NGUYỄN THỊ LỆ-LIỄU

 

 

 

Tôi giật mình thức dậy, ngơ ngác không biết mình đang ngủ ở đâu, Cái Bè hay Vĩnh Long? Căn phòng tối, ánh sáng lờ mờ ban mai xuyên qua khe hở của bức mành rọi lên những con cò con hạc lơ lửng trên tường. Phải mất hết mấy phút tôi mới định thần được mình đang nằm trong phòng ngủ của nhà mình, và mấy con cò con hạc ấy là những tấm ảnh do tôi chụp cách đây vài năm.

Như một giấc mơ, tôi rời Việt Nam.

Như một giấc mơ, tôi trở về Việt Nam.

Ba tuần lễ sau ba mươi hai năm, tôi lại rời Việt Nam một lần nữa.

 

 

Hãy Đi Cùng Tôi...

 

16-3-2007_ Hà Nội :

Hà Nội là thành phố được nhắc đến nhiều nhất qua thi văn và âm nhạc của Việt Nam...Loan đi rẽ lên đê Yên Phụ. Gió bãi thổi làm quần áo Loan phất phới. Tay giữ chặt lấy khăn san, nàng đi ngược lên chiều gió, hai con mắt buồn bã nhìn ra phía sông rộng... Tôi đọc Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, thương Loan-Dũng và mê luôn Hà Nội.

Sau khi chạy suốt đêm, xe buýt chở chúng tôi vào thành phố Hà Nội vào lúc 5 giờ sáng. Mặc dầu thành phố còn đang ngủ, những chiếc xe ôm, taxi, đã túc trực sẵn và các tài xế ùa ra đón khách khi chiếc xe buýt Hợp Đồng đỗ lại. Đường phố còn tối đen và các cửa tiệm còn đóng kín. Gió buổi sớm gây gây thổi. Xe buýt lớn không được phép vào khu phố cổ Ba Mươi Sáu Phố Phường, tôi gọi một chiếc taxi chở chúng tôi đến khách sạn. Rời Huế từ lúc 6g chiều, bụng đói, chúng tôi hỏi đường người quản lý và đi bộ tìm hàng phở mở cửa sớm, ở một khúc quanh góc phố. Phở Sướng là một cái quán nhỏ nằm ở đầu một con hẻm dẫn vào chợ Hàng Bè. Quán bày vài ba cái bàn thấp và những chiếc ghế nhựa nhỏ. Vài cái bàn khác được bày ra giữa hẻm, trước mặt quán. Nồi nước lèo thật lớn được đặt ở ngay trước cửa bốc khói nghi ngút và mùi thơm phưng phức. Bà chủ quán hai tay thoăn thoắt trụng bánh phở, trụng thịt, múc nước lèo đổ vào tô trao cho khách. Một người đàn bà trẻ đứng ở cái bàn cạnh đấy thái thịt để sẵn. Ánh đèn Néon xanh xao hắt xuống mặt những người khách đang xì xụp ăn, ngưng lại nhìn khi thấy chúng tôi bước vào quán. Những người khách mặc áo trắng cộc tay và quần tây cũ kỹ. Những người khách mặc quần áo loại thợ thuyền lao động. Những người khách đội nón cối và mặc áo màu xanh cứt ngựa. Những cặp mắt chăm chú quan sát. Con hẻm tối. Ánh đèn Néon xanh xao. Chúng tôi có cảm giác như mình đang đi lùi vào thập niên 60, 70.

 

 

 

 

Một chiếc xe Honda dừng lại trước cửa quán, người đàn ông chở một đứa bé trai khoảng 6,7 tuổi trao cho bà chủ một cái gói nhỏ. Câu chuyện giữa bà chủ quán phở và một khách hàng quen thuộc:  

- Nhờ Bác trụng hộ cho cháu tí thịt nầy nhá. Cho cháu nó mang đi học ăn trưa.
- Được rồi, đưa đây. Ưm! _ Nhăn mặt_ Sao lại thái dầy như thế này? Mà lại là thịt lợn? Sao không thái thịt bò cho nó? Thôi, không trụng được đâu. Ăn vào đau bụng chết.
- Mẹ cháu thái sáng nay cho nó đi học ăn trưa. Bác cứ trụng hộ cho cháu nó đi.
- Trụng thịt bò chứ ai lại trụng thịt lợn. Vớ vẩn!
- Bác cứ trụng đại đi _ Năn nỉ_ Cho cháu nó mang đi học ăn trưa.
- Ăn trưa sao không mua đại cho nó nắm xôi _tặc lưỡi_ Này, chỗ khách quen tôi trụng lần này thôi nhé!
- Vâng, cám ơn Bác.

Thế là thằng bé trưa nay có gói thịt heo trụng để ăn. Chúng tôi giấu mặt xuống tô phở để khỏi phải bật cười.

 

 

 

 

 

 

Một bà lão tóc vấn khăn vành đen vừa đặt một khay xôi bốc khói xuống quầy ở đầu một góc chợ. Những hạt bắp nở bung trộn lẫn với những hạt nếp dẻo phủ một lớp đậu xanh vàng và những tép hành phi màu nâu thơm phức. Một thanh niên trẻ đang ngồi chồm hỗm dưới đất quay một cây chả quế vàng ngậy thơm lừng trên cái lò thấp đốt bằng than. Anh vừa quay vừa vui vẻ quảng cáo món chả quế của anh khi thấy chúng tôi tò mò dừng lại ngắm. Chợ đã bắt đầu họp. Những bó rau xanh tươi được bày ra trong thúng. Những miếng thịt lợn thịt bò được xếp ngay ngắn trên bàn. Những con cá, con cua được đặt khéo léo trong rổ...Kẻ mua, người bán. Quang cảnh tấp nập, ồn ào.

Chúng tôi rời chợ đi về phía hồ Hoàn Kiếm. Khung cảnh hồ Hoàn Kiếm quả thật hữu tình, không khác với những hình ảnh chúng tôi vẫn thường thấy trong sách báo là mấy. Cũng những cây cổ thụ cao lớn mọc quanh bờ hồ, những cây nghiêng là đà mặt nước, những lá liễu rũ đong đưa theo gió, tháp Rùa lờ mờ sau màn sương, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, nhà Thủy Tạ, những chiếc ghế đá với ông bà lão ngồi yên lặng nhìn ra hồ. Chúng tôi ghé vào quán café ở ven hồ nhâm nhi café nóng và ngắm thành phố Hà Nội bắt đầu một ngày. Nắng sớm vừa lên soi bóng ngôi tháp nhỏ xuống mặt nước Hồ Gươm yên tịnh.

 

 

 

 

 

 

Ngắm hồ Hoàn Kiếm thì phải đến xem hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Nhất định phải đi đến Hồ Tây, em chồng của tôi tuyên bố. Tôi tưởng cô ấy muốn đến xem Phủ Tây Hồ nên lếch thếch mang máy ảnh chạy theo. Hóa ra là đi tìm quán Tây Hồ để ăn bánh tôm. Quán Bánh Tôm Tây Hồ chiếm một diện tích đáng kể ngay cạnh mặt hồ, phòng ăn ở trong nhà, phòng ăn ở ngoài trời, phòng ăn ở căn lầu hai tầng. Cây cổ thụ bao bọc chung quanh, những chậu lan nở hoa xinh đẹp được cột vào thân cây thòng xuống trông thật thơ mộng. Chúng tôi ngồi dưới những cây cổ thụ rễ dài lòng thòng, ngắm hồ Trúc Bạch và thành phố Hà Nội ở bên kia bờ hồ, ăn bánh tôm Cổ Ngư. Bánh tôm Cổ Ngư ở đây không có khoai, không ngon, em chồng tôi tuyên bố. Bánh chỉ có bột tôm (giống như) Tempura. Hồ Tây rộng lớn nhưng không có gì đặc biệt ngoại trừ các đền, chùa nổi tiếng như Phủ Tây Hồ, đền Trấn Quốc, chùa Kim Liên, đền Quan Thánh. Hồ Trúc Bạch, mang tên của loại lụa trắng, được dệt bởi các vương phi hoàng hậu bị biệt giam vào lãnh cung xây tại đây vào thế kỷ 18 đời Chúa Trịnh (tôi không biết ở đâu) nhỏ hơn và rộn rịp với những chiếc pê-đa-lô có hình con ngỗng và các nhà hàng nổi.

Chạy giữa hai hồ Tây và Trúc Bạch là phố Thanh Niên với hai hàng cây xanh giao nhau. Cuối đường là đền Quan Thánh. Chúng tôi trả tiền để vào thăm đền Quan Thánh. .

 

 

 

 

Hà Nội có 5 cửa ô, có 36 phố phường, và có nhiều đền chùa. Cái chùa nổi tiếng, tiêu biểu cho thành phố Hà Nội mà ai cũng biết tên là Chùa Một Cột. Chúng tôi nhờ xe taxi chở đến nơi này. Xe dừng lại trước cái cổng sắt của một tòa buyn-đinh nguy nga. Chúng tôi ngơ ngác, chúng tôi muốn đến thăm Chùa Một Cột mà. _Đi vào đấy thì sẽ thấy Chùa Một Cột, anh tài xế trả lời. Chúng tôi nhìn vào cổng, chỉ thấy tòa buyn-đinh nằm ngất ngưởng trên những bậc tam cấp. Lại ngơ ngác. Anh tài xế giải thích cặn kẽ hơn. Đấy là Viện Bảo Tàng của Bác; sau khi xem xong Viện Bảo Tàng rồi thì tìm ra cổng số một, xuống tam cấp, đi thẳng tới sẽ thấy Chùa Một Cột. Con đường trước mặt Chùa Một Cột cấm không cho xe vào nên tất cả xe phải đỗ ở đây. Gớm, không nói thế từ đầu để chúng tôi khỏi hoang mang. Còn muốn xem nhà sàn của Bác thì đi về phía tay phải, anh tài xế dặn dò thêm. Chúng tôi trả tiền, cám ơn anh xong đi vào cổng. Một trạm lính canh được đặt sát cổng với hai anh bộ đội mặc áo xanh, mũ xanh nhìn chúng tôi chăm chú. Chúng tôi leo tam cấp, tìm cửa số một và đi thẳng xuống tìm Chùa Một Cột. Không thấy. Chúng tôi đi ngược trở lại vì sợ mình đi lộn cửa. Lại leo tam cấp. Nhiều du khách Việt đang tíu tít chụp hình trước cửa Viện Bảo Tàng. Đúng là cửa số một. Lại leo xuống đi thẳng. Vẫn không thấy. Trước mặt chúng tôi là một tòa tháp hùng vĩ, tương đương với Tử Cấm Thành, hỏi, là lăng Bác. Anh tài xế chỉ dẫn rõ ràng, chúng tôi không nghe lộn, vậy Chùa Một Cột ở đâu? Quay sang hỏi chị đàn bà, chủ cái xe bán hàng lỉnh kỉnh cho du khách, chị ta chỉ tay về sau lưng, Chùa Một Cột đây này.

 

 

 

 

Nằm khuất sau cái đền nhỏ là Chùa Một Cột, khiêm tốn và bé xíu giữa cái hồ sen hình vuông nhỏ bé trong một khuôn viên cũng nhỏ bé và đơn sơ với vài cây sứ lâu đời cằn cỗi và dăm cây cau cao vút. Thời gian đã xoi mòn đi nhiều viên gạch của các bậc tam cấp. Một người đàn bà Á Châu lúi húi cởi giầy để bước vào chính điện làm lễ. Một đôi vợ chồng trẻ đứng thắp nhang khấn vái trước lư hương bằng đồng thật lớn đặt trước cái cổng nhỏ và các bậc tam cấp dẫn lên chùa. Chưa phải mùa hè nên hồ chưa có sen, chỉ thấy mặt nước đục và vài cái lá nhỏ. Chúng tôi đi một vòng quanh chùa chụp hình và theo những người khách thập phương vào đền Đửu Tiên thăm viếng. Đền này chỉ mở cửa vào ngày rằm và mồng một. Tôi chụp hình các cánh cửa gỗ có chạm hoa. Chồng tôi chụp hình các mái nhà. Mọi thứ đều đẹp và cũ.

 

 

 

 

 

Trước khi rời nhà, chị chồng tôi có dặn, nhớ phải đến xem Văn Miếu Quốc Tử Giám. Chị thích đọc sách và nhớ dai. Chị là quyển tự điển và cũng là tự điển bách khoa của chúng tôi. Giữa mới và cũ, giữa Gallery Mai nơi chưng bày tranh hội họa hiện đại, và Văn Miếu nơi phát sinh nền văn học Việt Nam, chúng tôi phải chọn một vì thời giờ không cho phép. Chúng tôi chọn Văn Miếu. Lếch thếch đến nơi thì trời đã xế chiều. Chúng tôi băng qua một dãy dài xe buýt Hợp Đồng và nhiều đoàn người du lịch. Vào được bên trong tôi bỗng dưng cảm động. Văn hóa của người Việt là đây. Cũng những mái ngói cong cong có long phượng chầu viên ngọc đỏ, cũng những cửa gỗ nâu mở vào những căn nhà có cột to, gạch lát, cũng những chạm trỗ cầu kỳ nhưng không khí ở đây, với tôi, lại mang mang nét đặc thù của dân tộc Việt, có lẽ vì những bức tượng của các vua thời lập quốc như Lý Thánh Tôn, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tôn. Chúng tôi đứng chiêm ngưỡng những cây cột to lớn, đỡ lấy vững vàng những cái xà ngang bắc ngang dọc mà không cần đến đinh hoặc ốc gì cả. Chúng tôi đứng ngắm các bức tượng vua mặc long bào bằng đồng. Ánh sáng mờ mờ từ bên ngoài hắt vào lẫn ánh đèn vàng vọt bên trong và khói nhang nghi ngút khiến cho các tượng vua càng thêm oai nghiêm. Bên ngoài, hai bên sân là những con linh quy to lớn (tôi thích gọi là linh quy vì rùa thì nhỏ mà linh quy thì ắt hẳn phải to.) đội trên lưng những tấm bia có khắc tên những người thi đỗ cử nhân và tiến sĩ. Mặc dầu có những bảng cấm sờ đến rùa hoặc bia nhưng tôi thấy có rất nhiều du khách người Việt đứng ôm lấy bia, có người lại còn ngồi lên cả các con linh quy, ưỡn ẹo cười toe với ống kính. Cô em chồng tôi đi đến trước từng cái bia tìm tên của ông Ngoại, tức là Bố của mẹ chồng tôi. Tôi đứng ở giữa sân, nghĩ đến cảnh các thí sinh trải chiếu ngồi lớp lớp, vặn óc trả lời các đề thi, và những chú tiểu đồng với gồng gánh lều chõng ngồi mơ màng nhìn cây cao lá xanh bao bọc.

 

 

 

 

Tuy không đến xem được Gallery Mai và Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật, chúng tôi lại được may mắn làm quen với các anh chị NĐT, TTT, HH, là nhiếp ảnh gia, nhà thơ, nhà báo ở Hà Nội, và được chở đến xem cuộc triển lãm của các người trẻ (Festival Mỹ Thuật Trẻ 2007) đang được trưng bày ở Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội. Thật là đáng hâm mộ! Những người trẻ tuổi Việt Nam với các tư tưởng mới lạ và thâm thúy. Những bức tranh, những điêu khắc, những hình ảnh đều chứa đựng đầy sự sáng tạo, mới mẻ và sâu sắc đã gây cho chúng tôi nhiều ấn tượng.

Từ hồ Hoàn Kiếm, đi bộ đến phố Tràng Thi, quẹo phải qua phố Nhà Chung, chúng tôi tìm đến nhà thờ St. Joseph Cathedral, tức là Nhà Thờ Chánh Tòa Hà Nội. Có kiến trúc tương tự Vương Cung Thánh Đường ở Sài Gòn nhưng nhỏ và cũ hơn, nhà thờ này xây bằng xi-măng đúc thay vì bằng gạnh đỏ, bị đen đủi theo thời gian. Bức tượng Đức Mẹ ở khuôn viên trước cửa cũng không được lau rửa cẩn thận như bức tượng ở Sài Gòn. Một thanh niên ngồi trên vệ đường chăm chú vẽ bức tượng với hai nóc chuông ở sau lưng. Cửa đóng, một người đàn ông chỉ vào cái cổng sắt bên cạnh nhà thờ bảo chúng tôi đi vào một trong những cửa ở bên hông. Những bậc tam cấp bị vỡ, bức tượng Chúa Giê-Su đứng bên ngoài có điêu khắc rất đẹp nhưng mang nhiều dấu thời gian. Bên trong nhà thờ không mở đèn, mờ mờ ánh sáng hắt vào từ các cửa sổ stained glass trên tường. Một ông từ già ngồi trên ghế theo dõi, canh chừng các du khách đang lúi húi chụp hình. Không thấy ông ra dấu đuổi đi như người đàn bà hung hãn giữ nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn, chồng tôi và tôi mạnh dạn tiến vào giữa lối đi. Những chiếc ghế gỗ nâu đã bạc mầu cũ kỹ. Những điêu khắc và chạm trỗ trên trần, quanh các cột, trên bàn thờ trông rất xưa và rất đẹp. Những bức tượng Chúa, Đức Mẹ, các Thánh nhạt màu nhìn tôi, một con chiên tội lỗi, bằng các cặp mắt từ bi. Tôi yêu nét cổ và buồn của nhà thờ này.

 

 

 

 

 

 

 

Đi lại đoạn đường của Đặng Chí Bình, chồng tôi nói. Chúng tôi tìm đến Hỏa Lò Hà Nội, hay Hà Nội Hilton gọi theo kiểu người Mỹ. Trời mưa lất phất. Đã quá giờ mở cửa vào xem. Chúng tôi đứng bên ngoài bức tường chụp hình, định bụng sẽ trở lại nhìn xem bên trong vào một ngày khác. Nhà ngục nổi tiếng của thành phố Hà Nội nay đã bị phá hủy, thay vào đó là một buyn-đinh đồ sộ màu xanh, mang tên Hanoi Tower _ Trung Tâm Đào Tạo Vietnam- Singapore. Chỉ còn một phần nhỏ là được giữ lại làm thắng cảnh. Một tấm bảng đơn sơ ghi Di Tích Lịch Sử Nhà Tù Hỏa Lò dựng ở góc đường. Chúng tôi đi quanh bức tường gạch quét vôi vàng có vài cái cửa sổ nhỏ xíu bằng sắt bị khóa chặt và bên ngoài được bao bọc bởi các chấn song sắt. Trên một cửa sổ chúng tôi đọc được hàng chữ Hỏa Lò của anh em tôi đây được viết nguệch ngoạc bởi một người nào đó.

Ở Hà Nội những bảng tên đường đều bắt đầu bằng chữ phố. Thoạt đầu tôi tưởng chỉ có phố cổ 36 Phố Phường mới mang tên phố, phố hàng Bạc, phố Mã Mây...nhưng sau khi lang thang đó đây mới biết rằng phố thay cho đường, cũng như cho tôi một ly nâu nóng thay vì cho tôi một ly café sữa nóng. Ngôn ngữ cũng khác và suy tưởng cũng khác. Khách sạn của chúng tôi nằm trong khu phố cổ, mỗi sáng chúng tôi thức dậy thật sớm, ngắm sinh hoạt của thành phố bắt đầu. Chồng tôi ra trước cửa khách sạn, vừa hút thuốc vừa chụp hình. Tôi mở cửa sổ phòng, đứng trên cao chụp hình phố Phái *, những người đàn bà với đôi quang gánh nặng chĩu trên vai, những hàng ăn lề đường và những người đàn ông ngồi trên các ghế nhựa nhỏ xanh đỏ ăn sáng, những bà mẹ dẫn con đi đến trường, những chiếc xe Honda nổ bình bịch chất đầy hàng hóa. Khoảng 7,8 giờ thì đột nhiên tiếng nhạc rộn rã phát ra từ những chiếc loa xám cũ kỹ được gắn trên cột điện ở mỗi góc phố, mấy cái loa này tốt thật, bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn phát ra âm thanh rõ ràng, chồng tôi phát biểu ý kiến. Sau đó thì các tin tức, huấn dụ lần lượt được phát ra, ngay cả các thông tin về việc cúp điện của các khu phố cũng được thông báo. Mọi người vẫn thản nhiên sinh hoạt, tôi không biết có ai để ý nghe hay không. Theo dõi một chặp thì tôi mất hứng thú, quay trở lại việc chụp ảnh phố Phái của mình. Phố Phái trong ảnh của tôi không được yên tịnh cho lắm. Những con đường của phố cổ chật hẹp. Hai bên vỉa hè hẹp đậu đầy các xe gắn máy chen lẫn với các gánh hàng rong và những chiếc ghế nhựa Trung Quốc. Phần mặt lộ chật hẹp còn lại chen chúc nhau các xe hơi, xe đạp, xe gắn máy, những người gánh hàng rong và các khách bộ hành. Mạnh xe xe đi. Mạnh người người đi. Cũng như Sài Gòn và các thành phố khác của Việt Nam, phố phường Hà Nội cũng tranh nhau mở cửa buôn bán, cũng quán ăn, khách sạn, nhà hàng, quán café, công ty du lịch, tiệm bán áo quần...Những phố hàng Đào, phố hàng Mộc, hàng Buồm... đều có những cửa tiệm giống nhau. Riêng ở phố hàng Bạc tôi thấy còn có vài tiệm bán nữ trang kim hoàn, và phố hàng Đường còn có nhiều tiệm bán kẹo bánh, ô-mai. Chúng tôi nhận xét thấy người Hà Nội dường như mê tín hơn người trong Nam. Đêm mồng một âm lịch, mỗi nhà đều mang vàng mã ra trước nhà đốt. Khói và tro bay ngập các con đường.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phụ trách mục ăn uống, cô em chồng dẫn đường chúng tôi đi tìm quán Chả Cá Lã Vọng. Chúng tôi đến sớm vì nghe nói sẽ không còn chỗ nếu đến sau 7giờ. Quả đúng như vậy, một phần vì quán nổi tiếng lâu đời cha truyền con nối, một phần vì diện tích khiêm nhường của quán, cũng như mọi hàng quán khác nằm trong khu phố cổ. Quán có hai tầng, chúng tôi leo cái cầu thang gỗ ọp ẹp lên tầng lầu trên, ngồi ngắm sinh hoạt buổi xế chiều của khu phố cổ, thưởng thức những miếng cá vàng ngậy cháy xèo xèo trong chiếc chảo gang bắc trên cái bếp than nhỏ đặt giữa bàn. Ngồi trong căn nhà cổ, giữa 36 Phố Phường, ăn Chả Cá Lã Vọng với rau thì là thơm, còn gì Hà Nội hơn!

Buổi tối sinh hoạt ở các vỉa hè trở nên nhộn nhịp tấp nập với các cần-xé đựng bánh mì nóng dòn, các lò than đốt mực nướng cá nướng thơm phức, những gánh khoai nướng bắp nướng phết hành mỡ thơm ngậy, những hàng ăn mà chủ nhân là các cô cậu tuổi trạc đôi mươi, có lẽ ban ngày bận rộn với những công việc khác, ban đêm buôn bán kiếm thêm tiền phụ trội. Chợ Đêm Hà Nội, nơi mua sắm, tụ tập của những người trẻ tuổi, rộn rịp với những gian hàng buôn bán đủ loại, từ quần áo, giầy dép, đồ trang sức, đến va-li, túi xách, mền gối, CD băng nhạc, điện thoại cầm tay...Hầu hết các sản phẩm đều Made in China. Hóa ra không những chỉ ở các nước Âu Mỹ mới bị tràn ngập hàng hóa Trung Quốc, mà ngay cả Việt Nam cũng không thoát khỏi bàn tay của người anh em xứ láng giềng. Ghé nhìn một gian hàng có nhiều khách bu quanh chúng tôi thấy hai chàng trẻ tuổi vừa biểu diễn gọt, cắt, chẻ, bằng những dụng cụ nhà bếp (của Trung Quốc) vừa giải thích. Các củ khoai, dưa leo, trái cây ném thành đống bên cạnh sau khi đã đựợc gọt tỉa. Ai nấy đều vỗ tay tán thưởng tuy nhiên tôi không biết có bao nhiêu người trả tiền mua những dụng cụ này. Các gian hàng ăn lúc nào cũng đông khách, những gian hàng bán thịt nướng, những xe bánh mì, những gian hàng bán chè, bánh. Tôi cũng thấy nhiều gian hàng bán bánh mì Pita và thịt nướng Gyro của Thổ-Nhĩ-Kỳ, những xe bán Wurst và nước sốt kiểu Đức. Chồng tôi và tôi để ý thấy nhãn hiệu của loại phó-mát con bò cười rất được ưa chuộng. Từ Nam ra Bắc, chúng tôi thấy cái đầu bò và hàng chữ La Vache Qui Rit được dùng rất nhiều trên các xe bán bánh mì thịt và trên bảng hiệu của các tiệm phở. Dừng lại một gian hàng bày bán sách, chúng tôi tò mò đọc. Một cô gái trẻ đứng cạnh nói với chúng tôi khi thấy chồng tôi cầm lên một quyển sách có cái tựa đề nghe rất hấp dẫn, quyển sách này chả nên mua. Chẳng có một giá trị văn hóa nào để học hỏi trong quyển sách này cả. Chồng tôi vội vàng bỏ xuống. Vào thời đại văn minh vật chất được mọi người ưa chuộng chạy theo, yêu thích văn hóa là một điều đáng quý.

 

 

 

 

 

 

 

Chợ Đêm là văn hóa của những người trẻ, Múa Rối Nước là văn hóa dân gian miền Bắc. Trước cửa rạp hát Thăng Long du khách tụ tập, xếp hàng mua vé. Mang hai cái máy hình trên vai, vợ chồng tôi phải trả thêm 15,000 đồng cho mỗi người để mua vé chụp hình. Rạp hát không rộng lắm nhưng thanh lịch với các hàng ghế xếp trên cao và sân khấu nằm ở dưới thấp. Bên cạnh sân khấu là chỗ ngồi của các nhạc công và ca sĩ. Những con rối được gắn vào trên các que tre dài và được điều khiển một cách uyển chuyển trong cái hồ nước chiếm trọn diện tích sân khấu. Những câu chuyện kể dân gian, những huyền thoại lịch sử được khéo léo diễn lại qua các con rối đàn ông, đàn bà, con nít, vua, lính, thuyền, ghe, rồng, chim, vịt...thật thích thú. Nhưng thích thú nhất là ban nhạc với trống, đàn cổ truyền và các nhạc công thật xuất sắc. Hai cô ca sĩ với giọng hát, giọng hò rất hay lại càng làm tăng thêm vẻ độc đáo của âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Có đôi khi chỉ có hai cô đối đáp nhau mà tôi có cảm tưởng như cả làng cùng lên tiếng. Thử tưởng tượng không phải đang ngồi trong một rạp hát mà là dưới đất, hoặc trên các ghế tre, chăm chú theo dõi cuộc trình diễn trên một cái ao nuôi vịt, với trăng sao ở trên đầu và tre, cau ở chung quanh.

 

 

 

 

Từ một quán café trên sân thượng của một buyn-đinh cao, chúng tôi ngồi ngắm thành phố về đêm, trong mưa bụi lất phất, thứ mưa mà người địa phương gọi là mưa bẩn. Hà Nội về đêm, không nhộn nhịp như Sài Gòn, không im lặng buồn như Huế, nhưng lại mang nét êm đềm của một thành phố thủ đô. Dẫu sao, Hà Nội cũng là nơi chứa đựng nhiều dấu tích văn hóa và lịch sử của đất nước. Hà Thành, Thăng Long Thành, đất nghìn năm văn vật, thủ đô của nước Việt.

Buổi sáng trên đường ra phi trường, xe chở chúng tôi chạy ngang 5 cửa ô. Như một phản xạ, tôi đưa máy hình lên ngang tầm mắt, cùng với câu hát quen thuộc bỗng dưng chợt nhớ, “...năm cửa ô buồn hắt hiu …em ngoài ấy còn nhớ hẹn xưa miệt mài…”*. Những kiều nữ áo dạ khăn nhung của một thời Hà Nội, theo thời gian, có tàn phai như các cửa ô ố màu cũ kỹ?

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN THỊ LỆ-LIỄU 

 

kỳ 1: 06-03-07_ Sai Gon

 

kỳ 2: 09-03-07_ Nha Trang

 

kỳ 3: 11-03-07_ Hội An ,

 

Kim Bồng - Mỹ Sơn

 

kỳ 4: 13-3-2007_ Huế

 

DMZ

 

 

 (20-5-2007, kỷ niệm chuyến trở về thăm VN sau ba mươi hai năm xa lìa.

Tặng Bố Mạnh, Hương-Thành, Giác-Trang, anh chị Lan-Lợi.)

* trắng ôm gối mộng...thơ Ngu Yên
* quét cả phố phường...nhạc Trịnh Công Sơn
* VC: Việt Cọng
* QLVNCH: Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa
* thơ: tức cảnh sinh tình của tác giả
* phố Phái: phố trong tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái
* năm cửa ô buồn hắt hiu…nhạc Phạm Đình Chương

 

2007 gio-o