảm thức. Dự ý đó mạnh lên làm thành chú ý và hơn thế nữa, trong khả năng thuần thục nhất, dự ý làm nên ý chí của chính cảm thức muốn vượt thoát khỏi chính nó. Bởi bước phóng trợ kế theo trong sự liên thông đó đặt định quy tắc vượt thoát của ý chí ra khỏi cảm thức với đồng bộ trên những miên tục và thời trường. Việc phóng trợ đó đảm bảo cho khả năng truyền hưởng chính bản thân cảm thức lan sang mọi phân vùng của những thành tố mà nó dựng lên. Và cũng chính bước liên thông đó liên thông hơn nữa với phóng trợ không trương cho ra khả năng truyền hưởng của cảm thức vào thời trường.
Khả năng truyền hưởng cảm thức đến đương độ thuần thục của ảnh tượng gieo vào thời trường là sự phù ứng của chính bản thân cảm thức. Truyền hưởng đó, sẽ được chất chứa trong nó những gì mà chính cảm thức hướng về phía thời trường. Thời trường hiện hoạt, được trải ra, trên những phân vùng hệ hình ảnh tượng. Chính ảnh tượng mới là điểm nhắm đến như là vạch mốc xuất phát đầu tiên cho sự phù ứng (thích ứng một cách phù hợp) từ phía cảm thức. Khả năng truyền hưởng đó luôn ngày nào cũng liên đới với dự ý của cảm thức trong bước phóng trợ không trương. Mỗi một tiềm tố chứa đựng trong khả năng truyền hưởng cảm thức hướng đến ảnh tượng phải là những gì đó phát triển đến/ngang mức tiềm lực cho phép.
Mức độ đó được coi như là đương độ thuần thục của ảnh tượng. Cùng với dự ý của cảm thức, khả năng truyền hưởng tạo nên một cuộc đổ bộ song trùng vào thời trường nhằm thiết lập điều gì đó xóa bỏ những khả năng lệch lạc trên mức độ tái thiết chính bản thân cảm thức. Việc hoàn tất cho một chu trình truyền hưởng, phải kể đến định tính đương độ thuần thục của chính ảnh tượng. Với ảnh tượng, được kề cận trong những phân vùng dường như khó có thể bị chia cắt trong sự lãnh nhận bất cứ điều gì mang tính xây dựng chung. Khả năng truyền hưởng với điều kiện ảnh tượng phải hiện hoạt đến một đương độ thuần thục. Soi xét dưới một khía cạnh nào đó, được coi như hiệu ứng đầy tiềm năng nhằm giải thích với đích đến là lộ trình hướng đích một cách chắc chắn và khả giải nhất. Trong từng khoảnh khắc luôn nhắm đến về phía những gì đó, đi qua và lấp đầy. Đó như những gì mà trên một mức độ trùng hợp ta được dự phóng vào phía vô biên của sự phân lãnh chất chứa mọi hiện tượng. Và cũng chính bằng với hiện tượng đó, nội giới kiêu hãnh bước đi những bước tiến song hành cùng ngoại giới, được coi như những sự kiểm tỏa định vị lẫn nhau.
Kiểm toả đó luôn khi nào cũng bao chứa một tác động mà tác động nhìn ngắm không gian xung quanh của chủ thể tạo nên cấu hình cho hành động quét ảnh tượng hiện xung bên trong cảm thức được dàn dựng lại một cách thiết định công phu đóng vai trò làm cơ sở. Ở đây, bằng với sự phân tích trên từng định phần hướng về phía đối tượng của chính chúng, sẽ làm cho những gì hiển minh trong cảm thức được sáng rõ hơn nữa. Khi chủ thể thực hiện hành động nhìn ngắm không gian xung quanh mình, thì đồng thời cảm thức tham gia vào quá trình du nhập về mình những gì thiết thực nhất cho cuộc chuyển tải đến những quy trình tiếp theo, mà ở đó cảm giác đã, bằng với chính khả năng của mình, thụ nạp những gì tương thích được chuẩn hóa trong những bước phóng vọt vượt thoát khỏi/tràn qua hàng rào kiểm duyệt của ý chí ngoại biên.
Tác động của tri giác tham gia vào ở đây, diễn giải rõ ràng ra sẽ được hiểu rằng, cấu hình được xây dựng nên từ những gì cảm giác đem lại cho tri giác sẽ tự nó thiết đặt nên một cấu hình biến chuyển cho những diễn tiến tiếp theo. Tri giác thâm nhập vào và bằng việc xác định rõ ràng những gì cần thiết đặt và tự thiết đặt, tri giác quả quyết trong từng bước điều hành những gì mang tính trung gian của kẻ đứng giữa nhị biên. Tri giác hiểu rõ, cơ cấu nền tảng mà nó có được xây dựng nên, xuất phát từ phía tác động nhìn ngắm không gian xung quanh của chủ thể. Bằng công cuộc hiển trình kế tục sau đó, tri giác tạo nên một cấu hình tiếp tục được định liệu cho hành động quét ảnh tượng hiện xung bên trong cảm thức. Hành động này, được hiểu như là sự phác thảo ra những gì mà ở đó trực giác tính xâm nhập vào để nhào nặn ra những gì tức thời nhất, nhưng không hẳn là không bền vững trong cơ cấu của hiên hoạt chính những gì được phác thảo ra đó. Trực giác tính giờ đây đóng vai trò như một người họa sĩ vẽ ra trên tấm giấy trắng đã có bố cục, những đường nét và màu sắc, trong những gì mà cấu hình tri giác xây dựng nên, để trực giác dàn dựng cuối cùng.
Đi từ tác động nhìn ngắm không gian, thể hiện vai trò cho cảm giác đến quy trình xây dựng nên cấu hình trong vai trò của tri giác và cuối cùng là trực giác biểu hiện kết quả trong miên trường của tâm hệ, với hiện hoạt đóng vai trò làm trung tâm cho nội giới được khảo sát một cách thuần thành ở diễn tiến chính ảnh tượng trên một dải hoạt động dây chuyền với từng bước chuyển tải trong quá trình sản xuất. Rõ ràng, với chính những gì được nêu ra ở đây, ta thấy rằng, cả ba yếu tố trong tổ hợp đang tồn tại trong bản thân cảm thức đều tham gia vào sự chuyển tải hằng hữu từ những gì bên ngoài (ngoại giới) vào những gì bên trong chủ thể (nội giới). Những bước đi song trùng luôn từng ngày được hiện hoạt trong tự thân mỗi quá trình mà từng định phần thực hiện. Nội giới và ngoại giới tương tác lẫn nhau cũng như cảm thức tương tranh với miên tục của thực tại. Việc dàn dựng nên những gì từ kết quả chung cuộc của mỗi định phần sẽ không có được sự câu thông/nối kết từ phía thành phần đến tổng thể trên đương mức dàn nạp.
Cảm thức đóng vai trò là trung tâm của mọi sự thụ nạp những gì ngoại giới đang trong từng ngày tác động vào nội giới. Đồng thời nó phóng nạp ra ngoại giới những gì mà chính cảm thức muốn thực hiện công cuộc khảo sát cho riêng mình, trên từng ý tưởng. Bằng cơ chế hiện hoạt có trong nó, cảm thức luôn khi nào cũng là đối tượng được soi chiếu vào trong tổng phần của chính nó những gì mang tính minh bạch nhất. Cảm thức là nhận thức được cảm quan đem lại những gì cho chủ thể. Hơn thế nữa, cảm thức luôn là nơi chứa đựng những gì đó mang tính tường minh của tổng thể, trong hệ thống tâm lí của cá nhân. “Không trương nào cũng là một hệ thống của những tương quan trừu tượng” (Lagneau). Mỗi định phần của cảm thức là một không trương và cảm thức đóng vai trò cho hệ thống đó, nên trong nó khó để mà có được những tương quan cụ thể thì cũng là điều thật sự dễ hiểu.
2.2 TIẾN TRÌNH CỦA CẢM THỨC.
Mỗi giác độ của cảm thức bao chứa tính không trương, như là một diễn tiến vận hành của chính ý thức dự phóng bảo toàn linh động trong không gian mà ý hướng tính vạch ra. Không gian đó mang nghĩa, là dự phần trong tính tiếp biến phóng thể từ nội giới ra ngoại giới để cảm thức tự trở thành những khuynh lực ý hướng tính. Với ý hướng tính là tính hướng định của ý thức về một cái gì đó. Nó là tính chất của ý thức được đảm bảo rằng việc thực hiện hay quá trình diễn ra của ý thức phải luôn có đối tượng được hướng đến, nó mang tính chất nhắm đến của ý thức, tự bản thân ý thức thực hiện được điều này, bởi ý thức muốn được coi là ý thức thì ý thức phải được xem như một quá trình được thực hiện có điều nó muốn thực hiện đối với điều mà nó thực hiện, tức là không gì khác ngoài đối tượng của ý thức. Việc chỉ rõ tính chất của sự gắn kết chặt chẽ giữa ý thức và đối tượng của nó làm thành ý hướng tính. Với nội giới là thế giới bên trong của chủ thể. Nơi mà những hoạt động được diễn ra như những quá trình mang tính dàn dựng nên thành những phân vùng riêng biệt mang đậm yếu tố chủ quan. Và ngoại giới là thế giới bên ngoài so với chủ thể. Ngoại giới là tổng hợp của rất nhiều những thành phần đưa đến tác động đem lại về phía chủ thể. Ngoại giới còn là một mức độ biểu hiện gián tiếp của những hoạt động dàn dựng diễn ra bên trong chủ thể, tức nội giới. Từ đó, phóng thể được hiểu là thực hiện rõ ràng ra những gì đang chứa đựng như những tiềm lực trong chính bản thân mình đang có. Nó là một bước kế tục của tiếp biến. Phóng thể được coi là cụ thể hóa những tiềm tố thành những gì thực sự có. Chính bằng hành động cụ thể hóa đó mà phóng thể được coi như một giai đoạn cố gắng cho những nỗ lực thực hiện để đi đến một hệ quả đóng vai trò là một tiềm tố kế tiếp trong một quá trình diễn ra sau đó. Trên cơ sở của tiếp biến là sự thực hiện một giai đoạn mà giai đoạn đó được kế thừa và rồi chính nó tự khơi gợi ra một phân vùng nào đó rõ ràng hơn. Giải thích cụ thể, ta thấy rằng, tiếp biến được hiểu như một giai đoạn tiếp nhận sự biến chuyển của một quá trình hay sự kiện nào đó mà trước nó mang lại. Với đồng thời sự hiện hữu của dự phần được hiểu như một thành phần nào đó tham dự vào quá trình. Nói đến dự phần trong một quá trình nào đó bất kì tức là nhắm đến một mức độ bao hàm của đối tượng được dự phần đó trong quá trình đang thực hiện chứa đựng ngay đối tượng dự phần. Và rồi chính khuynh lực nhằm để chỉ một yếu tố mang tính chuyển tải những cơ cấu cho việc xây dựng nên những quá trìn, nó đề bạt và tự triển khai những khuynh hướng thành những cơ cấu rõ nét.
Cảm thức được diễn giải qua cơ cấu tiền niệm chính là nhắm vào phía ý thức, như muốn khơi gợi nên một chút gì qua sự suy tư được thực hiện rõ ràng, khi mà tất cả đều nhập cuộc. Mỗi giác độ của cảm thức, do đó, luôn bao chứa tính không trương mà những gì được diễn giải ra là có sẵn ở đó. Giác độ đó được nhìn nhận, khi cảm thức và chỉ duy nhất cảm thức mới có khả năng tái lập nên những hệ hình, mà bản thân mình không thể đáp ứng một cách chu toàn. Không gian mà ý hướng tính vạch ra chỉ duy cảm thức mới có thể đổ bộ vào và hướng đến những quy kết thẩm tra sáng suốt. Trong không gian mà ý hướng tính vạch ra, có sẵn tất cả những điều kiện cần thiết cho mọi quy tắc thẩm tra về phía không trương cảm thức, được biểu hiện qua mỗi giác độ tại thân, luôn tiếp biến trên những mức độ thuần thành. Mỗi giác độ bao chứa tính không trương của cảm thức, luôn muốn khơi gợi về những cơ cấu hạ tầng có trong mỗi định phần của cảm thức, tự biện minh cho chính chúng, trước những sự phân lập khả giải của nguồn gốc mọi cuộc hướng dẫn tư duy.
Ý thức dự phóng tạo nên ý hướng tính mà ý hướng tính luôn khảo sát tiềm năng ở mọi phương diện, với khả năng thiết yếu có thể được biểu hiện là khả hữu. Ý hướng tính luôn được bảo toàn linh động trong không gian mà chính nó vạch ra. Mỗi giác độ cảm thức trong đương mức có thể hiểu được chính là nhắm vào và gia công hơn nữa cho ý hướng tính. Một diễn tiến vận hành trong những gì được coi như dự phóng thì luôn là sự hướng định đến đối tượng, để tạo nên, trong một chừng mực nào đó, một hệ quả tất yếu. Đi từ diễn tiến vận hành của chính ý thức dự phóng được bảo toàn linh động trong không gian mà ý hướng tính vạch ra, ta có thể thẩm tra được tính chất có ở mỗi giác độ của cảm thức bao chứa tính không trương như là tính chất chuẩn hóa dự tính tìm đến những yếu tố tính chất thứ cấp khác. Và cũng có thể thẩm tra theo chiều ngược lại, khi mà việc hiển minh trên mỗi giác độ không trương của cảm thức sẽ có thể cho chúng ta một hệ quả thẩm tra sáng rõ những gì mà ý thức dự phóng được bảo toàn linh động trong không gian mà ý hướng tính vạch ra được hiểu ngang với một diễn tiến vận hành, trên thời trường.
Khi một quy chụp thẩm tra nào xuất phát từ hệ hình của mỗi phía thì căn cứ vào điều kiện thiết yếu đó, tự suy có thể trở thành như là nguyên tắc khả giải cho quy chụp thẩm tra đó. Không gian mà ý hướng tính vạch ra chính là không gian mà ở đó nói lên được tính trực quan của cảm thức, trong việc xâm nhập khả nhiễm vào một dự phóng bất kì nào đó được hiển minh trong cảm thức. Do đó, chính cảm thức là nhân tố chủ đạo trong công cuộc dẫn nhập vào dự phóng, đề hướng về bất kì một không gian nào đó. Nên tính trực quan cảm thức sẽ được dàn dựng như là yếu tố không thể thiếu để, căn cứ vào đó, thẩm tra về mọi phía của không gian bất kì. Nguyên tắc thẩm tra được xây dựng, ở đây, không nhằm về bất kì một phía nào để tăng cường cuộc đổ bộ vào không gian được dự phóng mang đến những hệ quả rao giảng vào hư vô. Mà thẩm tra cho ta biết được, nguyên tắc thích ứng trong từng chuỗi dạng tư duy mà ta có để biết được không trương cảm thức trên mỗi giác độ luôn có tác động điều hướng về sự dự phóng hình thành không gian. Mọi ý hướng tính ngập tràn sự hiển minh cho không gian được xây dựng trên mức độ cố kết sâu đậm. Và bằng với sự chuyển tải có thể có, mang vác vào tính thực hành, để biện minh cho mỗi bước dẫn nhập vào không gian ý hướng tính vạch ra thì chính những gì mà không gian tính có được từ bước dự phóng ý hướng tính đó sẽ tạo nên tất cả những hệ hình cơ sở cho việc xây dựng có tính nguyên tắc thiết yếu, để hiểu hơn về tiến trình của cảm thức. Trên một bước đà được nói đến, chính tiến trình đó, được khả giải thật rành mạch trong chủ thể bởi những quy trình mang nguyên tắc thẩm tra vừa quy xét.
Với ý chí ngoại biên của vùng miền cảm thức luôn thụ nạp những biến cố phát sinh từ ngẫu nhiên tính của triển thời trương độ ở bản thân không gian cổ điển, được ghi khắc và phù ứng nên thành những âm hưởng và dự ý của chủ thể đem dàn nạp nó vào trong chính bản thân cảm thức thì đi từ bản thân không gian cổ điển sẽ là một không gian chứa đựng tính ưu việt miên tục của thực tại. Không gian cổ điển, xưa nay vẫn như thế. Không gian cổ điển là phân vùng thiết đặt ở những gì mà giữa nó và điều kiện hiện hữu có một sự ngăn cách. Khi mà trong chính bản thân không gian đó luôn bung vỡ ra những khả năng, chứa đựng ngẫu nhiên tính hòa tan vào các biến cố, thì ở sự đặc cách của bất cứ những gì ở ý chí ngoại biên vùng miền cảm thức sẽ luôn thụ nạp chúng. Chúng được phát sinh và luôn được đón nhận một cách nồng nhiệt. Ý chí ngoại biên của vùng miền cảm thức, chỉ những gì tồn tại thành một dải tần ấn kí trong vùng đệm, mà ở đó có khuynh hướng về một tác động của cảm thức hướng xuất ra khỏi bản thân nó.
Ý chí ngoại biên luôn thụ nạp những biến cố phát sinh từ ngẫu nhiên tính, nghĩa là nó luôn khi nào cũng gom vào mình những gì có thể đạt được về một sự tự tin có ý nghĩa, mang lại một hệ quả. Thụ nạp ngẫu nhiên tính thông qua các biến cố, chính ở đây, tương tác giữa cảm thức và bản thân không gian cổ điển biểu hiện rõ ràng nhất. Và chính điều đó, được biểu hiện ở triển thời trương độ bản thân không gian cổ điển. Khai triển một cách tức thời, luôn đánh đồng được đương lượng ngang bằng với những biến cố phát sinh từ ngẫu nhiên tính. Đồng thời triển thời trương độ bản thân không gian cổ điển muốn hướng đến cái nhìn trên nền miên tục của thực tại, nhấn mạnh đến tính trương độ của những biểu hiện vật chất sẽ khả dĩ cho việc thụ nạp những biến cố phát sinh, mang hệ quả từ chính những phân tích đó đem lại. Ý chí ngoại biên tạo một sự kiểm duyệt, hay nói cách khác, chọn lọc có đương mức khả nhiên, cho những gì mang tính chất bất khả kháng từ chính những nguyên tắc thẩm tra mà nó có. Bằng với nguyên tắc thẩm tra đó, ý chí ngoại biên thực hiện lệnh được cấp đi từ trung tâm cảm thức, do đó việc thụ nạp sẽ được ghi khắc và phù ứng trong tính tiếp biến mang tính chất của một quá trình.
Sự ghi khắc và phù ứng đó khả hữu cho công cuộc khôi phục những hệ hình, để có thể dàn dựng nên những âm hưởng và dự ý của chủ thể. Tính ghi khắc và phù ứng bắt buộc phải khả hữu vì tính chất trước đó là thụ nạp. Khi một đối tượng thụ nạp và được đặt trong quá trình thì tiếp theo thụ nạp sẽ là niềm tin xảy đến đối với một sự ghi khắc cộng với phù ứng mang tính khả hữu cho mọi hệ quả cuối cùng có thể xảy ra. Ghi khắc sẽ mang tính tác động trực tiếp đến hệ quả đó và phù ứng đóng vai trò như một người trợ lí tham dự vào việc phẫu thuật sao cho nó có thể, luôn khi nào cũng, diễn ra một cách suông sẻ. Thì chính sự ghi khắc, đồng thời có phù ứng đó, đã tạo nên những âm hưởng và dự ý có được trong chủ thể, hình thành như hệ quả của những điều vừa diễn giải. Âm hưởng luôn ngập tràn trong chủ thể bởi sự khỏa lấp mang tiến trình của sự khuấy động từ tâm hệ. Dự ý ở chủ thể được nói đến, để nhằm xác định được động thái sẽ xảy ra nếu chủ thể thực hiện theo mỗi khả năng được sắp xếp trước đó. Nhưng chính những âm hưởng và dự ý đó sẽ trên một tuần hoàn, mang chu trình được dựng sẵn, sẽ quay về lại, nghĩa là được dàn nạp vào trong bản thân cảm thức. Bản thân cảm thức chính là mức tương tác khả nhiên cho cái được gọi là ngang mức với tính miên tục của thực tại, được biểu hiện cụ thể qua không gian cổ điển, với chính những gì mà cảm thức được nhắm đến, thì đều đem lại những hệ quả, mà chính những hệ quả đó được đặt định vào những nguyên lý tự thân chính nó. Trong những diễn biến xảy ra bên trong cảm thức, điều mà nó biểu hiện ra lại cũng chính là điều mà nó có được tiềm tàng, từ chính việc làm nguyên ủy của nó. Và bất kể một tiến trình nào, cũng phải có một đối tượng để tiến trình thấm nhập đến/vào nó. Cho nên, không riêng gì những tiến trình cá biệt, tiến trình cảm thức sẽ được thực hiện khi cảm thức nhắm đến đối tượng, không gì khác đi, của nó, là bản thân không gian cổ điển, được hạn định trong những đường hướng vừa phân tích.
Và ở đó trên bước đường dự phóng của cảm thức từ bản thể tôi đến bản thể không gian bao chứa bản thể tôi, luôn ấn định một tác động cảm quan soi chiếu về tính phức hợp, được minh định hóa trong tiến trình phóng ngoại ra khỏi bản thể tôi. Tiến trình của cảm thức, không gì khác hơn, là quá trình mà ở đó có sự thay đổi tính nhìn nhận trực tiếp chính vấn đề muốn nhắc đến. Đi từ bản thể tôi đến bản thể không gian, bao chứa bản thể tôi đó, cảm thức thực hiện một cuộc dự phóng chính quy, như đã nêu ra, và cuộc dự phóng đó luôn ấn định trên một đường ray mà cảm quan chính là người lái tàu. Tác động cảm quan luôn là sâu sắc, chừng nào bước đường dự phóng của cảm thức thể hiện một cách sáng rõ, những hệ quả liên đới với những đích đến khả hữu nhất.
Khi mà tác động cảm quan nhập cuộc vào để thực hiện dự phóng cảm thức, xuất phát từ bản thể tôi đến bản thể không gian chứa bản thể tôi, thì cũng đồng nghĩa với việc, cảm quan trừu xuất trên bước đường dự phóng đó, những phương hướng quang minh hơn hẳn những gì hiện hữu trong cảm quan. Với lối tiếp cận khác, để nhằm hiểu được những toan tính từ tác động cảm quan, hướng đến công cuộc dự phóng, đó là đầy tiềm năng và khó chứa đựng một sự giao kết biện minh ngang ngửa. Và chính hành động mà bản thể tôi trừu xuất đó, làm thành/nên sự phóng ngoại ra khỏi chính nó. Cũng từ đây, tiến trình phóng ngoại được hiểu như một sự thôi thúc đáng có, khi cảm quan thực hiện đầy đủ vai trò chính quy của mình, như khi mà cảm quan điều phối cảm thức, với cảm quan như hiện minh cho toàn bộ quy trình/tính chất mà cảm thức thu nạp.
Không kể bất cứ một điều gì mà cảm quan có thể làm, là đem lại tiếng nói, được đánh giá có trọng lượng, thì quan hệ của những thành phần hạ cấp, hẳn sẽ là mang được sự thuận theo những khả năng, mà mỗi đối tượng thành phần hiểu rõ nhất. Hẳn là với chỉ những gì vừa nêu ra, thì chúng ta sẽ thấy rõ việc làm ở cảm quan, với định tính của nó là gì, tất sẽ có được một câu hỏi đầy sáng suốt, bởi hiểu rõ hơn cảm quan thì khả năng ở bước đường dự phóng của cảm thức sẽ, phần nào đó, luôn luôn được nghĩ đến là dễ dàng hơn.
Cảm quan, chỉ những gì chứa đựng những quan năng trong cảm thức, mà chính quy mỗi định phần có ảnh hưởng từ nó, một cách liên thuộc nhất. Cảm quan không chỉ là những gì đó mang tính cảm xúc/chứa đựng cảm tính một cách tràn ngập. Mà cảm quan muốn chỉ đến tính tri thức được thu hồi từ chính những gì được phán cho cái tên là cảm tính nhất đó.
Cảm quan không hề đưa ra một gây cấn nào về việc sẽ biện minh cho mình chính bổn phận như vai trò của những bậc tiền bối, mà chỉ việc thông qua cảm quan, đám hậu bối mới truy xét ra trong cảm quan đó, chứa đựng tất cả những điều gì mang tính đồng loạt, được thẩm định tức thời. Giá trị nó có khá vững vàng, chừng nào, nó được liên kết với những điều gì đó được cho là mang tính tự trị về mặt pháp chế, tựa như, biên vùng của những thửa đất, mà ở đó đã có chủ sở hữu. Mọi hành động xâm lấn bất hợp pháp đều sẽ phải trả giá cho chính hành động đó. Tính tự trị ở bất cứ một phân vùng nào, đều được coi là thích đáng bởi tiến trình được thúc đẩy đầy tiềm năng, từ những dự phóng mang đến ở chính những vai trò đặt ra.
Những tác động của cảm quan sẽ ấn định một cách rõ ràng, trên tiến trình/bước đường dự phóng đó, để sự phóng ngoại thực hiện một cách sung mãn không thể ngờ tới. Tính tự trị được gieo vào, ở đây, như thúc đẩy cho những đương lượng thẩm định tức thời, có cơ hội tràn sang những phân vùng, cũng có thể là toàn bộ những phân vùng, trong công cuộc dự phóng. Một điều gì đó được gán cho cảm quan với những tính chất hàn lâm luôn được khả quy, không gì khác đi, trong chính dự phóng đó. Bằng cách liên thông tất cả mọi sự đặt định đúng quy trình của sự kiện đang diễn ra, thì sẽ tất yếu, từ đó, khởi đi một khả hữu cho tiến trình phóng ngoại nhằm giải đáp được những đương lượng khả năng, có thể có từ những gì mà cảm quan có thể có. Từ đó hướng đến việc chỉ cho ta thấy rằng cảm quan điều phối cảm thức, trên, hay trong một khía cạnh nào đó, trái với tính chất hàn lâm, bởi tác động trí năng mà nó chứa đựng.
Để rồi mọi không gian dự kiến phát sinh tồn hợp trong tác động trí năng của chủ thể. Không gian, được định nghĩa, là dự phần trong tính tiếp biến phóng thể từ nội giới ra ngoại giới để cảm thức tự trở thành những khuynh lực ý hướng tính. Không gian được sản sinh từ cảm thức. Không gian trong vật lí khác hẳn với không gian được sản sinh từ cảm thức. Không gian từ cảm thức chỉ là dự phần, một dự phần mang trong mình tiếp biến phóng thể. Nghĩa là một bộ phận khả nảng có khả năng xảy ra khi khuynh hướng nhắm đến, trong một mức độ chờ đợi, để hiện hữu mang tính có. Cuộc phóng thể đó đi từ nội giới ra ngoại giới chính muốn nói đến không gian, chính là việc thực hiện những gì mà nội giới khuấy động nên sự tự thành để hiện hoạt. Và chính tiếp biến phóng thể đó làm cho cảm thức tự trở thành những khuynh lực, bức phát nên, trong một độ lùi gia tăng mức độ, trên bình diện ý hướng tính. Ý hướng tính được nói đến, cho nên, thể hiện rõ được sự chờ đợi để những hiện hữu mang tính có xảy ra. Không gian cảm thức là những không gian khả năng, không gian có thể có. Không gian cảm thức mang những biểu hiện của riêng mỗi phân vùng, mà khi nó có thể hiện hoạt, thì chính nó sẽ tự mình trở thành một không gian, theo đúng nghĩa của từ đó. Và vì liên quan đến khả năng có thể có trong những gì sẽ xảy ra, nên không gian chẳng qua cũng chỉ là những dự phần mà thôi, dự phần trong tính tiếp biến phóng thể (phóng vọt ra khỏi đối tượng). Khuynh lực ý hướng tính sẽ lan tràn trong các phân vùng được hạn định bởi ý chí ngoại biên của cảm thức, nhằm thiết đặt sự ảnh hưởng của ý hướng tính đến quá trình sản sinh ra không gian. Cảm thức đóng vai trò như trạm trung chuyển những gì tương tác song hành giữa nội giới và ngoại giới. Trên từng đương mức khả thành của sự tiếp biến vừa nói trên thì khả năng bủa vây mọi ngóc ngách cảm thức đến nội giới là rất rành mạch để từ đó hướng đến việc nâng cấp chủ tri được thành thật hơn. Và chính những gì mà khuynh lực ý hướng tính vạch nên trên hạn định của ý chí ngoại biên cảm thức, nên dự phần của mỗi thành tố không gian là khả giải cho tác động trí năng của chủ thể. Mọi không gian được dự kiến sản sinh ra, phụ thuộc trong tác động diễn giải tường minh đó. Và chính tiếp biến đó còn mang trong mình những lộ trình thứ cấp khác.
Cho nên phức hợp luôn dàn dựng vào bên trong không gian cổ điển mang những lộ trình thực hữu cho sự lấn loát cảm thức vào thời trường. Lấn loát cảm thức vào thời trường chính là sự thiết tạo không trương cảm thức vào ưu trương của thời trường. Tất cả những lộ trình thực hữu đó chính là tiến trình của cảm thức. Lộ trình đó, luôn mang tính phức hợp. Bên trong không gian cổ điển mang những lộ trình thực hữu ấy, khi mà sự lấn loát cảm thức được thực hiện một cách thông suốt. Tiến trình cảm thức được xây dựng trên những lộ trình đó, đủ chứng lý cho sự sáng tỏ hơn vai trò của cảm thức. Bản thân không gian cổ điển, tự thân nó, không gì khác mang những phân vùng chứa đựng cứu cánh với những mức độ khả quy. Không gì hơn cho những minh giải về phía không gian cổ điển mà chứa đựng trong nó những gì đầy đủ của phức hợp tính chứa đựng đều có ý nghĩa tất hữu. Bản chất của phức hợp tính bao chứa trong sự ấn định mà lộ trình lấn loát đó luôn là khả hữu, với từng ấn định, phức hợp luôn được gia tăng mức độ hợp lí.
Ở đây không trương của cảm thức ấn định nơi từng không gian, mặc dù có thể có trường hợp chúng ta đang không ở trong phần lớn các không gian khác, nhưng với tác động chung của toàn thể ta cảm ứng được từ nhiều phía của chuỗi dạng thông tin đến từ các không gian khác đó.
Phức hợp tính bây giờ được thể hiện rất rõ, và tác động ấn định của không trương cảm thức nơi từng không gian, nhấn mạnh rành mạch đến phân vùng của điều khả quy. Toàn thể thực tại là gì đó được hiểu như một bao chứa mà ở đó có sự kết hợp của những biên vùng rõ rệt với tất cả những định liệu dự trù cho tiến trình của cảm thức được thông dẫn đến hồi khải lộ. Trong đặc tính của tiến trình đó, cần đến một tác động chung mang tính biểu thị từ nhiều phía của chuỗi dạng thông tin đến từ các không gian khác đó. Tác động toàn thể là tác động tính của tiến trình cảm thức nên mọi định liệu là cần thiết cho mỗi kết lập tiến trình đó được hiện trình sáng rõ. Tiến trình được gia cố trong toàn thể tính, không gì khác, từ cơ cấu liên tải, chứa đựng trong thực tại này với sự hướng định không hề mệt mỏi đến hệ hình đa không gian.
Được nói đến bằng tích tụ khảo sát những liên tải bên trong không gian như là một thao tác thăm dò bên trong cảm thức mang những phân vùng được dàn dựng công phu nhưng tức thời. Tích tụ đó chứa đựng mọi vẻ của sự khảo sát chính đáng có trong bản chất mỗi không gian. Đồng thời với chính sự tích tụ đó, thao tác thăm dò bên trong cảm thức như chứa đựng mọi điều, mọi vẻ. Mà chính thao tác thăm dò đó, mang những phân vùng được dàn dựng một cách công phu nhất. Công phu nhưng tức thời. Tích tụ khảo sát bên trong những liên tải không gian nghĩa là không ngừng truy về phía mỗi không gian để có thể nắm được điều gì đó có khả giải cho một hiệu lực truyền hưởng từ phía mỗi không gian có đó. Đi từ những tích tụ khảo sát để nhắm đến những gì bên trong cảm thức, như vậy, minh chiếu nên sự rõ ràng về tiến trình cảm thức trong tương tác với sự định hình không gian là như thế nào. Tiến trình của cảm thức đóng vai trò cho mọi sự hướng nhìn về phía của không gian được đặt ra thông qua một viễn cảnh mang tính thực tế, mà bấy lâu nay, chưa được định hình một cách toàn bộ, rằng, thực tại đó, là thực tại của đa không gian.
Tiến trình cảm thức không gì khác hơn chính là tích tụ những khảo sát liên tải bên trong không gian cổ điển của vũ trụ cổ điển để dẫn nhập vào một bản thể thực tại đa không gian. Tiến trình đó đòi hỏi mức độ tương tác giữa cảm thức và không gian cổ điển được đẩy lên một mức cao trào nhất. Bằng với tích tụ khảo sát thì chính sự tích tụ đó được giải thích cho mức độ tương tác vừa nêu. Tiến trình của cảm thức mang cứu cánh về một quy hợp cảm thức định hình thực tại đa không gian. Tiến trình đó hợp lí trên mọi căn nguyên của vô số những tiềm năng chứa đựng nơi thực tại dự trù đến. Tiến trình đó là khả quan cho mọi sự tất hữu được liên đới hướng định vào nhau qua tương tác thuần thành mà viễn tượng của cảm thức nói lên rất rõ/sâu hơn những gì cần diễn giải ở đây. Bất kể tương tác nào cũng là đồng bộ và khả quy. Nên khảo sát sẽ không thể không đồng bộ vì khả quy, do đó, thao tác thăm dò bên trong cảm thức đề hướng đến một chung cuộc vĩ mô hơn trên tầm nhìn viễn tượng của tiến trình cảm thức.
Viễn tượng của cảm thức hình dung về mỗi một không gian đương lượng với tư cách khả vi giao hoán cho bất kì một không gian nào khác nó, chính bằng hiệu năng từ sự liên kết tương ứng giữa chúng. Không gian này, ở đây, không gian kia, ở đó. Giữa hai không gian, ta nói rằng, có một hiệu năng (hiệu quả của năng lực) của sự liên kết giữa chúng, được đương lượng với tư cách khả vi giao hoán về mỗi một không gian. Chính điều này, tự nó, thừa nhận, sự tương tác giữa các không gian là hoàn toàn khả hữu. Không gian chứa đựng những sự định liệu chính yếu đối với mỗi tư cách được cho rằng nó có thể định liệu về mọi phương hướng. Mỗi một không gian là mỗi một viễn tượng cho cảm thức hình dung nung nấu trong mình sự thấm nhập của những biến quy đồng phức. Khả vi giao hoán cho bất kì một không gian nào khác nó không có nghĩa là thay đổi vị trí của chúng với nhau, mà ý muốn nói rằng khả vi cho sự tương tác những liên tải bên trong mỗi không gian. Không gian nào cũng được coi là không gian từ những mức độ phẩm tính của cảm thức mà thành, cho nên, tự chúng có trong những liên tải khác nhau. Những liên tải đó nếu được coi là hiệu năng giữa các không gian thì không gì khác hơn cho chính việc quy xét hiệu quả của năng lực khi những tương tác liên tải xảy ra đối với mỗi không gian, rộng ra là đối với hai không gian.
Hiệu năng của sự liên kết giữa mỗi không gian thì cũng đồng bộ cho hiệu năng của sự liên kết tất cả các không gian trong một tổng thể. Bởi thế mới viện dẫn đến một viễn tượng mà ở đó khó thật sự chối bỏ khẳng định vừa nêu. Hiệu năng nào cũng là gia cố thêm vào tiến trình định liệu cho hiệu quả của sự liên kết để tiến trình của cảm thức có thể diễn ra một cách suông sẻ. Hiệu năng lúc nào cũng nung nấu trong mình sự không cam tâm chịu nung nấu từ bất kể một sự dự định nào được tính trước. Chính hiệu năng là điều kiện cho đương mức để tiến trình của cảm thức trong mức độ được ngày một tăng cường hơn nữa tính tái thiết mọ bộ phận chính quy cũng như không chính quy trong khi tiến trình được khởi thảo và di nhập vào bất kể phương vùng nào mà tiến trình đó gợi mở đến những đương độ khả năng thuần thành cho hệ hình muốn xây dựng.
Hệ hình đó chứa đựng tính biền biệt của thời gian hiện diện trong không gian, hiển nhiên làm thành tính không trương của cảm thức xúc tác vào trong ứng động chung, nơi công cuộc chuyển thể bên trong bản chất phân vùng không gian của thực tại vạch sẵn, để từ đó làm nên sự chuyên biệt nơi bản chất của tính chuẩn hóa không gian không hề khi nào mang tính dị biệt do cảm quan đem lại. Trong tương tác giữa không trương của cảm thức với ưu trương của thời trường hẳn sẽ là khả dĩ cho việc khẳng định tính biền biệt của thời gian hiện diện trong không gian như một khả dĩ tất hữu, tiếp đó, là diễn giải rõ hơn, chính điều đó hiển nhiên góp vào thành tính không trương của cảm thức xúc tác trong ứng động chung chính nó. Nói tính biền biệt của thời gian hiện diện trong không gian, không gì khác chính là viện dẫn cho công cuộc chuyển thể vào trong bản chất phân vùng không gian của thực tại. Khi không trương cảm thức phát động nên một tiến trình của cảm thức về lộ trình đa không gian thì cũng đồng thời, tính biền biệt cũng tham gia vào công cuộc chuyển thể vào trong bản chất phân vùng không gian của thực tại do cảm thức vạch sẵn này.
Chính điều đó đã làm nên sự chuyên biệt bản chất của tính chuẩn hóa không gian không hề khi nào mang sự dị biệt do cảm quan đem lại. Thêm một tư suy cho tiến trình của cảm thức, ở đây, trong tiến trình của cảm thức, tương tác không trương ưu trương ngày càng bộc lộ một cách rõ ràng. Ưu trương góp vào không trương, đồng thời không trương tác động vào ưu trương. Tiến trình cảm thức luôn mang một cung cách quy giản trên từng chặng lộ trình như thế được sáng rõ. Tiến trình được phân định cho mỗi khi sự khả giải có được sự khả giải mang tính toàn bộ. Dự liệu từ tất cả những gì khác mang lại điều gì đó được coi là dị biệt thì cũng đều là dị biệt, tất nhiên, sẽ là không khả quan như trong tâm tưởng hướng đến tiến trình cảm thức.
Chuyển thể nào trong bản chất phân vùng không gian của thực tại do cảm thức vạch sẵn chính muốn nói lên vai trò của cảm thức trong từng hiện diện ở tiến trình của cảm thức. Tiến trình của sự kích xuất nên lộ trình về không gian với hướng định về trường hợp xán lạn nhất của những cứu cánh có mục đích đối với hệ hình không gì khác mang tính đa không gian.
Để rồi, bất kể một sự thụ tạo nào cũng đều mang bản chất của cuộc hội ngộ đánh đồng quy chụp cảm thức phóng nạp vào không gian. Bởi nó là thụ tạo nên nó luôn gia nạp vào trong mình bất kể những điều gì mà nó cần cho nó. Nó có những điều gì mà nó luôn mong muốn được thôi thúc để bổ sung thêm những điều gì, mà tự nó muốn được sở hữu những điều như vậy. Bởi rằng, bất kể một sự thụ tạo nào cũng đều mang bản chất của cuộc hội ngộ, nên thụ tạo đi liền với điểm tập kết chính quy, để từ đó phóng vọt cho ra những gì mang tính hệ quả có quy chiếu. Nhưng với lí lẽ để viện dẫn rằng, và thật sự đúng như thế, cuộc hội ngộ đó đánh đồng quy chụp của cảm thức phóng nạp vào không gian. Cho nên, phóng nạp vào không gian như điều kiện trong một bước giải quyết đồng tâm của nó, chính là sự thụ tạo có gia nạp những truyền hưởng khả thi. Và rằng, bất kể một sự thụ tạo nào, nên thụ tạo đó đi đôi với việc trừu xuất ra những gì mang kết quả khả giải, là điều gì luôn được đánh giá với tư cách khả quan, cho việc quy xét tính chất của mỗi một công cuộc, mà công cuộc đó dẫn dắt cho việc tư suy đi từ cảm thức, đến những gì mang lại từ cảm thức viễn trình ra. Hay nói cách khác, cho những gì là viễn tượng của cảm thức đem đến.
Hẳn là bằng bất kể một sự thụ tạo nào, cũng đều gia nạp và gia nạp không ngừng về tâm tưởng truyền thông cho phóng nạp vào không gian. Như khi mà không gian, còn đón đợi điều gì đó được cho là khả nghi xuất phát nơi cảm thức. Bởi chăng, bất kể một điều gì bị cho là đánh đồng trên toàn bộ, thì cũng đều là những gì cục bộ, riêng rẽ, mang hàm ý của những miệt thị. Nên, hẳn với sự chỉ dẫn cho những chú giải về bất kể một biên vùng của sự thụ tạo nào, thì gia lực truyền hưởng đó sẽ luôn thực hiện tốt, ít nhất là như vậy, cho việc mà ta nghĩ tưởng đến, đối với lộ trình phóng nạp vào không gian. Mà chính không gian được nói đến ở đây, hay là không gian bất kì, mang tính chung đều cấu nạp từ sự thụ tạo hẳn hoi đó. Và phóng nạp đó chính là tiền đề để từ đó khởi đi của những tụ độ.
Mỗi tụ độ là mỗi một hồi cố về phân vùng không gian có giới hạn riêng biệt. Phương tiện diễn đạt mang đến cho ta thấy rằng, chính sự hồi cố về phân vùng không gian có giới hạn riêng biệt, sẽ cho ta một nhận thức về tụ độ. Ngược lại biểu hiện khác đi của nguyên nghĩa hồi cố đó cho ta một khái niệm về tụ độ. Tụ độ xuất phát từ dự phóng bao hàm trong ý chí chính bản thân chủ thể. Nói mỗi tụ độ là mỗi một hồi cố để hiểu rằng, hồi cố đó chính là bước truy lùng để quay về với chính những diễn giải quy xét vào tụ độ. Hồi cố đó có đối tượng chính là phân vùng không gian có giới hạn riêng biệt chứ không phải là không gian đơn thuần. Hay hiểu như một không gian bất kì nào, cũng đều một khi mang đến với tư cách, là đối tượng của hồi cố, thì điều đó được coi như chính sự xuất hiện của mỗi tụ độ tương ứng với bất kì một không gian nào đó.
Diễn đạt như thế có thể hiểu một cách khác rằng, chính những dự phóng ý chí được quy giản trong từng tụ độ, nên chính mỗi tụ độ đó, khả nhiên, sẽ là một tác động hồi cố về điều gì đó mà chính ý chí dự phóng đến. Tất cả điều gì đó mang tư cách là dự phóng của ý chí hướng tới, thì cũng đều gia tăng màu sắc cho hồi cố đó, được chuyển tải một cách rành mạch và sâu sắc hơn trong từng tác động. Dự phóng ý chí thẩm định những gì mà hồi cố phân lãnh nên. Hồi cố được triển khai ở đây, hướng về phân vùng không gian có giới hạn riêng biệt. Tính chất không gian đó, chỉ ra rằng, với tính giới hạn riêng biệt, sẽ khả giải cho tác động hồi cố đó thêm rõ ràng, nhưng với chỉ tác động hồi cố đó, để thẩm định một cách sáng suốt nên những gì mà ai cũng hiểu, thì hẳn nhiên điều khả giải đó, phải cần một túc lí tự thân. Và rằng, túc lí đó sẽ được điềm nhiên khải lộ về một định chuẩn trong cơ cấu hướng định đến cơ sở đóng vai trò như nguyên nhân được trình bày một cách thông suốt đó. Chỉ những ngoại biên của ý chí mới là những gì mà túc lí đó cần nắm bắt và nhận biết cho chính sự đóng vai trò bổ túc cơ sở cho chính nó.
Ngoại biên của những ý chí được thực thi bằng tụ độ bản nhiên . Ý chí cho ra những dự phóng và bằng những dự phóng đó, sẽ cho ra bất cứ một điều gì mà ý chí cần. Sự cần thiết đó nói lên rằng, dự phóng của ý chí là chỉ định cho bất kể một công cuộc dẫn nhập nào, về phía đối xuất trực tính của cảm thức. Và ngoại biên của những ý chí được thực thi bằng tụ độ bản nhiên của chính nó, chính là, xuất phát từ đó, mà chúng ta cho rằng, tụ độ bản nhiên của chính những gì mà ngoại biên của ý chí được thực thi, chính là hành động được hiện thực hoá từ những dự phóng đó. Và cũng chính những dự phóng đó là tiềm tố chúng ta cần chú ý để có thể giải quyết rành rọt cho những gì liên quan tới ngoại biên của những ý chí.
Ngoại biên của những ý chí được thực thi hay là hành động hiện thực hoá của những dự phóng. Và chính những tụ độ được nhắc đến ở đây, hẳn sẽ là như điều kiện được nhắc đến, nó – những tụ độ đó, phải mang tính bản nhiên của chính nó. Tính bản nhiên đó chỉ dẫn rằng, những bản chất tất nhiên của chính những tụ độ. Và nói đến những tụ độ bản nhiên, chính là nói đến trung khu của những gì được thực thi khả hữu, xuất phát từ điều gì đó là chính quy cho một sự giải thích, mang mong muốn quy hồi về với những gì được coi là xuất phát cho nó.
Nói đến ngoại biên của những ý chí mà không nói đến chính bản thân của chú ý, viện dẫn rằng, nói thế để chuyển tất cả những định hướng có được dự phóng khởi đi từ những tụ độ, chính vậy mới khả hữu nên những điều gì tất yếu cho viện dẫn như thế là hợp lí. Với tính quy tắc gạn lọc cho điều kiện được soi chiếu là mang tính bản nhiên của những tụ độ, xuất phát từ ngoại biện của ý chí, không gì hơn, tăng cường công tác tư suy về việc giải thích được cho là rõ ràng bằng viện dẫn, được khởi đi từ những vùng biên của ý chí hơn là nhắc đến bản thân ý chí. Ý chí được phát xuất bằng những gì là hướng định, nhưng ngoại biên của ý chí thì phơi bày điều gì mang tính tập trung. Nên có được tập trung chính là thực hữu cho những khả cấu không gian đang trong quá trình phát sinh cũng như trong sự băng hoại của chính chúng, đang có đó.
Ngay khi suy nghĩ đóng vai trò là một tập trung, chính bằng hành động tự do, tạo dựng thành những khả cấu không gian thực hữu cho chính bản thân cảm thức hướng đến. Tiến trình của cảm thức phỏng chiếu nên trình tự, mà ở đó, cảm thức đi từ chính những định phần có quy hướng về với những điều gì mang trong định tính của nó.
Khi suy nghĩ, tự do trong suy nghĩ thì khó mà dám nói rằng là điều gì đó được minh bạch cho những suy nghĩ được suy nghĩ tới đó, khi suy nghĩ được suy nghĩ tới đó, biết rằng đang được suy nghĩ qua chủ thể, thì suy nghĩ về chính sự suy nghĩ sẽ khó mà hoài nghi một cách chính đáng về những điều đang được suy nghĩ. Vì suy nghĩ là suy nghĩ của riêng mỗi chủ thể nên suy nghĩ là tự do. Tự do suy nghĩ là tự suy nghĩ đó tự nó phán xét cho chính nó – tức suy nghĩ được nói đến, là suy nghĩ mà một khi suy nghĩ đó, được cảm thức hướng đến, để tạo dựng thành những khả cấu không gian thực hữu, ít nhất ra, là trong suy nghĩ về chính sự suy nghĩ đến khả cấu những không gian thực hữu. Suy nghĩ đó đóng vai trò là suy nghĩ cho sự suy nghĩ được biện minh về suy nghĩ mang quy tắc tự trị của suy nghĩ, nên khó nói suy nghĩ là suy nghĩ điều gì về không suy nghĩ cho những gì vẫn được coi như suy nghĩ điều gì về không suy nghĩ đối với những gì vẫn được coi là suy nghĩ không chính đáng.
Suy nghĩ đó có chính định hướng là suy nghĩ và suy nghĩ mang tính chất cho mọi đánh giá về suy nghĩ là suy nghĩ đang suy nghĩ. Suy nghĩ mang tất cả những gì mà suy nghĩ có thể suy nghĩ nên mỗi suy nghĩ đều có khả năng tạo dựng thành những khả cấu không gian/không gian cảm thức chứa đựng mỗi suy nghĩ hướng đến như với tính định vị ngẫu phát từ cảm thức. Chính bản thân cảm thức hướng đến cho nên suy nghĩ là suy nghĩ về điều gì đó mà suy nghĩ tự cấp phát cho chính suy nghĩ để suy nghĩ về cho nó những gì để sự suy nghĩ được suy nghĩ nhiều hơn những gì được suy nghĩ như thế nữa. Những khả cấu không gian xuất triển từ chính hành động tự do của suy nghĩ như có được từ bản thân cảm thức định vị ngẫu phát. Và chính tự do đó, nên lưu chuyển bất kể điều gì trong định vị ngẫu phát đó cũng đều là không chính đáng, cho những khẳng định tất yếu về điều gì đó được cho là bền vững. Bền vững trong tính tự trị của bền vững quy nhiên.
Để rồi đề hướng của cảm thức về ý định lưu chuyển của bản thân hữu thể trong thời trường gia tăng mức độ giảo hoạt tính chính bằng trạng thái mập mờ của thực tại. Đề hướng mang tác động định quy cho cảm thức. Khi ý định lưu chuyển bản chất hữu thể trong thời trường được diễn ra thì cũng đồng nghĩa với việc cảm thức tự trình bày nên quy tắc đón nhận rằng, chính nó sẽ đảm đương công tác lưu chuyển đó. Không gì khác hơn, là chính ý định lưu chuyển của bản chất hữu thể trong thời trường, sẽ đề cập đến cảm thức, như cơ sở cho mọi biến chuyển được diễn ra. Bản chất hữu thể trong thời trường là diễn giải rằng, hữu thể phân lãnh nên như chính nó biến thành một ánh xạ và ánh xạ đó phóng vọt trong thời trường. Ánh xạ được hiểu như điều gì đó tương tự các bức xạ, phần nào được khả kiến, vì khả kiến nên ta có thể biết được nó có thể xảy ra/hiện diện, ít nhất là trong trí óc.
Cũng chính sự đề hướng đó của cảm thức làm gia tăng mức độ giảo hoạt tính, mức độ giảo hoạt tính chính là những gì phân vùng ngoại cảm, mà chính bản thân cảm thức không dẫn dắt để đổ bộ vào trong đó được. Mức độ đó ngày càng gia tăng, chứng tỏ rằng, miên tục của thời trường đang tăng cường sự thăng giáng của mình. Chính vì sự thăng giáng miên tục của thời trường, nên khả năng lưu chuyển bản chất hữu thể trong thời trường, được coi không chỉ là điều gì đó lớn nhất, hay ít ra được nói rằng, chỉ là ý định, thì lúc này sẽ bắt gặp rất nhiều trục trặc/sự cố. Chính giờ này mà mức độ giảo hoạt tính sẽ thoát li ra khỏi trạng thái tĩnh, mà bắt đầu tăng vọt. Điều gì đó được mang đến như là hệ quả cho chính sự tăng vọt đó? Và mức độ gia tăng giảo hoạt tính chính bằng trạng thái mập mờ của thực tại. Khi khả năng lưu chuyển bản chất hữu thể trong thời trường, tự giản quy về những phân vùng bất khả nghi đó được cố kết từ những cột trụ vững chắc, thì không gì hơn, chính khi giảo hoạt tính được gia tăng mức độ, thì chủ thể mang bản chất trong thời trường điều xuất về tất cả những khả năng có thể xảy ra, trong những gì được diễn ra tiếp theo sau đó. Trạng thái mập mờ của thực tại là khả nhiên. Trạng thái đó cố định nên những điều truy phục vào những gì là tất định mang bản tính cố định khả hữu cho những gì được coi là bất biến.
Chính vì vậy, biểu trưng của hư vô chỉ là một trong những mức độ thuần thục của giảo hoạt tính tự tồn tạm thời nương náu đằng sau những tác động giả cách của cảm thức chưa hướng định đến được tổng phần cảm quan chính bản thân hữu tại thể.
Nói thế, để viện dẫn rằng, hư vô hiện hữu chỉ dưới tư cách nhìn nhận về nó như là một biểu trưng. Biểu trưng của hư vô chỉ là một trong những mức độ thuần thục của giảo hoạt tính. Mức độ đó, mà giảo hoạt tính là sự chỉ sự giả cách, đả phá mọi hệ hình cơ sở được hiểu một cách theo lí thường tình, nghe như có vẻ thuyết phục trong từng biểu hiện. Giảo hoạt tính đó, nương náu tạm thời đằng sau những tác động giả cách của cảm thức. Hư vô được hiểu về nó, như một biểu trưng, đủ cho thấy, khả năng hiện hữu của hư vô chẳng qua chỉ là một ý niệm/ý tưởng về nó, được có nó để nó được có những gì mà nó có, chẳng qua, cũng chỉ là những điều gì đó được đặt định bên ngoài nó. Biểu trưng hư vô chỉ là một trong những mức độ thuần thục của giảo hoạt tính. Giảo hoạt tính đề xướng nên một phân vùng, mà ở đó, sự hiện hoạt của đối tượng chỉ mang tính giả định tạm thời để suy tư về nó. Thuần thục, ở đây, như chính điều kiện của giảo hoạt tính phân bố, sắp xếp nên cung cách biểu hiện của những gì được đề ra như là biểu trưng của hư vô. Giảo hoạt tính đó, nói đến tính chất của nó, được lồng ghép vào bên trong, chính nó, mang tính tự tồn trong những tác động giả cách của cảm thức. Nghĩa là mỗi đề hướng về phía ngoài bản thân cảm thức, mà cảm thức hướng đến, chính cảm thức tự thiết đặt nên những gì mà nó không thể phân lãnh rành mạch được. Khi mà cảm thức hình thành nên những tác động giả cách, hay nói đúng hơn những tác động giả cách xuất hiện song hành trong những tiến trình xảy ra bên trong của cảm thức, được hiểu như một hệ quả thứ cấp. Nhưng nguyên nhân nào lại đặt định những tiến trình xảy ra đó, nương náu đằng sau những tác động giả cách tự làm thành bản thân giảo hoạt tính?
Không gì khác đi, với những điều mà cảm thức hướng định đến được tổng phần cảm quan, chính bản thân hữu tại thể, là nguyên nhân của những tiến trình cảm thức được coi như đó giảo hoạt tính. Với một điều kiện là những tác động giả cách của cảm thức, chưa hướng định đến được tổng phần của cảm quan chính bản thân hữu tại thể.
Do đó, nếu nói về biểu trưng của hư vô thì luôn luôn xem xét nó trong sự tiệm cận đến biên vùng cảm quan bản thân hữu tại thể. Tổng phần cảm quan sẽ cứ liệu những gì mà điểm xuất phát từ nó minh chiếu về một nền tảng cho những gì khả biến. Hư vô xuất hiện như chính nó, mang tính bào mòn gián tiếp, dẫn đến sự khế hợp đến tổng phần cảm quan mang những không tương quan, biểu hiện đi một cách nan giải. Một khi những tác động giả cách của cảm thức hướng định đến được tổng phần cảm quan, thì chính kết quả có được đó, sẽ trình chiếu nên những ảnh tượng sáng rõ và khi đó, nói hư vô có, sẽ khó nhận định rằng, nó vô nghĩa. Nhưng nó – chỉ hư vô, chỉ đặt định khi hướng đến là mang kết quả được (đến được) nên chỉ khi không đến được thì hư vô lại xuất hiện, còn như khi không đến được thì sẽ phi tính tiếp cận đến một đặt định rằng nó không có, là khả nhiên.
Chính bản thân hữu tại thể luôn không khi nào không linh động trong từng bước tường minh về miên trùng của nội giới, ở đó, tổng phần cảm thức chính thức điều phối tất cả những gì mà nó có khả năng làm được/thực hiện thành công, thì sẽ chỉ những gì không có khả năng mới trong/dưới một chiều kích nào đó, gợi đến một cung cách, cung cách gì đó khả giải về hư vô.
Hư vô xuất hiện như khi chính tiến trình hướng đến tổng phần cảm quan của cảm thức được hiểu bị gián đoạn đi. Hư vô chỉ khi đó, được hiểu như là hư vô tại nghĩa. Hư vô không gì khác khi không là hư vô mà chúng ta cũng cho đó là hư vô thì cũng đồng nghĩa những hành động đó chẳng khác gì là hư vô cả. Chỉ khi khả nhiên cho định tính những gì được hướng định đến tổng phần cảm quan thì hư vô mới chính nên hư vô được nói đến như là hư vô, mang nghĩa hư vô. Biện giải về hư vô, chính là, không gì khác, một cuộc đổ bộ để đẩy được hướng nhìn nhận của cảm thức về phía tồn vong bản thể thực tại.
Định lực mang những họa đồ chính quy nhất của khả giải về mức tồn vong bản thể thực tại được ấn định từ bản thân cảm thức. Nói thế, để diễn đạt rằng, mức dự phóng từ cảm thức sẽ mang những khoả lấp vào sự hiển minh của bản thể thực tại. Nếu không có cảm thức thì suy tư về bản thể thực tại sẽ không được rõ ràng. Mức tồn vong bản thể thực tại sẽ được thực thi bởi chính cảm thức. Định lực từ cảm thức mang những hoạ đồ được coi là chính quy nhất, của những gì cho mọi sự chú ý về thực tại, coi như khả nhiên, được quy kết, từ trong cảm thức. Những hoạ đồ đó là những dự phần của mỗi một biểu hiện trong liên thuộc phát sinh không gian. Điều chính quy nhất đó gia tăng sự ảnh hưởng của cảm thức vào chính điều được nói về bản thể thực tại. Sự ấn định đó khiến cho cảm thức, với những gì có thể tạo dựng nên, mà ở cảm tưởng về bản thể thực tại sẽ là được hiểu khác đi những gì đang có. Khi mà chính sự ấn định đó không có được giải thích cho chính mình mà cần phải vin vào những điều kiện thiết yếu bất kì khác.
Mức tồn vong của bản thể thực tại được hiểu như là sự sống chết của thực tại, hiểu theo những điều hiển nhiên đang có về sự sinh tồn, có đáp ứng những mong mỏi, được kí gửi từ những thiết đặt liên thông khác không? Mang những hoạ đồ chính quy nhất của khả giải về mức tồn vong đến cho bản thể thực tại, thêm một lần nữa, hướng đến sự phân định trong thiên hướng vạch nên dự phần có ở mỗi tiềm tố không gian, chính mang những hệ quy chiếu khác nhau triệt để, đập vào bản thân thực tại, mang những gì được quy định trong từng bước ảnh hưởng của cảm thức đến bản thể thực tại này. Không có một bất cứ điều gì có thể được hiểu như điều gì trong tự thân nó có những tri thức mà chỉ mình nó hiểu được chính nó. Thực tại cũng như cảm thức, thời trường cũng như miên tục, tất cả đều đã in sâu trên những lằn ranh tương quan với nhau. Khi chính sự hiện hoạt của bất cứ điều gì cũng đều là phông vỡ dự phóng vào nhau trên một tổng thể, hiểu như một toàn phần.
3. QUY HỢP CẢM THỨC KHẢ KIẾN ĐỊNH HÌNH THỰC TẠI ĐA KHÔNG GIAN.
Diễn tiến tâm hệ bên trong chủ thể đề hướng về tổ chức cơ cấu cố định tương tranh với bản thân miên tục. Trong tâm hệ mọi sự đều là tương quan của những không trương. Không trương nào cũng là đối tượng mang diễn tiến bên trong chủ thể. Với sự đề hướng từ diễn tiến tâm hệ bên trong chủ thể, chính muốn nói với chúng ta rằng, sự linh hoạt trong mức độ biểu hiện của những hoạt động mỗi định phần có trong cảm thức, vì cảm thức đóng vai trò mấu chốt và căn bản của tâm hệ. Và chính diễn trình đó đề hướng về tổ chức, một tổ chức đặc biệt, không gì đặc biệt hơn tổ chức này, mà, sự quy mang tiếp chuẩn của nó hướng về một cơ cấu đầy huyền nhiệm. Cơ cấu cố định tương tranh với bản thân miên tục. Cơ cấu cố định này tương tranh với không gian cổ điển của vũ trụ cổ điển. Chính vì tương tranh này mà bắt buộc phải có sự xuất hiện của một dự phần bổ sung cho công cuộc tương tranh đó. Công cuộc tương tranh này mang những lộ trình được quy giản vào tính tồn hợp của không gian cổ điển ở vũ trụ cổ điển này. Tương tranh với bản thân miên tục, với miên tục ở đây không phải là miên tục của thời trường mà là miên tục của thực tại. Thực tại đó chính bằng không gian cổ điển của vũ trụ cổ điển. Diễn tiến trong tâm hệ sẽ đề xuất bên trong chủ thể hướng định nên tổ chức đó, đồng nghĩa với việc tự khẳng định vai trò của vai trò cảm thức đến tính hướng định cơ cấu tương tranh với bản thân miên tục. Muốn chỉ rõ hay định hình thực tại này là đa không gian, thì phải, trước hết, không gì hơn hết chính là làm rõ cơ cấu tương tranh đó được rõ ràng, ít nhất trong một chừng mực/mức độ nào đó là không còn tồn tại một điều gì bị coi như chưa được thông suốt. Cơ cấu cố định tương tranh với bản thân miên tục chính là nhắm đến khả năng tham vấn về sự hoài nghi với không gian cổ điển của vũ trụ cổ điển. Cơ cấu đó vạch nên một quỹ đạo mà giới hạn nó phổ biến ở những biên vùng khó có sự nắm bắt, nếu tính đến sự minh bạch, là chặt chẽ. Cơ cấu tương tranh với bản thân miên tục là điều kiện tất yếu để dẫn nhập vào tính chất mang định vị của không gian được tính đến với nghĩa không gian như nó là không gian tồn tại bên cạnh những gì được cho là không gian. Đa không gian được quy hợp chính từ cơ sở của cơ cấu tương tranh với bản thân miên tục.
Đi từ ý lực truy phục nên sự kiện đa không gian, chính bằng những hằng hữu tiếp biến bên trong cảm thức làm thành một cấp độ minh định hóa cho cuộc bảo toàn sự ấn định của ảnh tượng, tạo thành ý chí ngoại biên hoạch định nên tính ngẫu phát một cách thật sự rốt ráo. Sự kiện đa không gian được hình thành nên, bởi cảm thức, mà, nói cho chính xác, là bằng những hằng hữu tiếp biến bên trong cảm thức. Với sự kiện đó, được định hình thịnh hành như điều gì được xem là tồn hữu thì chí ít, nó cũng tồn hữu/hiện hoạt trong cái coi như đó là ý lực. Ý lực truy phục nên sự kiện đa không gian là nói đến khả năng hình thành nên một bức tranh đa không gian được quy chiếu. Và chính tiến trình truy phục nên sự kiện đa không gian chính bằng những hằng hữu tiếp biến bên trong cảm thức đó mà tự nó làm thành một cấp độ minh định hoá cho cuộc bảo toàn sự ấn định của ảnh tượng tạo thành ý chí ngoại biên. Đi từ ý lực đến ý chí ngoại biên đem lại trong cấp độ minh định hoá cho cuộc bảo toàn sự ấn định ảnh tượng, tiến trình mà ở đó, ta thấy rõ những khả quyết về hiệu lực truyền hưởng của cảm thức đối với những gì được cho là tiền minh sáng quyết trên bầu trời của những lằn ranh. Giới hạn có được cho là hay quy chiếu đến bất kể một điều gì mang tính phóng ngoại hoạch định nên ngẫu phát mà ngẫu phát đó, tồn tại một cách thật sự rốt ráo. Cái rốt ráo đó, ở đây, cho phép chúng ta hiểu rõ hơn, một cách sâu sắc phân định chủ thể tương ứng với mỗi không gian là khả nhiên nên bên trong bất kì một cứ lí nào vương vịn vào chính nó. Ý lực truy phục hay bất kể một điều gì cũng đều mang đến cứu cánh chỉ về đối tượng là cảm thức. Đặc biệt nhấn mạnh, ở đây, chính những hằng hữu tiếp biến bên trong cảm thức. Điều gì đó được cho là nó có bởi bất kể điều gì chỉ dẫn là tự bản thân nó có đều khả tất hữu cho những gì nó có và sự có đó luôn được có một cách đặc trưng và luôn đúng. Và bất kể điều gì đó cũng được nói là không thể không có từ chính điều được phán định là có hay sự có đó có thể nói là không thể bị phủ định dù bất cứ một sự phanh phui nào diễn tả về nó – tức sự có đó chứa đựng tính hoài nghi tràn lan sự có đó chính bằng với lược đồ đa không gian của thực tại tự tồn này.
Lược đồ mang những kích động tiết điệu cho họa đồ đa không gian chỉ có thể xuất phát từ tính phù ứng của cảm thức thiết tạo nên mà thôi, cũng như diễn tiến của triền miên ở thời trường luôn được đặt định bởi không trương sơ nhiên trong chính bản thân cảm thức của bản thể - hữu tại thể. Nói thế nhằm chỉ ra cứu cánh về thực tại đa không gian, không gì khác, chính điều đó là điều cần phải chứng tỏ ở đây. Hoạ đồ đa không gian chính là viễn cảnh cần nhấn mạnh rằng, đa không gian chính chất cho thực tại này. Lược đồ mang những kích động tiết điệu cho hoạ đồ đa không gian, đa không gian mang viễn cảnh mà viễn cảnh đó có sự kích động tiết điệu tính kích động tiết điệu, đó chỉ có thể xuất phát từ tính phù ứng của cảm thức thiết tạo nên. Tính phù ứng của cảm thức hỗ trợ đắc lực cho công cuộc thẩm định nên sự kích động tiết điệu hoạ đồ đa không gian. Tính phù ứng của cảm thức thiết tạo nên lược đồ mang những kích động tiết điệu là ý chỉ cho mức tương trợ của cảm thức được thuần thục hoá. Và rằng diễn tiến ở thời trường luôn đặc trưng bởi không trương sơ nhiên là đặc trưng mà ở đó là nguyên uỷ. Nguyên uỷ đó tồn hữu trong chính bản thân cảm thức, trong cảm thức, đặc trưng nguyên uỷ xuất phát từ trực tính bản thể - hữu tại thể, nghĩa là có sự vay mượn ở thực tại. Nguyên uỷ đó mang cung cách sơ nhiên như chính nó muốn tự nó khẳng định về định tính của bản thân hữu tại thể. Hữu tại thể phát xuất và làm nên một tường minh thông diễn cho hoạ đồ đa không gian mà định tính, được nhắc đến, ở đây, mang sự chỉ dẫn không thể thua kém đối với bất kì một điều gì được cho là đem đến thoát li trong nguyên uỷ thuần thành, sở đắc nên nguyên uỷ đó chính bằng với tính phù ứng của cảm thức hướng định đến sơ nhiên cho bản thân thực tại. Bất kể một điều gì cũng có thể là sâu mọt, nếu không tính riêng là cuộc đổ bộ của một trường hợp đặc thù nào, thì cũng có thể nói, như là, chính nguyên uỷ đó luôn xuất phát từ tính phù ứng của cảm thức. Tiết điệu hoạ đồ đa không gian mở ra với chiều kích mang viễn tượng của tất cả điều gì được khơi gợi là thẳm sâu và miên trùng. Kể cả sự gia tăng không ngừng cho một định tố phóng xuất đối với chính bản thân không gian.
Gia tăng đó mang nhưng gia bội hóa nào của không gian cũng đều là những tiến trình thôi thúc sự tựu thành cho tâm hệ toàn ảnh. Gia bội nào của không gian nghĩa là sự nhân đôi gấp bội lần cho việc khải lộ không gian. Gia bội hoá không gian là ý muốn khẳng định sự có đó của rất nhiều không gian, mà trong một khả năng nào đó, có thể là vô cùng không gian. Gia bội đó, bất kì một sự gia bội nào, cũng đều là những tiến trình thôi thúc cho sự tựu thành của tâm hệ toàn ảnh. Tâm hệ toàn ảnh là tâm hệ đặt dưới sự cường sát của sức mạnh cảm thức hướng định đến một cách mạnh mẽ nhất. Tâm hệ toàn ảnh là sự cố kết mà đối với một sự bất khả quy nào cũng bị cho là ngoại đạo. Sự tựu thành cho tâm hệ toàn ảnh viện dẫn rằng, một sự sung túc viên mãn sẽ được giành cho tâm hệ dưới cuộc hướng dẫn của cảm thức. Thông suốt của cảm thức đặt để vào tâm hệ với mong muốn sự định liệu cho mọi tái hợp có quy chiếu đều đồng bộ một cách khả quy. Bất kể một sự gia bội nào cũng đồng nghĩa với việc phân định sự khả quyết đó thành những biên vùng không có sự dính dáng tái tổ hợp ngược lại. Dù gì đi nữa thì bất kể khi nào tâm hệ toàn ảnh nhập cuộc với mong muốn chiếm hữu kể cả bất kì một biên độ thực tế nào quy cho nó là không khả hữu thì sự dù gì đó đồng nghĩa với tiến trình thôi thúc cho chính tâm hệ toàn ảnh. Không gian được giả cấu trong tiến trình thôi thúc đó, nên gia bội hoá nào của không gian cũng đều là tiến trình thôi thúc một sự tư suy chính đáng và khả giải, chứ không thể không là gì khác đi. Một điều gì tư suy đó nghĩ đến như khả giải thì dù là khả hữu cũng sẽ luôn có lợi cho tiến trình thôi thúc. Tiến trình thôi thúc là khả giải/khả hữu cho sự khả hữu/khả giải đối với tâm hệ toàn ảnh trong quy chuẩn gia bội hoá bất kì một không gian nào. Sự tựu thành như việc mà khi chúng ta nghĩ đến điều gì đó được viên mãn, sự tích luỹ đến độ chín muồi. Vì tựu thành cho nên điều kiện đó là chỉ cốt việc bảo lưu mọi sự phục táng đối với gia bội hoá một không gian bất kì. Khi gia bội hoá được thôi thúc tái lập đi, tức là thực hiện như một tiến trình đồng chuẩn thì gia bội hoá cũng đồng nghĩa với những gì là hằng hữu của không gian.
Biểu lộ tính hằng hữu của đa không gian là bước phát xuất phóng trợ cho cảm thức hồn nhiên. Cảm thức hồn nhiên là cảm thức được hiển trình như là cảm thức nguyên thủy, cảm thức tự nó có để hiện hoạt cho chính nó. Tính hằng hữu của không gian là hưởng cảnh mà cảm thức hướng đến, chí ít, cũng đủ để tìm về điều gì đó nguyên thủy. Không một đòi hỏi gì đâu mà ta lại xem nó là không có nguồn gốc, mà sự thẩm tra là quy tắc cho mọi diễn giải, nhằm làm cho nó được sáng tỏ. Khi bất cứ cái gì được thẩm tra để được hiểu như những gì sẽ được sáng tỏ thì mỗi điều kiện nào cho quy tắc thẩm tra cũng mang tính đồng bộ cho mọi công cuộc biến chuyển đối với bất kì một điều gì có thể nhiều hơn thế. Và dù rằng, nếu có một bất kì điều gì đó cho mọi công cuộc biến chuyển thì biểu lộ tính hằng hữu của đa không gian cũng đều tương trợ cho chính công cuộc đó, không xê lệch ra khỏi mọi biểu hiện từ tính đối tượng tương thích đó. Bằng việc biểu lộ cho hằng hữu tính đa không gian thì phóng trợ phát xuất dĩ nhiên sẽ là khả nhiễm cho một cảm thức hồn nhiên mang tính nguyên thủy tự tồn. Bước phát xuất phóng trợ đó đề hướng, và ta cũng có thể gọi là định hướng lại/về cho một khả tất tính đối với đa không gian mang biểu lộ tính hằng hữu. Bất kì điều gì là minh bạch thì cũng khả hữu cho một sự minh bạch có khoảng trống. Quy hợp nên hệ hình đa không gian không thể nói rằng vì nói như thế là không đúng đắn, đến việc đệ trình ra một nguyên tắc của cái nhìn đa nguyên về phía thế giới. Mà quy hợp nên hệ hình đa không gian chính là hủy thiêng cho bất kì một thuần túy nào đó là diễn giải mang tính quy tắc. Quy hợp hệ hình đa không gian vì thế là điều cần thiết cho một mục đích chung cuộc đối với sự chống đối/chỉ trích về bất kì một sự thể tuyệt đối được mọi cứ lí vin vào đó tạo nên những hệ hình, hay hành động đó ngang bằng với sự giải thể tất cả những điều gì đó là chung cuộc cho mọi diễn giải có cơ sở để diễn giải và điều đó cũng không loại trừ cho việc hòai nghi về hệ hình đa không gian từ đó tạo nên một cơ sở cho những diễn giải khác là điều kiện hòai nghi cần thiết. Bởi sự hòai nghi đó mang mục đích đúng đắn với tinh thần chống nền tảng diễn giải mang những cơ sở hệ hình đóng vai trò làm nền móng.
Để làm rõ hơn điều ấy chúng ta sẽ lấy trong biểu hiện đáng để xem xét nhất. Hoài niệm là sự kiện mang bản chất hành động bắt giữ và xác lập nên vô số tiếp diễn không gian đang vây quanh thế tính cảm thức nơi chủ thể. Tưởng nhớ về quá khứ như định liệu cho khả năng tồn vong của hòai niệm được sáng rõ. Hòai niệm mang những tâm tưởng dự phóng về phía quá khứ. Quy hồi quá khứ như một tiến trình được thực hiện/đóng vai trò của hòai niệm xác lập nên. Hòai niệm quy về với phân vùng của những gì đã qua mà nay đã không còn, ngay khi chúng ta đọc đến đây, thì tất cả những gì đựoc viết ra trước đó đã trở thành quá khứ. Cho dù liên tưởng được tái tạo trong đầu óc của chúng ta thì cũng không có cứ lí nào phủ định được điều đó vì chúng ta đã mất đi một lượng thời gian cho việc đọc những dòng chữ này. Trở lại, hòai niệm là sự kiện, nói rằng, sự kiện đó mang bản chất hành động bắt giữ và tái lập nên vô số không gian đang tiếp diễn vây quanh thế tính cảm thức nơi chủ thể được hiểu như sự bắt giữ và xác lập đó là hòan tòan được khả nhiên. Ở đây thêm một lần nữa cảm thức đóng vai trò là tiềm tố cho mọi biểu hiện liên quan đến sự kiện đa không gian. Hòai niệm trở về và trở về trong nhiều cách trở về trong nhiều cách trở về với quá khứ. Hòai niệm thật sự không khi nào không tất định trong một cố định đối với việc xác lập nên lộ trình hồi chung về với những gì đã qua. Cách tái thiết không gian mà nay đã không còn nằm trong vố số những xác suất khả năng xảy ra đối với sự xác lập và bắt giữ của hòai niệm. Hòai niệm định hình trong một giả cấu mà ở đó bất kì một giả cấu nào cũng có thể được hình dung ra nhưng việc hình dung đó, chúng ta, ít nhất rằng, và đừng nên lầm tưởng, và cho đó, là, tưởng tượng. Hòai niệm, như đã nói, chứa đựng hướng trình hồi quy về quá khứ, nó nghĩ về trong một giả cấu chứ không phải đặt trong một hư cấu. Giả cấu nghĩa là đã có điều gì đó tương ứng với nó là thật, nhưng điều đó đã qua, nên, quy hồi về đó được thực tế trong một giả cấu là hòan tòan lặp lại để phân biệt hòai niệm với tưởng tượng là giống nhau. Từ một độ lùi để phân biệt hoài niệm với tưởng tượng là không giống nhau. Từ một độ lùi vào dĩ vãng chúng ta có một cơ sở cho hệ hình đa không gian thì phóng vọt vào tương lai bằng ước vọng hiển nhiên cũng sẽ là một túc lí hữu ích.
Ước vọng mang tính tức thời khai triển nên bên trong bản thân không gian cổ điển những sự thụ nạp phi luận lí. Ước vọng là triển thời về một phân vùng bên trong bản thân không gian cổ điển những chiều kích của rất nhiều biên vùng không gian khác nhau. Bên trong bản thân không gian cổ điển, để hiểu chúng bằng ước vọng/thông qua ước vọng chính là nhắm đến một tức thời khải triển về một hệ hình đa không gian. Do đó, diễn giải có thể đúng/sáng tỏ/hợp lí ở không gian này lại hòan tòan không đúng/không sáng tỏ/không hợp lí đối với những không gian khác. Cho nên ước vọng là tức thời khai triển nên sự thụ nạp phi luận lí.
Ước vọng là viễn trình vào tương lai mang tất cả dự phóng về những điều gì đó có thể có cho chủ thể. Ước vọng như hướng định vào bộn bề của thực tế mà biên vùng nào cũng có một sự tự trị hẳn hoi để rồi dành cho ước vọng, chỉ còn quyền là tự lựa chọn, ước vọng khoan khóai khi giải quyết được điều gì đó sẽ là mang/bao chứa hệ quả mà nó có thể ẵm trọn cho mình. Ước vọng trước hết/đầu tiên mang khuynh hướng cho những ảnh tượng bất kì nào trong bất kì cách hiểu về sự bất kì có thể xảy ra. Ước vọng chỉ đuối sức trong nhưng khai triển cố gắng hướng đến điều gì đó được coi là mang tính chủ động tất định. Bất kể một phân lập mang tính giới hạn nào cũng đều căn cứ của ước vọng nhắm về phía tương lai nếu như giới hạn đó nằm về phía tương lai.
Ước vọng là tất cả điều gì có thể xảy ra về phía không gian cổ điển trong tương lai cũng như đặt vào đó một dấu giá trị tuyệt đối cho ước vọng để tự nó trở thành hòai niệm khi mang giá trị đối xứng. Ước vọng bằng với hòai niệm là hai khả hữu túc lí cho hệ hình đa không gian được sáng tỏ một cách có cơ sở hơn. Tất cả đều nằm trong tính lựa chọn của chủ thể như cách mà tôi có quyền đứng ngắm thế giới ở vị trí nào mà tôi có thể tự chọn cho tôi. Quy hợp đa không gian luôn cần đến một cơ sở túc lí và ước vọng – hòai niệm là bộ đôi túc lí hòan tòan hợp lí. Nhằm vào việc khả nhiễm cho tòan thể thực tại mang hệ hình đa không gian để tư suy trở nên có ý nghĩa hơn trong từng dòng suy tư của mỗi một con người.
Uốn nắn dòng suy tư, cảm thức len lỏi trong suốt quá trình vận hành lý tính sẽ không bao giờ thật sự mang tính không hợp lí, bởi bản thể thực tại là liên tải của những không gian chồng chéo vào nhau. Và ngay chính cả bản thể thực tại cũng chồng chéo vào quá trình vận hành lý tính đó như điều gì hiển nhiên. Cảm thức len lỏi trong suốt quá trình vận hành lý tính, vì cảm thức bị điều phối bởi tâm hệ, cho dù cảm thức được thôi thúc mạnh mẽ bởi những gì mang nền tảng của cảm tính nhưng sự len lỏi của nó luôn được diễn ra trong quá trình vận hành lý tính. Và sự len lỏi được nói đến đó, được phán rằng, nó không thật sự không mang tính hợp lí. Chồng chéo không gian được hiểu rằng khả năng xuất phát từ trên một tòan ảnh mà mọi phân vùng đều có sự tương tác với nhau. Tương tác chứ không phải tương quan. Tương tác cho nên mọi sự định liệu để cho rằng cảm thức trên phân vùng của lý tính cũng được xem là hòan tòan hợp lí. Bởi nếu không hợp lí thì hệ hình đa không gian được nói đến sẽ không khả quy.
Tính tồn hữu đó của cảm thức được gia công mạnh mẽ, chưa bao giờ thật sự ngưng nghỉ cho mọi tính tóan, dự liệu đến sự bổ sung cho những gì mang tiếng là hư danh. Tôi có thể không là gì đi nữa nhưng nói không tôi cũng đều là gì đó không thể không coi là không là gì đi nữa. Cho nên nói như khi mà cảm thức len lỏi để trình xuất cho bản thể thực tại một quy hợp đa không gian thì cũng không vì thế mà nói rằng, nó không thể không được đảm bảo.
Bản thể thực tại là liên tải của những không gian chồng chéo vào nhau, một lần nữa chứng lý/bổ túc cho hệ hình đa không gian được vững chắc với cái nhìn khả nhiên.
Không một dối lừa nào được nói ra từ kẻ nói dối mà lời nói dối đó lại không mang một điều gì coi như đó xuất phát một mặc cảm có tội thì lời nói của kẻ nói dối dĩ nhiên là không đáng tin nhưng chính vì thế mà những gì liên quan đều được để mắt cho cái nhìn thiếu thiện cảm là thật sự không đúng đắn. Một khi sự để mắt đó được đặt vào trường hợp của sự chồng chéo như trên thì quy xét bởi nghĩa lí nào cũng đều là một quy chiếu có thẩm định chung cuộc, chung cuộc là điều đáng để nói, mang tính bắt buộc, bắt buộc một cách chặt chẽ.
Tác động chung của những miền không gian khi chúng ta thực hiện hành động quét ảnh tượng hiện xung qua vùng không gian chính quy ở vũ trụ cổ điển, thì chính hành động đó tương đương với hành động trừu xuất ra khỏi hợp cảnh đương diễn ở vũ trụ cổ điển này, ngay đây, mà trên một góc độ nào đó suy xét về các đương lượng khả dĩ của những chiều không gian mở ra, như là một tác động của những hành động trí năng tác động vào bên trong bản chất của vũ trụ cổ điển này, để vạch ra một cách triệt để nhất những phần không gian mà chúng ta muốn nói đến. Ảnh tượng hiện xung là ảnh tượng được ấn kí tường minh vào thời trường với sự ưu trương quá vãng và không trương cảm thức đến độ thuần thục nhất cho mọi quy biến. Quét ảnh tượng hiện xung là thực hiện sự phân lập nên khả năng ấn kí đó được linh hoạt hơn trong từng biểu hiện, thật sự rõ ràng, ở cảm thức. Hành động đó được thực hiện thông qua sự quét trên không gian chính quy ở vũ trụ cổ điển – vũ trụ thường hữu này. Thì chính hành động đó, tương đương với hành động trừu xuất khỏi hợp cảnh đương diễn ở vũ trụ cổ điển này. Nghĩa là sự trang bị cho những đối ngẫu, phục táng trong hành động quét đó, chính những ảnh tượng hiện xung sẽ mang tính điều phối đến với những chiều không gian, được mở ra, tương đương với tác động trí năng của chủ thể tác động vào bên trong bản chất của vũ trụ cổ điển này. Những miền không gian, được nói đến, mang sự trang bị là khả quy, thì chính hành động trí năng sẽ khả giải cho sự chính quy được/muốn nói đến là khả quy một cách rành mạch và sáng sủa. Hợp cảnh đương diễn ở vũ trụ cổ điển này là trừu xuất của những bờ thửa không gian có thể được nhắc đến trong khi hành động của trí năng hướng định trên lộ trình tư suy của chủ thể. Trừu xuất ra khỏi hợp cảnh đương diễn ở vũ trụ cổ điển, chính là sự tái lập cho những phân bổ ngoạn mục vào các không gian được điều động một cách giản quy nhất. Được điều động đó, thì chính hành động trừu xuất sẽ luôn đứng vững, nên một định cảnh chi phối toàn bộ phân vùng của những gì nói đến, cho về một không gian bất kì nào. Trừu xuất ra khỏi vùng không gian chính quy vũ trụ cổ điển, không gì khác, hẳn nhiên, là hành động, một hành động mang tính tác động, đến/về, sự có mặt của những biến cố sự kiện.
Đối với dự phần của cảm thức trong tính ngoại biên của ý hướng tính về thời trường, thì mọi biến cố sự kiện diễn ra đằng sau nó đồng nghĩa với việc bảo đảm rằng tự trong bản thân mỗi biến cố sự kiện đó in sâu một lằn ranh giới hạn của cảm thức nơi chủ thể. Nghĩa là mỗi biến cố sự kiện được diễn ra trong tính ngoại biên ý hướng tính về thời trường, sẽ đồng nghĩa với chính khả năng của cảm thức hạn định trên chủ thể. Dự phần của cảm thức trong tính ngoại biên của ý hướng tính về thời trường, chính là quy giản cho một sự chờ đợi từ chính bản thân cảm thức, mang đến những tác động hồi quy cho ngoại biên ý hướng tính về thời trường. Tính ngoại biên ý hướng tính, nhằm vào sự chỉ định cho một khả tức thời, về mỗi biến cố sự kiện được diễn ra bởi/trong nó. Đi từ một sự kiện/biến cố đơn giản ta cũng có thể thẩm tra về ngoại biên ý hướng tính về phía thời trường, là như thế nào. Bất kể một hạn định nào của cảm thức trong chủ thể cũng bảo tồn những dự phần, của cảm thức, trong tính ngoại biên về ý hướng tính đến thời trường.
Mọi biến cố sự kiện diễn ra đằng sau nó – chỉ ngoại biên ý hướng tính, và chỉ có ở ngoại biên, mới không tính đến những tác động gì khác, được nhắc đến hay nhiều nhất, có thể, là lấp đầy đi, tính biểu hiện của sự thẩm định vững chắc cho ý hướng tính về thời trường, phân lập của những nguyên tắc mang tính chú giải, cho biên độ hạn định cảm thức nơi chủ thể. Chủ thể hiện hoạt với sự tự trị, nhưng một khi, tính đến sự tồn tại của mỗi biến cố sự kiện, diễn ra đằng sau ngoại biên ý hướng tính về thời trường, thì sự tự trị đó là đồng nguyên, trên một tổ hợp chung quy. Cứ lí nào về mọi diễn giải, cũng đều xâu chuỗi nên bên trong tính ngoại biên ý hướng tính đó. Không một chút gì diễn ra đằng sau mỗi biến cố sự kiện, mà lại không tính đến sự vây hãm của những nguyên chủng thứ tính gieo rắc nào đó, cho khải thị có thêm nhiều màu sắc đặc thù. Chính vì thế, cho nên, ảnh tượng khó có thể được quy hồi vì chính tác động của mỗi biến cố sự kiện, hay ít ra, là cảm thức có được tiềm tố quy hợp khả nhiên, định hình một cách nhìn về chủ thể được thông suốt.
Định hình đó thực sự rõ ràng khi và chỉ khi nó được nhìn nhận là thông qua ảnh tượng triền miên không khi nào được quy hồi một cách khả giải cho dàn nạp công phu nhất, với sự điều động cho công cuộc hướng đến mức độ kiện toàn bởi sự chi phối được tạo ra từ chính bản thân cảm thức, mà chính bằng với những hành động tương tự ta có thể mang sự minh định quy chiếu thực hữu đó làm nên cuộc biến chuyển một cách đầy đủ nhất với mức độ không khi nào là tối thiểu cho sự lo lắng của chủ thể trước mức ứng biến khơi động nên những tha thể tự tạo thành hành động quảng diễn trước vô số những mối lo toan xuất phát từ chính bản thân chủ thể, mà có và chỉ có thể cảm thức mới lại là luôn luôn có được định lực hằng hữu tiền minh làm nên cuộc biến chuyển vĩ đại cho công cuộc tiến đến cái khả nhiên của thực tại tự tồn này.
Thực tại đó chính là thực tại đa không gian qua cái nhìn của chủ thể về những khả năng tồn tại của những chủ thể khác nó. Tương ứng khi cái nhìn đến thực tại mà mỗi chủ thể nhìn về chính những thực tại bao chứa đó, định hình nên một thực tại đa không gian. Thực tại đa không gian là thực tại của vô cùng những chủ thể. Những chủ thể khả năng. Chính vì thế mà sự minh định quy chiếu thực hữu đó làm nên cuộc biến chuyển vĩ đại. Khi nó – chủ thể không thể không lo nghĩ tới sự tồn vong của mình. Chỉ có quy hợp cảm thức mới định hình nên một thực tại đa không gian khả kiến. Quy hợp cảm thức điều động cho công cuộc hướng đến một mức độ kiện toàn. Cái khả nhiên của thực tại tự tồn này là khả nhiên cho một thực tại, và rằng, thực tại đó, chính không là gì khác, thực tại đa không gian. Thực tại đa không gian là khả nhiên cuộc biến chuyển vĩ đại, một cuộc biến chuyển của những phân trùng quảng diễn trước vô số những tính đặc thù do khả năng cộng hưởng chính nó. Thực tại mà khi nghĩ về nó qua chủ thể để biết đến những khả năng của chính chủ thể là sẽ đề hướng về một thực tại đa không gian. Định hình thực tại đa không gian là minh chứng cho bản thể thực tại tự tồn, không gì khác hơn, là thực tại đa không gian. Tính chất của nó sẽ hướng đến nhiều sự phân lãnh của một “thực tại đa tầng” (les réalités multiples)*, hay ít nhất ra, nó cũng như là một tự tồn của những “mê cung trùng mộng” (le labyrinthe des rêves superposés)* [*- Remo Bodei, Triết học thế kỉ XX, Phan Quang Định biên dịch, NXB Thời Đại, 2011, trang 206].
Phạm Tấn Xuân Cao
2013
http://www.gio-o.com/PhamTanXuanCao.html