TN MN
B�N T�CH C� PH�

 

Nguyễn Xu�n Thiệp

 

Lệ Đ

 

�Đất đ� ong kh� nhiều ngấn lệ

Em c� bao giờ lệ chứa chan��

C�u thơ Quang Dũng đ� n�i l�n một điều: Đ� cũng biết đau, biết kh�c trước những đoạn trường của con người. Th�nh ra lời B� Huyện Thanh Quan� viết khi đứng trước nỗi hoang phế tịch li�u của Thăng Long Th�nh, theo Nguyễn t�i nghĩ, chưa được m�n � lắm: �Đ� vẫn trơ gan c�ng tuế nguyệt / Nước c�n cau mặt với tang thương�. Kh�ng, n�i như thế l� chưa hiểu l�ng gỗ đ�. Nguyễn t�i, một chiều n�o k�o gỗ, vớt sỏi v� c�t b�n bờ s�ng Giăng ở Nghệ Tĩnh, nghĩ tới hiện kiếp bị v�i dập trong cơn gi�ng lịch sử, c� thốt l�n những lời sau đ�y: ��dưới trời xưa c� phai v�ng n�t đ� / giọt lệ n�o rơi trong chiều nay / ta x�t ta th�n d� tr�ng xe c�t / biển đ�ng s�ng dội x� bờ / nỗi oan khi�n một thời kh�ng b�ng vang / mắt gỗ v�ng v� mắt ta qua thế kỷ / đ� thấy vết ch�m in những mặt người��. V� c�n biết bao lời thơ chất chứa nỗi niềm, như "đất đ� ong kh� nhiều ngấn lệ�" V� rồi �Đ�i khi anh muốn tin, đ�i khi anh muốn tin... / �i những người, �i những người kh�c lẻ loi một m�nh / Đau đớn lệ l� những vi�n đ� xanh / Tim rũ rượi... �" (Lệ đ� xanh, thơ Thanh T�m Tuyền) cũng l� những trải nghiệm qua c�i đ� v�ng. V�ng, trước những nỗi tang thương, thi�n bi kịch nhiều chương nhiều đoạn b�y giờ, đ� cũng đau l�ng, nhỏ lệ. Lệ đ�, hay lệ đ� xanh, l� thế, n� l� một sự thực -hiểu v� nh�n theo c�ch n�o đ�.

���

Hỏi đ� xanh r�u bao nhi�u tuổi rồi / hỏi nắng phi�u du qua bao đỉnh trời / hỏi �i �n xưa đ�n v�ng h�o hắt / �i �n b�y giờ l� nước mắt / cuối hồn một tho�ng nhớ mong manh... Ai, người đ�i trang n�o dưới bầu trời đ�m mưa v� sấm, như đ�m n�o chiến tranh đ� xa, đ� đọc cho Nguyễn t�i nghe. Những c�u hỏi dồn dập kh�ng cần lời giải đ�p. V� đ� l� ca từ của b�i Lệ Đ� do H� Huyền Chi viết cho một b�i nhạc của Trần Trịnh năm n�o. Cũng l� lệ đ�

�� V�ng. Hay như Đ� Xanh, h�a th�n của một mối t�nh tan vỡ trong nhạc L� Uy�n Phương:

rồi

ng�y xanh ng�y xanh qua nhanh

rồi ng�y xanh qua nhanh

ng�y h� đ� nứt kh� tr�n m�i c�n lại tiếc th�i

như vi�n đ� lưng mềm vuốt ve t�nh nh�n

nu�i mộng ước l�u bền

nhưng vi�n đ� nay th�nh đ� xanh thủy chung

đ� rơi dọc sườn cao lưng đồi

ng�y ng�y đợi chết trong l�m c�y u uất

ng�y ng�y nằm nhớ �n t�nh s�u mu�n đời

đ� kh�ng đổi dời

t�nh,

t�nh ơi

t�nh ơi m�nh m�ng

t�nh, t�nh ơi m�nh m�ng

d�ng lệ n�ng đ� tr�i trong tim

c�n lại x�t xa

như vi�n đ� lưng tr�ng mắt quan t�i tươi

�i mộng đ� tan rồi như vi�n đ� nay th�nh đ� tr�n mộ bia

đ� im l�m ng�n thu r�u mờ

người t�nh giờ đ� qu�n t�nh s�u xa vắng

�� T�nh y�u của một m�a h� rực rỡ nay đ� biến th�nh c�i chết. Như vi�n đ� trong l�ng suối th�nh đ� tr�n mộ bia. Cũng l� lệ đ�, nhưng đ�y l� lệ của một t�nh y�u xưa. N� kh�ng phải l� điều Nguyễn t�i muốn n�i ở thời khắc n�y. Đ� gần hai giờ s�ng rồi. Trăng soi tr�n thềm đ� ẩm. Ngồi cầm b�t (�, qu�n, g� phiếm c�m-pu-tờ) viết những d�ng n�y, trong l�c tr� �c nghĩ tới những điều, cũng nằm trong thế giới người, nhưng lại li�n quan tới những vật v� tri ở chung quanh -v� tri, nhưng nhờ mắt nh�n của thi sĩ chạm tới m� bỗng nhi�n c� một linh hồn, biết x�t thương v� rơi lệ. Những con mắt gỗ nh�n qua thi�n trường kịch của đời người, những ngọn đ�n ủ � thở than cho th�n phận những o ngh�o, v� những phiến đ� rơi lệ trong buổi chiều tiễn đưa một người về nơi c�i gi�...

�� V�, kể từ khi đ� biết đau... Hừm, đ�y c� phải l� thơ m�nh kh�ng, hay một lời m� sảng n�o đ�? Nhưng, đ�ng l� vậy. Chuyện kể: �t l�u sau khi bức tường Berlin bị ph� sập, c� một c� b� leo l�n những bậc thang của t�a nh� Quốc Hội nước Cộng H�a D�n Chủ Đức cũ, lần theo mấy c�y cột, lấy tay sờ l�n những vết đạn của cuộc Thế Chiến Thứ Hai c�n s�t lại tr�n những phiến đ�. Được hỏi, c� b� trả lời "Em đang hỏi chuyện những phiến đ� n�y!" V� c� b� n�i tiếp: "Em hỏi đ� l� bị nhiều vết đạn như thế n�y, đ� c� đau kh�ng? Đ� kh�ng trả lời. Nhưng đ� đ� kể cho em nghe những g� đ� đ� chứng kiến trong chiến tranh, l�c em chưa sinh ra, với bao nhi�u người chết, bao nhi�u đ� gạch đ� đổ vỡ, v� đ� đ� kh�c...". L�c đ�, ai cũng nghĩ c� b� giầu �c tưởng tượng. Nhưng về sau, người ta mới thấm th�a. Trong một x� hội v� nh�n t�nh, như x� hội Đức Quốc X� hay x� hội Cộng Sản, con người đối xử với con người chẳng kh�c lo�i lang s�i cắn, x� nhau. Khiến gỗ đ� cũng phải đau l�ng, như lời c� b� đ� n�i.

�� Kể từ khi đ� biết đau. Ch�ng ta lại nghĩ đến những tấm bia tr�n hai h�n đảo Bidong v� Galang. Một tấm ghi h�ng chữ n�i đến thảm cảnh thuyền nh�n đ� v�i th�y nơi "thủy mộ quan" (từ của Vi�n Linh) trong những chuyến h�nh tr�nh tả tơi đi t�m ch�n trời mới. Người ta đọc thấy: "Tưởng niệm h�ng trăm ng�n người VN đ� bỏ m�nh tr�n đường t�m tự do (từ 1975 đến 1996). Cho d� họ chết v� đ�i v� kh�t hay bị h�m hiếp, hoặc v� kiệt sức hay v� bất cứ l� do n�o kh�c, ch�ng ta cầu nguyện linh hồn họ giờ đ�y được hưởng ph�c nơi an b�nh vĩnh cửu". Trong khi tấm bia ở đảo Bidong th� b�y tỏ l�ng biết ơn ch�nh phủ M� Lai v� Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ đ� cứu vớt, cưu mang những người vượt biển c�ch đ�y mấy chục năm. Cả hai tấm bia mới được dựng l�n hồi th�ng 3 năm 2005 khi c�c cựu thuyền nh�n, nay đ� định cư y�n ổn ở Hoa Kỳ v� Canada, trở về đảo xưa ghi lại dấu t�ch tưởng nhớ tới những bạn đồng h�nh xấu số. Như thế đ�, hai tấm bia ở Bidong v� Galang ho�n to�n mang � nghĩa tưởng niệm v� đầy tinh thần nh�n bản. Vậy m� những anh em ta trong đảng đang cai trị đất nước b�y giờ đ� kh�ng để y�n. Được biết tấm bia tưởng niệm thuyền nh�n được đặt tại Paulau Bidong v�o th�ng 3.2005, đ� bị ch�nh quyền sở tại ph� bỏ v�o ng�y 20 th�ng 10. 2005, do đại sứ Việt Nam vận động triệt hạ. Đ�y l� lần thứ hai họ đ� d�ng tới hạ s�ch để �p lực c�c quốc gia sở tại đục bỏ những tấm bia tưởng niệm thuyền nh�n. Trước đ�, v�o cuối th�ng 5. 2005, tấm bia ở Paulau Galang, Indonesia, cũng đ� bị ph� bỏ.

�� Nhẫn t�m đến như thế hỏi l�m sao đ� kh�ng đau l�ng, nhỏ lệ. R� r�ng chỉ c� kẻ �c mới nu�i l�ng th� hận đối với những người đ� chết c�ch đ�y ba chục năm.� Hay b�n tay ai đ� muốn x�a vết t�ch tội lỗi của họ đ� g�y ra, muốn thế giới qu�n đi thảm kịch thuyền nh�n, muốn thế hệ mai sau qu�n đi một thời của quỷ. Nhưng họ đ� lầm, thảm kịch thuyền nh�n Việt Nam đ� đi v�o lịch sử, m� những g� đ� thuộc v�o lịch sử th� kh�ng thể n�o x�a bỏ. �i, một h�m n�o Nguyễn l�n Internet nh�n thấy tấm bia đ� thuyền nh�n bị đập vỡ ở giữa m� tưởng chừng đ� kia cũng như tim người vỡ vậy.

 

�� V�, kể từ khi đ� biết đau� V�ng. Kh�ng cứ g� những những tảng đ� ong ở Sơn T�y Bất Bạt ng�y n�o, v� cũng kh�ng nhất thiết phải l� đ� tr�n bức tường B� Linh hay to� nh� Quốc Hội Cộng H�a D�n Chủ Đức, hoặc giả những tượng đ�i bia đ� ở Garlang, Bidong. Ở đ�y, Nguyễn muốn n�i tới những phiến đ� l�t tr�n h� phố S�i G�n. Bạn ơi, thanh xu�n ng�y ấy, Nguyễn v� bạn đ� chẳng hơn một lần g� bước tr�n những phiến đ� của đường Tự Do, Nguyễn Huệ, L� Lợi, L� Th�nh T�n sao� Những bước ch�n vui như tiếng hu�t s�o của một thời trước cả khi Nguy�n Sa viết S�i G�n ph�ng solex rất nhanh. Đ�ng như thế đ�, S�i G�n của t�i ng�y ấy. Cho tới khi xe tăng v� d�p r�u, n�n cối của bộ đội Cộng Sản v�o S�i G�n th� cuộc đời bỗng dưng lật sang một chương đoạn kh�c. Người với người chia tay, mưa dầm nắng qu�i, trẻ con xa lớp xa trường, những đ�i mắt đ�m đ�m hướng về cửa biển� V� mới đ�y khi g�t ch�n h�nh tiến của bọn thanh ni�n Trung Quốc trong cuộc rước đuốc ma quỷ dẵm xuống vỉa h� đường phố S�i G�n th� mọi suy nghĩ bỗng trở th�nh thứ dụ ng�n của cơn m� sảng. �i, nh� thơ ti�n tri khải thị, n�i g� đi chứ khi đ� cũng biết đau biết buồn trước cảnh� ngang tr�i của một thời. N�i g� đi chứ khi lời nguyền thuở n�o c�n ghi tr�n đ�, nỡ n�o l�ng qu�n:

Khi ta đi v� m�a xu�n đang lại

M�u ta ghi tr�n đ� đợi ta về?..*

 

*Thơ của một t�c giả qu�n t�n

 

 

Nguyn Xu�n Thip

http://www.gio-o.com/NguyenXuanThiep.html

 

�gio-o.com 2009