Tn mn

Bên tách cà phê

Nguyn Xuân Thip

Bên biển Destin,

đọc lại vài trang văn Vơ Đ́nh (1)

 

Mùa hè này, Nguyễn cùng với gia đ́nh lại về chơi vùng biển Destin, Florida. Đứng trên khách sạn nh́n ra, lại nhớ đến mấy câu thơ đă viết hồi năm rồi khi có Nguyên Nhi, Phạm Chi Lan, Nhật Hoàng, Đinh Yên Thảo ngồi uống rượu ở balcon, ngắm pháo bông đêm July 4 bay sáng ngời mặt biển. Ấy là thời gian tiền Thế Vận Hội Mùa Hè Bắc Kinh.

Chiều

destin

nghe chim biển kêu

và mưa rơi

mưa. rơi

trên ngọn trúc đào

 

ảo ảnh. ôi. cánh buồm lermentov

ngoài khơi xa

t́m b́nh yên trong băo tố

 

và đêm

đêm

anh nh́n pháo bông. rực sáng. đầy trời

thấy vạn lư trường thành trong mây

thấy con đường tơ lụa

thấy em là cánh chim bay ngang…

 

     Trở lại Destin lần này, chỉ có gia đ́nh, không có bằng hữu. Vẫn bờ cát trắng và nước biển xanh màu emerald ngọc bích. Vẫn con đường bờ biển với hoa trúc đào nở đỏ màu áo ai trong chiều. Vẫn những con diều giấy của trẻ bay lượn dưới trời. Và cánh buồm màu trắng ngoài khơi, xa. Và chim biển mà cháu Nguyệt Quỳnh cứ nhất định căi với ông là chim nhà.

   Trở lại Destin lần này, đặc biệt Nguyễn tôi có mang theo hai cuốn sách của Vơ Đ́nh. Lầu Xép với lời kư tặng của tác giả và Huyệt Tuyết. Ôi, Vơ Đ́nh vừa mới ra đi! Nguyễn với anh vốn là đồng hương. Có quen biết nhau nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Chị Trần Thị Lai Hồng -vợ của Vơ Đ́nh- cùng học ở Quốc Học ngày xưa, trên Nguyễn hai, ba lớp. Nhớ hồi năm 1999 đến Orlando, Florida để giới thiệu tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa vừa ấn hành, có hẹn với Vơ Đ́nh sẽ đến thăm anh chị, và Triều Hoa Đại đă hứa chở đi. Vơ Đ́nh nói sẽ cho ăn những món đặc biệt “cây nhà lá vườn”. Nhưng rồi Triều Hoa Đại ngại đường xa không đưa tới, làm anh Vơ Đ́nh giận cành hông. Không tới thăm Vơ Đ́nh được, Nguyễn tôi lấy làm tiếc lắm. Bây giờ anh không c̣n nữa, nh́n mây biển lớp lớp xây thành, ḷng không khỏi chạnh buồn.

   Dẫu không được như Đinh Cường, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc… thường xuyên lui tới viếng thăm, Nguyễn cũng có ḷng yêu mến và kính trọng Vơ Đ́nh. Ngoài t́nh đồng hương, Nguyễn t́m thấy ở anh những điểm hợp với ḿnh trong suy nghĩ và cách viết. Chẳng hạn cái tựa đề Xứ Sấm Sét của một tập truyện của anh. Nguyễn đă mượn cụm từ này để gọi xứ Texas nơi ḿnh ở bởi đây là một vùng thường xuyên có thunderstorm và đôi khi có báo động màu da cam về một trận tornado gào thét qua đồng cỏ. Hơn nữa, Oklahoma Texas Kansas Arkansas Mississippi… cùng nằm trên hành lang băo tố. Mặt khác, Vơ Đ́nh yêu cỏ cây, Nguyễn cũng vậy, nhưng Nguyễn không được như Vơ Đ́nh bỏ công chăm sóc và trồng cả một vườn cây xanh tốt. Cũng như Vơ Đ́nh, Nguyễn có kỷ niệm về một cây bàng và đặc biệt yêu bài văn Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh. Cây bàng của Nguyễn ở Vương Phủ, Vỹ Dạ và Nguyễn xa nó đă bốn mươi tám năm, có thể c̣n lâu hơn Vơ Đ́nh xa cây bàng của anh. Và có lẽ chẳng bao giờ Nguyễn tôi c̣n có cơ hội gặp lại nó trong đời. Sau đây là đoạn văn Vơ Đ́nh viết về cây bàng của anh:

   “Xe vừa rẽ vào đường hẻm, tôi đă nhận ra ngay cây bàng. Tức th́ nhớ lại “Nhặt Lá Bàng” của ông Nhất Linh. Như vậy là hơn bốn mươi năm rồi tôi mới lại thấy cây bàng. Nó đứng lơ láo  giữa khúc quẹo ngă ba của con hẻm nhỏ. Rễ trơ trụi, trồi lên mặt đất. Thân gầy g̣, cành xác xơ. Lá úa vàng. Trời nóng đổ mồ hôi hột nhưng tôi kịp nhớ ra rằng đang ở tháng chạp dương lịch, giữa mùa đông Sài G̣n.

   “Chuyến bay từ Singapore về đúng giờ. Nhưng cũng mất gần hai tiếng đồng hồ mới ra khỏi hải quan. Trên đường về nhà từ phi trường Tân Sơn Nhứt, tôi thấy một ngôi nhà lớn, mặt tiền căng biểu ngữ “Người Về Từ Ngh́n Trùng”. Người về từ ngh́n trùng thật. Tôi bàng hoàng xúc động trong niềm vui thấy mặt những người ruột thịt thân yêu. Tôi choáng váng trong nắng, gió và bụi Sài G̣n. Nhưng cây bàng trong hẻm đă cứu lấy tôi. Nó bốc tôi ra khỏi nỗi bàng hoàng, choáng váng đó. Nó làm tôi nhớ lại cái vị chua chua chát chát của những trái bàng c̣n xanh của thời thơ ấu.”(Chuyện Cây Bàng. Lầu Xép)

   Đơn sơ mà hay, phải không các bạn?  Và sau đây là một đoạn tả tuyết rơi trong một đêm ở miền gần núi:

   “Tin tức mười giờ tối báo trước rằng nửa đêm sẽ có tuyết lớn. Khi tắt đèn đi ngủ, đồng hồ chỉ quá mười hai giờ rưỡi. Thế nh́n ra trời vẫn chưa thấy tuyết. Tuyết chưa rơi nhưng chàng cảm thấy có sự khác thường. Không gian im ĺm, cỏ cây bất động, sững sờ. Từ xa, phía trên rừng, một tiếng hét đột ngột vang lên rồi tắt ngay. Thế tự nhủ, lại cái giống chim đêm kỳ quái, tiếng kêu ngắn, sắc, lanh lảnh như tiếng người.

   “Thế tỉnh giấc, nh́n đồng hồ dạ quang trên bàn nhỏ cạnh giường. Ba giờ sáng. Nghe có tiếng lao xao ŕ rào bên ngoài, đoán là tuyết đang rơi, rơi mạnh. Thế khẽ vén chăn, ngồi dậy, khuô chân kiếm dép, rón rén lần ra phía cửa sổ. Vườn sau đă trắng xóa. Mái nhà, thấp hơn từ mặt hậu nên dễ thấy, cũng trắng xóa. Cứ xét bề dày biết tuyết đă rơi mạnh liên tục, khá lâu. Thế nghĩ nếu cứ thế này th́ đến khi mặt trời lên, tuyết có thể dày tới ba bốn chục phân. Nghĩ vậy, chợt thấy lo lắng, nhưng thế không nghĩ tiếp, quay trở lại giường chui vào chăn. Vợ chàng ú ớ mấy tiếng khẽ, rồi thở đều, coi bộ ngủ say.” (Huyệt Tuyết)  

  Và một đoạn ngắn nữa, cực ngắn, rất nổi tiếng của Vơ Đ́nh, tả về sự phục sinh của hồi ức qua h́nh ảnh một vũng nước trên đường:

  "Không hiểu tại sao, tôi liên tưởng đến vũng nước mưa vẩn bùn ở chân thành cửa Thượng Tứ.  Vũng nước đă thuỷ chung không biến dạng, đă chờ đợi tôi suốt một phần tư thế kỷ, để hôm ấy, rất t́nh cờ, tôi dừng chân cúi xuống, và vũng nước nhỏ ngước lên chào đón một kẻ quy cố hương.” (Chiếc Ṿng)

   Hay khi anh tả cây chanh mà anh đă trồng trong chậu, giam nó trong nhà suốt hai mươi năm khiến nó héo hắt, bây giờ nó được đem ra trồng ngoài trời:

   “Tôi bước ra vườn sau thăm cây chanh lần nữa trước khi tắt đèn đi ngủ. Trăng sao vằng vặc. Tôi mân mê thật nhẹ mấy cái chồi non nhỏ xíu. Thế là cây chanh nó đă về đến nơi đáng ra nó đă trở về hơn hai mươi năm trước. Trên đầu có sao. Dưới chân có đất.

   “Tôi từng nghe nói: Không ai thương bằng cơm thương. Tôi nghĩ, thật ra, nên nói rằng: Không ai thương bằng trời đất thương.” (Cây Chanh)

   Chỉ mới đọc một vài đoạn ngắn cũng thấy được Vơ Đ́nh rất tinh tế trong cảm xúc, chữ nghĩa, viết lách. Tiếng Việt của anh, như Trương Vũ nói “… khi anh viết hay khi anh nói, nếu không biết không ai dám nghĩ rằng kể từ năm 17 tuổi cho đến quá tuổi tri thiên mệnh, cho đến những ngày cuối cùng, anh chỉ sống ở Việt Nam tổng cộng có vài tháng. Không phải chỉ hay thôi, nó đạt đến phần vi tế nhất của ngôn ngữ mà những nhà văn tài hoa và khó tánh nổi tiếng về cách dùng tiếng Việt cũng phải khâm phục.”

   Thật ra, Vơ Đ́nh yêu thơ văn và có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ. Lúc thiếu niên, anh đă chịu khó đóng một cuốn tập để chép thơ. Và anh là người chịu khó sưu tập, ǵn giữ những ấn phẩm thời xưa (in ở Hà Nội những năm 30-40). Nguyễn tôi tự thấy ḿnh cũng giống anh, thời nhỏ ở Vương Phủ đêm đêm cũng cặm cụi chong đèn dầu chép thơ, rồi những năm đi học cũng chịu khó sưu tầm những sách của Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả khác. Nhưng Nguyễn không làm được như Vơ Đ́nh là giữ những cuốn sách ấy cho đến bây giờ. Rồi trong những năm sống ở Pháp và ở Mỹ, Vơ Đ́nh cũng viết và theo dơi sinh hoạt văn học trong nước. Nghĩa là anh luôn sống trong không khí sách vở, chữ nghĩa, nghệ thuật của quê nhà. Là người yêu văn chương từ nhỏ, có tâm hồn, giàu xúc cảm, uyên bác, Vơ Đ́nh viết văn hay là phải.

(c̣n tiếp)

NXT

 

 

 

 

Tn mn

Bên tách cà phê

Nguyn Xuân Thip

Bên biển Destin,

tiếp tục đọc văn Vơ Đ́nh (2)

 

Những ngày ở băi biễn Destin, ngoài thời gian tắm biển và dạo chơi, Nguyễn tôi nằm dài đọc văn Vơ Đ́nh. Thật sự, anh đă đưa Nguyễn vào thế giới của cảm xúc, suy tưởng. Càng đọc, càng phục sự hiểu biết cũng như quư mến nhân cách của anh.

Có những chiều nh́n mây biển giăng giăng như thành tŕ và nh́n cánh buồm trắng nhấp nhô ngoài khơi xa, không hiểu sao Nguyễn lại ch́m vào trầm tư của Michail Lermentov rồi nghĩ tới Vơ Đ́nh cùng nhiều bạn bè khác trong cơn giớ lớn của một thời. Về đâu, về đâu khi gió mùa… Chúng ta đă đi t́m ǵ, ới bằng hữu -niềm vui hay hạnh phúc?- và rồi ta đă gặp ǵ, phải chăng cuối cùng là b́nh yên trong băo tố -in storm lurked calm and peace?

     

   Người ta nói Vơ Đ́nh khó tính (thuộc loại “khó tính tiền sử”). Khó tính và chuộng cái cổ. Cũng như ông Hai Lâu (Low Tech, nhân vật của VĐ), Vơ Đ́nh không mấy ưa cái máy lạnh, máy nóng, cái TV, cái c̣m-piu-tờ. Không dùng máy sấy mà thích phơi áo quần ngoài nắng gió. Nắng ḷng tôi, em đem áo ra phơi? Vợ của nhà văn Trần Long Hồ kể, một hôm đến thăm Vơ Đ́nh vào một ngày mùa đông. Ấy vậy mà nhà của Vơ Đ́nh không mở “heat”, làm cả bọn rét co ro. Khi nh́n lại Vơ Đ́nh th́ thấy anh đang ôm cái “lồng ấp”, thảo nào… Cả bọn tự nhủ: Thế này th́ ông anh chỉ c̣n thua ông cọp chớ thua ai! A, cái “lồng ấp”? Tim Nguyễn biết nó từ thời nhỏ, ở Huế. Nó là một cái lồng đan bằng tre, bên trong đặt một cái trách (nồi) đất nhỏ có đựng tro. Mùa đông mưa phùn gió bấc, muốn sưởi ấm cứ việc cho vài cục than cháy đỏ vào trong trách, xong ủ (ấp) cái lồng ấy trước bụng, phủ áo lại, tha hồ mà ấm. Tim thấy các bà cô của Tim hay dùng cái lồng ấp ấy v́ trong nhà không có bếp hoặc ḷ sưởi. Tuy nhiên, ngày nay ở Huế hầu như không c̣n ai dùng nó nữa. Rơ ràng Vơ Đ́nh đă sống theo lối cổ, khác với mọi người.

   Trong sinh hoạt thư từ, Vơ Đ́nh thích viết thư tay cho các bạn văn, và anh lưu giữ hầu hết thư từ bằng hữu gởi đến. Măi tới sau này, thỉnh thoảng lắm anh mới dùng email. Về thơ, anh yêu thích và hay trích dẫn cũng như ngâm thơ tiền chiến: Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Thâm Tâm… Trong các bài viết của anh mà Nguyễn được đọc, không thấy anh trích dẫn bất cứ nhà thơ hiện đại nào. Về hội họa, anh là người nh́n thấy vẻ đẹp trong nét vẽ của các họa sĩ cổ điển Trung Hoa cũng như anh đă yêu h́nh ảnh cây mai trước sân nhà (Đêm qua sân trước một cành mai?).

   Thật ra, khi t́m hiểu cá tính và văn chương, nghệ thuật của Vơ Đ́nh, Nguyễn thấy có một điều không giải thích được: Vơ Đ́nh có tinh thần chuộng cổ trong lối sống và thưởng ngoạn văn chương nghệ thuật nhưng quan điểm sáng tác của anh lại rất mới. Chẳng hạn, khi nói về viết và vẽ, Vơ Đ́nh đưa ra nhận định:

   “… Lại có lúc tôi đọc sách, thấy viết… trật tùm lum. Trật về văn phạm, trật về cú pháp. Trật cho đến cái chấm, cái phết. Nhưng trật mà hay. Trật mà đọc thật khoái. Sau này, ngồi nghĩ lẩn thẩn, tôi suy ra rằng: Cái đẹp, cái hay không nằm ở cái đúng. Và đúng là một cái ǵ tương đối. Đúng ở thời nay mà sai ở thời khác, đúng ở nơi nọ mà sai ở nơi kia. C̣n cái đẹp, cái hay, chúng đẹp, hay, tự thân. Nếu ta không thấy được cái hay, cái đẹp là… lỗi ở tại ta. V́ ta không, hay chưa có khả năng thấy được. Rồi lại nghĩ: nếu dở về văn phạm, về cú pháp mà có thể viết truyện, làm thơ và làm cho người đọc thích thú th́ một người không rành về “nghề” vẽ cũng có thể vẽ được. Mà đă vẽ được th́ một ngày có thể vẽ đẹp, vẽ hay…” (Chuyện Vẽ Tranh)

   Như vậy, theo Vơ Đ́nh, ai cũng có thể vẽ được mà không cần học “nghề” vẽ! Miễn là có đời sống nội tâm tương đối phong phú , có óc tưởng tượng và ṭ ṃ. Và đừng quá lệ thuộc những quan niệm hay thiên kiến đă có về nghệ thuật hội họa. 

   Vơ Đ́nh là họa sĩ và là nhà văn. Có vẻ anh nghiêng về họa hơn về văn, nhưng mọi người lại thích văn của anh hơn. Về họa, Vơ Đ́nh không chuộng con đường hàn lâm. Theo anh, các trường mỹ thuật chỉ sản xuất ra những giáo sư dạy vẽ, những công chức vẽ… Vincent Van Gogh, Paul Cezanne đâu có học ở trường Mỹ Thuặt mà đều là danh họa thế giới.

   Có một nhóm người Mỹ, khoảng mươi người, đủ mọi thành phần và lứa tuổi, đều không biết vẽ, nhờ Vơ Đ́nh hướng dẫn về hội họa. Mỗi tháng họ gặp nhau một lần, tại nhà bà Katrina, dưới chân núi South Mountain ở Maryland.

   Đây là cái cách Vơ Đ́nh chỉ dẫn họ:

   “Tôi cầm một cây cọ mềm, nhúng nước, thấm một chút màu vàng, bôi lên giấy một h́nh tṛn, Và hỏi mọi người: Cái ǵ đây?”

   Người th́ nói trái chanh. Người khác nói mặt trăng, mặt trời, ḷng đỏ một quả trứng, cái bông tai… Vơ Đ́nh nói tất cả đều sai. Đây chỉ là một vũng nước có pha màu. “Nó là một thực tại khách quan. “To draw” một h́nh tṛn, rồi tô màu vàng lên, rồi gọi đó là trái chanh, cũng được, không ai cấm. Nhưng đó không phải là hội họa, “painting”. Đó là tô màu, “coloring”. Họa là bôi màu vàng lên giấy hay lên vải, rồi cho phép nó biến hóa. Là chơi giỡn, là làm việc với thực tại này, vũng nước màu vàng này, là làm cho nó đầy, ướt thêm, làm cho nó khô, nhỏ bớt đi. Là kéo nó dài ra, là rút nó ngắn lại, quét nó đi, đồ nó lại, là thêm một chút đỏ vào cho nó ửng sắc cam, là thêm một chút xanh vào cho nó đậm sắc lục, v.v… Cho phép nó, xúi giục nó, biến hóa thành h́nh tượng khác. Cho nó hiện hữu một ḿnh hay giao tiếp với những màu khác. Theo dơi, điều nghiên, chuyển hóa những màu sắc, và tương quan giữa chúng để tạo thành h́nh tượng, đó là cốt tủy của hội họa, painting.”

   …

   “Sau một thời gian, không cần lục lạo t́m ṭi, ṿ đầu bứt tóc ǵ cả (như chính tôi đă làm, những năm c̣n là “họa sĩ trẻ”), mỗi người trong nhóm tự nhiên có một đường đi riêng. Bút pháp mỗi người một khác. Vô t́nh mà có người gợi nhớ Klee. Có người không biết rằng ḿnh làm nghĩ đến Braque. Người th́ Pullock. Kẻ th́ de Kooning. Lại có người, như “bà lăo” Katrina, đôi lúc vẽ như một thiền sư Á đông (mặc dù không biết ǵ đang kể về Thiền, hoặc về hội họa cổ truyền Hoa, Nhật). Có người hỏi: V́ sao vậy? Tôi trả lời: Bởi v́ mỗi người, khi cầm bút vẽ, đă có sẵn những h́nh tượng cá biệt ấy trong thân tâm. Những “master-image”, những “archetype”, nói theo Jung. Trầm tư với h́nh tượng th́ chúng hiển lộ. Thế thôi.”

   Và Vơ Đ́nh gút lại bằng một đoạn như thơ:

   “Tôi nh́n lại các tác phẩm. Màu sắc, nét vẽ, xuất phát từ những tâm hồn phong phú, những tâm hồn biết yêu đời, yêu người, yêu lá cây ngọn cỏ, yêu cái vỏ ṣ nhỏ mọn, cánh bướm khô tàn, yêu cả viên sỏi nằm bên lề đường. Những tâm hồn của chốn trời Tây có cơ duyên tắm gội trong con suối róc rách chảy sâu đă lâu từ nguồn Đạo của phương Đông.” 

   Vơ Đ́nh viết về hội họa quả là hay. Sau đây, Nguyễn trích thêm một hai đoạn nữa: “Ngày xưa, ở Trung Quốc, có vị họa sư được vua vời vào cung vẽ cảnh mùa thu. Họa sư vẽ mấy cây đen điu, cành gầy trơ trụi. Vua phán: Sao thu mà không thấy lá son đỏ thắm đâu cả. Họa sư tâu: Có lá phong đấy ạ. Rồi sai bắt con gà, nhúng hai chân vào chậu son, đoạn thả gà chạy loanh quanh trên mặt tranh. Chân gà in son đỏ lên mặt giấy hệt lá phong rơi rụng tơi bời. Vua vuốt râu cả cười, truyền đem vàng lụa thưởng người họa sĩ độc đáo.”

   Cũng thuộc giai thoại làng họa, Vơ Đ́nh kể chuyện về họa sĩ Jackson Pullock ở New York những năm 1940 đă  đục vài lỗ lớn nhỏ dưới đáy thùng sơn rồi cho sơn chảy ḷng tḥng, rơi tung tóe lên mặt bố trải phẳng trên sàn nhà và tạo thành tranh, trở “họa sĩ lớn nhất” của Hiệp Chủng Quốc.

   Không cần thông ngữ pháp cũng có thể viết văn hay, không cần biết nghề vẽ cũng có thể vẽ giỏi. Quan niệm của Vơ Đ́nh quả là mới mẻ. Riêng về hội họa VN cận đại, Vơ Đ́nh đặc biệt chú ư tới hai người: Đỗ Quang Em và Nguyễn Trung.  Xem tranh Đỗ Quang Em, anh nh́n thấy được cái ướt ở khóe mắt nhân vật, vẻ mịn và mát của gấm lụa, cái cứng cái khô của khúc tre già, cái quư của viên gạch, cái uy nghi của cây đèn dầu. Cũng như anh cảm được cái ánh sáng và không gian vắng vẻ, hiu quạnh trong tranh Đỗ Quang Em. Anh cũng thưởng thức tranh  Nguyễn Trung trong những đường nét thanh nhă, màu sắc óng chuốt, đầy chất thơ -thưởng thức nhưng không phục. Cho tới khi Nguyễn Trung làm cuộc thay đổi bất ngờ và triệt để vào năm 1990, lúc bấy giờ Vơ Đ́nh mới thật sự ngưỡng mộ. Anh viết: “Không c̣n những màu xanh xám, nhợt nhạt trong veo. Không c̣n những người nữ “liêu trai” đờ đẫn trong một không gian vắng lặng cô đơn, những thiếu nữ ngực trần thanh tân, núm vú hồng tươi nhưng nét mặt xa xăm, huyền hoặc. Không c̣n những con cá con chim huyền ảo thấy được trong mơ. Không c̣n những h́nh ảnh lăng đăng “như gần như xa” đă làm nên tên tuổi Nguyễn Trung thời trước 1975. Chỉ có những mảng nâu, đen, đậm đặc, mịt mùng. H́nh tượng giản đơn cùng cực, đường nét thô lậu, thô bạo, chất liệu dày cộm, sần sùi. Tôi không biết những ǵ đă xảy ra trong tâm thức Nguyễn Trung và khiến ông thay đổi đến như vậy… Tôi chỉ ngờ rằng dứt khoát đi sâu vào con đường trừu tượng “vật chất” (VĐ dịch từ “matter”, “matière”.NXT), triệt để và toàn diện, ông khẳng định thế đứng của ḿnh giữa một thế giới muôn chiều, muôn ngả, một thế giới đảo điên.”

 

   Chiều rơi trên biển. Trúc đào đỏ rực. Hải âu bay lượn và kêu thét. Cánh buồm xa chấp chới. Nguyễn tôi nghĩ tới Vơ Đ́nh, họa sĩ và là nhà văn tài hoa, đă có những đóng góp cho văn chương và hội họa. Là bông hoa, là cánh hải âu hay cánh buồm. Có thể những h́nh ảnh thật đẹp vừa kể sẽ mất đi, nhưng rồi về lại trong không gian và thời gian.  Một sớm mai nào đó, vài chục năm sau, hành giả đến từ phương Đông bước vào một quán sách hay thư viện ở Cali sẽ đọc lại Lầu Xép, Xứ Sấm Sét hay Huyệt Tuyết. Hoặc giả một chiều chớm thu, bước vào một bảo tàng viện ở New York bất chợt dừng lại chiêm ngưỡng một họa phẩm của Vơ Đ́nh. Và rồi h́nh bóng người bao năm cũ sẽ chợt sống lại như đă sống, đă sáng tạo, đă yêu thương và hờn giận trong cuộc khóc cười của nhân gian.

 

Thượng tuần tháng 7.2009

NXT

 

©gio-o.com 2009