Sống Để Viết

 

nh� văn Trần Ho�i Thư

phỏng vấn

Nguyễn Thị Hải H�

thực hiện

 

Nguyễn Thị Hải H�: Anh định nghĩa như thế n�o về t�c giả Trần Ho�i Thư ?  Nếu chọn cho m�nh một t�n gọi, anh thấy anh l� ai ? Nh� văn qu�n đội ? Nh� văn Miền Trung ? Hay một t�n n�o kh�c?

Trần Ho�i Thư: T�i l� nh� văn sống v� viết. T�i t�m chất liệu ở con người thật của t�i. T�i sống v� viết bằng con người thật của t�i.

D� viết nhiều về l�nh, nhưng nhất thiết t�i� kh�ng phải l� nh� văn qu�n đội. T�i đ� kể t�i l� nh� văn sống v� viết. Khi t�i ở trong qu�n đội, t�i viết về người l�nh, khi t�i đ�o ngũ, t�i viết về kẻ đ�o ngũ, khi t�i trở lại đơn vị bị gi�ng lon, th� viết về t�m trạng của người lao c�ng chiến trường� Khi t�i bị thương nằm trong qu�n y viện t�i viết về t�m trạng người thương binh, khi t�i ở trong trại khổ sai, t�i viết về sự thật cảnh t�i vồ chụp lấy thau cơm nh�o nhẹt chua l� d�nh cho ch� ăn ở b�n hi�n một doanh trại bộ đội Bắc Việt v� qu� đ�i �

T�i viết bằng chất liệu của đời sống m�nh. Từ chất liệu ấy, t�i x�y dựng cốt chuyện, nh�n vật�

 

Nguyễn Thị Hải H�: Tại sao anh bị cận thị nặng m� vẫn phải đi l�nh?

Trần Ho�i Thư: T�i kh�ng biết. Nhưng sau n�y b�c sỹ Nguyễn Lạng, nguy�n y sĩ trưởng qu�n y viện Ban M� Thuột � một độc giả của B�ch Khoa v� của t�i, đ� cho biết l� với độ k�nh nặng như vậy lẽ ra t�i phải được giải ngũ hoặc phục vụ tại đơn vị kh�ng t�c chiến. Rất tiếc Qu�n y viện BMT kh�ng c� hội đồng về mắt n�n �ng gởi t�i về Tổng Y Viện Cộng H�a �2 lần để gi�m định y khoa. Cả hai lần t�i bị hội đồng y khoa b�c.

Nhưng m�, kh�ng sao. T�i c� sợi d�y thun lưng quần đ�n b� cột v�o g�y để giữ cho n� khỏi rớt.

 

 

Nguyễn Thị Hải H�: Đi th�m k�ch c� nguy hiểm hơn đi đ�nh trận kh�ng? Khi anh đi đ�nh trận l�c mới đi l�nh th� bị bắn su�t chết, c�n đi th�m k�ch nhiều năm th� kh�ng bị nguy hiểm g� cả, như thế th� đi th�m k�ch �t nguy hiểm hơn chăng?

Trần Ho�i Thư: Từ khi rời Thủ Đức th�ng 8-1967 cho đến th�ng 5-1970 gần 4 năm t�i chỉ phục vụ tại một đơn vị duy nhất l� đại đội 405 th�m k�ch/SĐ 22 BB.

Tưởng cần n�i r� về binh chủng th�m k�ch.

Thoạt ti�n, n� được th�nh lập bởi CIA từ năm 1962 với nhiệm vụ l� truy t�m v� ph�t hiện sự x�m nhập của qu�n Bắc Việt v�o cao nguy�n. Người l�nh phần lớn l� thiểu số hoặc Thượng hoặc N�ng. V� cấp chỉ huy l� sĩ quan Việt Nam, cố vấn l� sĩ quan thuộc lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ. C� tất cả 13 đại đội th�m k�ch, đ�nh số từ 401 đến 413�

Sau n�y c�c đơn vị th�m k�ch được chuyển giao đến 2 sư đo�n Bộ Binh l� sư đo�n 22 BB v� 23 BB. Đơn vị t�i � đại đội 405 th�m k�ch th� trực thuộc Bộ Tư Lệnh Sư đo�n 22 BB.

Trung t� Nguyễn văn Dưỡng (tức nh� thơ Văn Nguy�n Dưỡng), trong thời gian năm 1967, 1968 nguy�n l� thiếu t� Trưởng Ph�ng Nh� /SĐ 22 BB � ph�ng điều động đơn vị th�m k�ch để thực hiện những tin tức t�nh b�o, đ� viết r� về vai tr� v� nhiệm vụ của đại đội 405 th�m kich như sau:

�� bao nhi�u tr�ch nhiệm nguy hiểm trong v�ng địch kiểm so�t, đột k�ch, th�m k�ch, tiền th�m hay viễn th�m kể cả tăng viện v� l� mũi tấn c�ng ch�nh trong một trận đ�nh dữ dội, đều giao cho Đại đội Th�m K�ch 405. V� vậy sĩ quan, hạ sĩ quan v� binh sĩ của đơn vị nầy phải l� qu�n nh�n t�nh nguyện hoặc được chọn lựa trong th�nh phần c� kinh nghiệm trận mạc, gan l� v� nhất l� sự bền bĩ chịu đưng gian khổ ở c�c đơn vị t�c chiến kh�c của Sư Đo�n. Mặc d� Đại Đội Th�m K�ch kh�ng c� trong Bảng Cấp Số của Sư Đo�n, nhưng do t�nh chất cuả nhiệm vụ khi th�nh lập -v� nhu cầu chiến trường-n�n t�nh mệnh của mọi cấp trong ĐĐ/TK như �chỉ m�nh treo chu�ng� mỗi một khi được sử dụng. Ai v�o th�m k�ch m� ra khỏi được, kh�ng chết, �t nhất cũng mang theo v�i chiếc thẹo tr�n m�nh. Trần Ho�i Thư rời miền Trung v�o miền Nam kh�ng biết được mấy Chiến thương Bội tinh�� (Nguyễn văn Dưỡng: Định Mệnh, nguồn Internet)

T�i xin trả lời l� c� hai chiến thương bội tinh d� bị thương ba lần. C� cả huy chương bạc của qu�n đội Hoa Kỳ (sau n�y t�i mới biết). Th�m hai c�i bạc, một c�i đồng. Đấy, một Trần Ho�i Thư với đ�i k�nh cận nặng v� th�n h�nh ốm tong teo, m�:

 

Khi ra trận ta l� thằng chết trước

Tổ quốc ghi ơn l�nh tụ đẹp l�ng

Khi t�m vợ ta l� thằng chạy ch�t

N�n kh� l�ng ấp vợ đẹp trong chăn�

 

Vậy cũng được 5 c�i huy chương như ai. Đừng khinh thường nh� văn tr�i g� kh�ng chặt nh� !

 

 

Nguyễn Thị Hải H�: đi th�m k�ch nhiều năm th� kh�ng bị nguy hiểm g� cả, như thế th� đi th�m k�ch �t nguy hiểm hơn chăng?


Trần Ho�i Thư: Nguy hiểm lắm chứ. Hết trận n�y bị nếm đạn AK, th� trận kh�c nếm miểng lưu đạn ch�y. Hết may mắn n�y đến may mắn kh�c. V� dụ l�c� gặp khốn, giữa b�i đất trống tự nhi�n c� mỏm đ� nhỏ đủ che chở th�n thể m�nh. �i chao đạn cứ xẹt đến như những tia lửa, tr�ng đ� sủi bọt hết vi�n n�y đến vi�n kh�c...

Đ�y l� bức h�nh triển l�m qu� tặng thời chiến d�nh cho một nh� văn, chứng tỏ về sự may mắn n�y:

 

r�nh sẹo tr�n lồng ngực chỗ tr�i tim,

từ một vi�n đạn AK v�o Tết Mậu Th�n

 

 

Nguyễn Thị Hải H�: Anh c� nhiều khắc khoải về cuộc chiến Quốc Cọng của người Việt Nam, m� anh l� người tham dự như l� một người l�nh trận. Những điều g� anh muốn n�i nhất về cuộc chiến Quốc Cọng 1954- 1975

Trần Ho�i Thư: T�i sinh trưởng v� lớn l�n ở th�nh thị, học h�nh th� chọn Khoa Học� T�i kh�ng c� một ch�t g� kinh nghiệm về CS. Khi đi l�nh, t�i kh�ng mang ch�t g� hận th�, m� chỉ nghĩ rằng, đ�y l� bổn phận của bất cứ một người thanh ni�n n�o� Nếu t�i ở miền Bắc th� cũng vậy th�i.

Chuyện Quốc Cọng t�i �t khi bận t�m. Bởi th� giờ của t�i l� rượu đ�n b� v� s�ng đạn. V� viết. Viết cuồng viết vội. Viết như chưa bao giờ được viết. Viết về giấc mơ một ng�y ngưng tiếng s�ng, viết về t�nh cảnh người d�n giữ hai lằn đạn. Viết về những người linh của t�i. Họ qu� ngh�o. Qu� khổ. Nhưng qu� can đảm. Họ cứu t�i, c�ng t�i khi t�i bị thương. Họ l� thầy t�i gi�p t�i học được những kinh nghiệm chiến trường, hay mưu sinh tho�t hiểm.

Nhưng sau 1975, những � nghĩ về cuộc chiến ho�n to�n thay đổi. T�i thấy r� bộ mặt của phe th�. Dối tr�, ngu xuẩn, lừa bịp� Th� thật, c� l�c t�i hối hận l� tại sao lại kh�ng ra lệnh đốt hết nh�, giết hết đ�m t� binh, hay t�t tai đ� đ�t mấy con mụ c� bầu m� chủ nh�n đang trốn ẩn đ�u đ� Nhưng m� sau đ� t�i lại nhắm mắt, chắp tay. Lay Ch�a, lạy Phật, con cảm tạ Ch�a Phật đ� gi�p con kh�ng g�y n�n tội �c�

 

Nguyễn Thị Hải H�: Người đọc n�n đọc kỹ phần n�o ở c�c s�ng t�c trong chiến tranh của Trần H�ai Thư ? Những phần m� c�c nh� ph� b�nh từ trước đến nay đ� kh�ng nh�n thấy hay đ� kh�ng c�ng bằng với một t�c giả l�nh của Miền Nam, ở đ�y anh c� thể tiết lộ cho c�c độc giả Gi� O như một trao đổi th�n thiện?

Trần Ho�i Thư: V� t�i viết nhiều về l�nh n�n giới ph� binh nhận định vẫn xem t�i l� nh� văn qu�n đội. Như t�i đ� giải th�ch ở phần tr�n, t�i l� nh� văn sống v� viết. Nh� văn qu�n đội chỉ chuy�n viết về trận mạc, m�u �o trận, hay tiền đồn v.v� c�n t�i, t�i đặt sống th�nh suy nghĩ� Ch�nh sự suy nghĩ mới l� ch�nh.

Để v� dụ, t�i xin tr�ch lại một đọan trong truyện �Bệnh X� M�a Xu�n� đăng tr�n tạp ch� Văn trước 1975. Truyện kể về� giấc mơ h�a b�nh ngưng bắn qua những đối thọai trao đổi của những người thương bệnh binh:

Đ�m nay, l�c 7 giờ 30 ph�t, c� kẻ mở đ�i B.B.C. Bản tin đầu li�n quan đến t�nh h�nh VN. Giọng n�i của người nữ xướng ng�n đ�m nay bỗng trở n�n nghi�m trọng lạ l�ng. Dường như, l�c n�y con tim của n�ng đang h�a c�ng niềm vui trọng đại của đất nước n�ng. V� lũ thương binh cũng vậy. T�m hồn họ mở rộng, lồng ngực họ muốn vỡ tung. Họ ngất ng�y trong một gi�y ph�t. Bởi v� họ đ� biết được một sự thật. H�a b�nh sẽ đến. B�ng chim bồ c�u, lần n�y đ� thấy hiện trong c�i trời nhiễu nhương. Họ nh�n nhau, bằng �nh mắt long lanh. V� một thằng cụt tay thốt l�n đầu ti�n:

������� - Hai ng�y nữa. Trời ơi! Chỉ c�n hai ng�y nữa.

������� Thằng vừa băng bột ở ch�n phụ th�m:

������� - Hai ng�y thật d�i cho mọi người.

Thằng sốt r�t n�m mẩu thuốc qua � cửa:

������� - Nhất l� những kẻ đang ở ngo�i mặt trận. Đ�ng l� những kẻ đang sống v�o giờ thứ 25!

������� - C�n m�nh?

������� - Giờ thứ 24.

 

Tại sao l� giờ thứ 24. T�i muốn để người đọc suy nghĩ.

 

�..

 

Nửa đ�m, cả l�ng đ�m bỗng dưng bị dội l�n bởi những quả đạn rơi rất gần khu bệnh x�. Những tiếng la thất thanh. Ph�o k�ch! Ph�o k�ch! Tiếp sau l� những b�ng người vụt chạy ra hầm n�p ngo�i s�n. T�n thương binh cụt ch�n, trong cơn bấn loạn tột độ ngỡ m�nh vẫn c�n l�nh lặn như xưa, đ� �o nhảy xuống giường. Sau đ�, hắn mới biết được sự thật. Hắn �m kh�c đ�i r�n rỉ v� nằm ngay dưới nền. Hắn kh�ng c�n nhận ra cặp nạng nữa. Hắn th� th�o: "C�c bạn ơi, gi�p đỡ t�i! C�c bạn ơi!" Nhưng chẳng c� ai nghe tiếng van lơn của hắn cả. Họ đ� c� mặt trong hầm, hoặc nằm s�t xuống ch�n tường m� run rẩy. Chỉ c� mỗi người l�nh gi�- biệt danh l� �ng Gi� Si�u Điện, th� cơn m� sảng lại chợt k�o về như một trận b�o lốc. �ng h�t lớn:

- Si�u điện phản lực. Mồ cha qu�n b�n nước. N� tung ra những h�nh nh�n như l�nh trinh s�t. N� chạy v�o nh� thờ, giết cả th�nh thần. N� đến k�a. Bớ người ta!

 

Hai sự kiện m� t�i d�ng để l�m đậm th�m c�i � m� t�i muốn chuy�n chở trong truyện l� : cuối c�ng ngưng bắn chỉ l� giấc mơ tội nghiệp!

Đ� l� cảnh ngươi thương binh cụt ch�n cứ tưởng m�nh c�n l�nh lặn như xua. V� cảnh người l�nh gi� bị m� sảng. Cảnh tượng, t�nh huống c� vẽ kh�i h�i nhưng buồn đau đến n�o l�ng!

T�i th�nh thật muốn chia sẻ kinh nghiệm n�y. Kh�ng phải sống chưa đủ, m� c�n biết đặt sống th�nh sự suy nghĩ nữa.

Đặt sống th�nh suy nghĩ. Tư th�nh trong c� đơn.� Nh� văn Mai Thảo đ� nhận x�t về t�i khi �ng giới thiệu truyện Bệnh X� cuối năm tr�n tạp ch� Văn. T�i đ� sống, v� đ� suy nghĩ. Suy nghĩ nhiều lắm. Ch�nh v� thế m� t�i viết nhiều, rất nhiều. H�ng trăm truyện ngắn trước 1975, v� b�y giờ, cứ mỗi lần g� v�o b�n keyboard th� � tưởng lại l�e trong đầu.

 

Sống để viết, chứ kh�ng phải viết để m� sống. Tố Hữu, Chế Lan Vi�n, Huy Cận, Xu�n Diệu, Nguyễn Tu�n của một thời tiền chiến, sự nghiệp họ huy ho�ng v� họ sống để viết. C�n sau 1954, th� họ viết để sống. Họ đ�u c� bao giờ suy nghĩ. Bởi họ đ� trở th�nh thợ thơ, thợ văn.

 

Nguyễn Thị Hải H�: T�c giả n�o viết về chiến tranh Việt Nam m� anh ngưỡng mộ?

Trần Ho�i Thư: T�i th�ch Th�ng Ba G�y S�ng của Cao Xu�n Huy. �ng viết kh�ng cường điệu. C�i cảnh� những người l�nh Thủy Qu�n Lục Chiến c�ng nhau đồng loạt tự s�t bằng lựu đạn tr�n b�i biển Thuận An quả l�m t�i phải kh�c. L� nh� văn, l�m sao t�i c� thể n�i cho hết c�i cảnh qu� bi thiết qu� anh h�ng qu� lẫm liệt n�y. Người ta nhắc nhở v� kinh �phục c�i chết của c�c vị tướng l�nh như Nguyễn Khoa Nam, L� văn Hưng, L� Nguy�n Vỹ v.v. . . nhưng h�nh như đ� qu�n những người l�nh thấp h�n n�y. Họ kh�ng phải l� chiến sĩ v� danh để m� nhắm mắt mặc niệm. Họ c� t�n tuổi, c� thẻ b�i, đơn vị số qu�n đ�ng ho�ng m�.

 

Nguyễn Thị Hải H�: Khi l�m Thư Qu�n Bản Thảo anh chọn nhiều truyện ngắn v� thơ trước năm 75 để in lại, xin anh cho biết anh chọn theo ti�u chuẩn n�o? 

Trần Ho�i Thư: Những b�i văn, thơ một khi đăng tr�n những tạp ch� thời danh, c�c b�i ấy đ� được tuyển chọn kh� kỹ bởi một ban tuyển đọc hay bởi một vị chủ b�t nổi tiếng�

V� Thư Qu�n Bản Thảo chủ trương phục hồi di sản văn chương miền Nam n�n chủ trương của ch�ng t�i l� sưu tập hơn l� tuyển chọn. Bởi những t�c giả ấy đ� th�nh danh. T�i phải cố t�m nhiều chừng n�o hay chừng ấy, để thực hiện số chủ đề.

Kh�ng phải dễ d�ng g� để sưu tầm b�i vở. Chẳng lẽ click con chuột search Google tr�n Internet. Internet c� một �t, nhưng c� khi tam sao thất bổn. T�i cần phải đến Cornell hay Yale để sao chụp bản gốc. Kh�ng những t�m ở Văn hay B�ch Khoa hay Khởi H�nh m� t�m qua những lời đề nghị của th�n hữu. V� dụ khi nghe nh� nhận định Đặng Tiến đề nghị n�n c� thơ Ho�i Lữ, t�i lại l�i xe chạy đi Cornell bỏ nguy�n một ng�y t�m cho được mới th�i. T�i mượn hầu như tất cả c�c tạp ch� văn học miền Nam,� đọc từng mục lục� �Hay hỏi � kiến bạn b� về những t�c giả n�o họ th�ch, rồi ghi ra, rồi t�m hay nhờ bạn b� t�m hộ.

V� vậy, c�u hỏi về ti�u chuẩn tuyển chọn t�i nghĩ nếu đặt ở Gio-O th� th�ch hợp, c�n với TQBT th� kh�ng. Bởi lẽ ch�ng t�i t�m c�ch phục hồi di sản văn chương miền Nam, chứ kh�ng phải đi l�m c�ng việc tuyển chọn b�i vở cho những tuyển tập văn thơ như thường lệ.

 

Nguyễn Thị Hải H�: Những tuyển tập chọn in lại rất �t người nổi tiếng. C� những người chưa hề c� t�c phẩm trước năm 1975. Tại sao? 

Trần Ho�i Thư: T�i� l� một t�c giả viết văn l�m thơ theo đ�i gi�y trận. Nổi tr�i từ Trường Sơn xuống tận đầm lầy Đồng Th�p Mười. T�i nh�n bản th�n m�nh, lấy kinh nghiệm của ch�nh m�nh để m� th�ng cảm c�ng những người c�ng mang gi�ng m�u như t�i.

Một năm hai tuần ph�p thường ni�n, lấy th� giờ đ�u để mang bản thảo m�nh đi nạp bản, t�m nh� in, nh� ph�t h�nh.� Ch�ng t�i đ�u c� ở Saigon để m� được gặp �ng Nguyễn văn Th�nh như nh� văn Phan Nhật Nam đ� kể về l� do tại sao những t�c phẩm nữ được tr�ng giải thưởng văn học v� ngay cả t�c phẩm của �ng nữa được� th�nh h�nh khi �ng được blogger Ho�ng Lan Chi phỏng vấn:

�.. �ng Nguyễn Văn Th�nh trước kia b�n s�ch dạo cho con n�t trước chợ T�n Định. Khi kh�, �ng mở NXB Hiện Đại. �Đấy l� một người rất giỏi� PNN n�i. ��ng ta đ� lobby như thế n�o đ� để c�c t�c phẩm của Hiện Đại đồng loạt đoạt giải. Trong một năm, Tu� Hồng, Nh� Ca, Thuỵ Vũ đoạt giải thưởng 1,2,3 bộ m�n văn; Du Tử L� đoạt giải thơ với cuốn Đời Ở M�i Phương Đ�ng�, PNN tiếp: �Cũng qua b�n tay �ng nầy, M�a H� Đỏ Lửa mới th�nh h�nh v� nguy�n thủy chỉ l� những b�i đăng rải r�c ở S�ng Thần, Đời, Diểu H�u�� . �ng nầy c�n tạo n�n hiện tượng Lệ Hằng v� Việt H�a Nhạc Trẻ với những b�i h�t như � Thuở nhỏ em với anh chơi bắn s�ng ben..ben..�

Nhưng m�, một t�c giả c� nhiều t�c phẩm xuất bản chưa chắc l� t�c giả nổi tiếng. Ngược lại, một t�c giả kh�ng c� t�c phẩm xuất bản cũng chưa chắc l� t�c giả tầm thường. Một v� dụ l� thơ Vũ Hữu Định. Ai lại kh�ng nhớ những c�u thơ như Em Pleiku m� đỏ m�i hồng/Ở đ�y buổi chiều quanh năm m�a đ�ng� trong Một ch�t g� để nhớ�

Một v� dụ kh�c l� truyện d�i C�i Đ� V�ng của Nguyễn thị Thanh S�m do nh� An Ti�m xuất bản v�o năm 1972.�

Trước 1975 chẳng c� ai nhắc nhở n�. Để b�y giờ, nhờ một c� chủ Blog, n� mới được phục hồi. May m� Cornell c�n giữ n�. Nếu kh�ng văn học miền Nam sẽ mất đi một di sản văn chương rất gi� trị.

Đ� l� l� do giải th�ch tại sao ch�ng t�i lại chọn xuất bản những t�c phẩm m� t�c giả �t hay kh�ng được nhắc đến nhiều. Mấy vị t�n tuổi quen thuộc được nhắc nhở nhiều rồi, n�n nhường đất cho những t�c giả kh�c chứ ?

 

Nguyễn Thị Hải H�: Tại sao anh lại chọn c�ng việc in n�y, thời buổi n�y người ta xuất bản s�ch paperless? S�ch của Thư Qu�n Bảo Thảo rất tiểu c�ng nghệ. Anh c� vẻ y�u nỗi đẹp tuyệt vọng của s�ch b�o trong thời gian đầu của in tơ net đang chế ngự n�y.  Số in l� bao nhi�u? C� t�c phẩm n�o t�i bản nhiều lần kh�ng? Anh c� lợi nhuận kh�ng? Nếu kh�ng được l�m c�ng việc in s�ch anh sẽ l�m g�?

Trần Ho�i Thư: T�i bắt đầu nghĩ chuyện tự in ấn n�y sau khi xuất bản cuốn Ra Biển Gọi Thầm. T�i muốn tự in lấy t�c phẩm m�nh. Từ � định ấy t�i bắt đầu để t�m nghi�n cứu học� hỏi. C�ng ng�y t�i c�ng m� đắm. Từ m� đắm t�i c�ng nghĩ ra những s�ng kiến gi�p tự động h�a c�ng việc.

T�i lấy v� dụ l� việc xếp lằn trước khi d�n g�y. C�i m�y t�i mua chỉ xếp một lằn. T�i chế ra mỗi lần xếp l� xếp 4 lằn.

Hoặc m�y binding, nếu m� d�ng m�y mua ở thị trường, th� một lần binding chỉ �một cuốn. T�i chế ra c�i m�y một lần binding c� thể bind 12 cuốn.

V� rất nhiều rất nhiều s�ng kiến kh�c. T�i c� thể thực hiện mỗi ng�y khoảng 40 tập Thư Qu�n Bản Thảo d�y 300 trang mỗi cuốn.

Đối với t�i b�y giờ chuyện xuất bản s�ch như một tr� chơi qu� dễ d�ng. Kh�ng c�n l� chuyện mơ ước như ng�y xưa nữa.

V� xem chuyện in ấn như l� một �hobby� n�n t�i kh�ng kh�ng bận t�m đến chuyện tiền bạc. Vả lại đ�y l� phương ph�p �book on demand�, m�nh in theo nhu cầu. T�i c� thể in từ hai cuốn hoặc ba bốn trăm cuốn. Ai hỏi l� t�i in.

Đa số s�ch t�i in d�nh để tặng. Nhưng người� đọc họ thấy c�ng m�nh bỏ ra nhiều n�n họ gi�p cho tiền tem t�y t�m t�y hỉ.

Đ�ng, thời n�y l� thời của paperless. Ch�nh v� vậy. ai c�n nghĩ� đến di sản văn chương miền Nam, nghĩ đến �paper�� l� t�i rất tr�n trọng. Được tặng một người c�n tha thiết như vậy l� vui lắm rồi.

Nh� t�i hay đ�a với c�c bạn khi họ hỏi tiền bạc đ�u m� anh ấy cứ tặng free ho�i: ��ng ấy lấy c�ng l�m lỗ�.

Nhưng m� họ l�m sao biết, t�i đ� qu� lời. Thứ nhất l� c� một �hobby� ti�u khiển trong tuổi gi�. Thứ hai l� được c� th�m bạn vẫn c�n tha thiết đến di sản văn chương miền Nam. Thứ ba l� m�nh thực hiện được ho�i b�o của m�nh.

V�ng tiền bạc cần thật, nhưng chưa chắc mua được niềm vui m� m�nh mơ uớc.

 

 

 

 

Nguyễn Thị Hải H�: C� lần anh n�i trong một b�i phỏng vấn trước đ�y tr�n Thư Qu�n Bản Thảo anh n�i bộ Th�ng Tin ở S�i G�n kiểm duyệt cắt bỏ truyện của anh rất nhiều. Họ kiểm duyệt về điều g�? Nội dung như thế n�o th� kh�ng được in?

Trần Ho�i Thư: Trong một nước c� chiến tranh, kiểm duyện dĩ nhi�n l� một việc l�m cần thiết. V� dụ những bản tin tiết lộ b� mật quốc ph�ng chẳng hạn. Bởi vậy, ch�nh quyền mới lập ra một Sở chuy�n m�n kiểm duyệt s�ch b�o. Nhưng thực tế kh�ng phải vậy. C�c vị �s�t thủ đại hiệp� n�y, c� khi  lạm dụng quyền h�nh  một c�ch đến ngu xuẩn.

Phần lớn c�c truyện của t�i, chiến tranh l� đề t�i ch�nh. M� chiến tranh l� đồng nghĩa với bom đạn. Nhưng khi viết bom đạn, th� chữ bom bị  đục, chỉ c�n lại từ đạn chơ vơ.

Một v� dụ kh�c  ở trang truyện �Những cơn mơ cuối năm�. c�u văn gốc như thế n�y:

�:... khi tiếng c�i b�o động m�y bay Mỹ xuất hiện tr�n bầu trời th�nh phố, 

 

Th� bị kiểm duyệt đục ba chữ: m�y bay Mỹ:

... khi tiếng c�i b�o động���� xuất hiện tr�n bầu trời th�nh phố,

 

Việc Mỹ oanh tạc miền Bắc l� một việc đường ch�nh ch�nh, l� ch�nh s�ch của quốc gia, hằng ng�y những tin oanh tạc, những chiếc phản lực x� toang cả bầu trời, r�nh r�nh ra đ�, m� s�t thủ nh� ta lại kh�ng biết, lại đục mấy chữ m�y bay Mỹ ra khỏi c�u, chỉ để lại những chữ xuất hiện tr�n bầu trời� Vậy th� đục l�m g� chứ. Chẳng lẽ chim ch�c xuất hiện hay sao?

Một v� dụ kh�c l� trong một truyện ngắn của t�i tr�n B�ch Khoa, khi� viết về một buổi chiều phục k�ch tại một b�a l�ng, t�i c� cho nh�n vật �ng Tướng � người trung đội ph� gốc N�ng (t�n thật l� Lương văn Tướng) v�o trong truyện.� Chẳng hạn �n�y �ng Tướng, h�m nay tổ n�o trực�. T�i viết chữ Tướng với T hoa. Vậy m�  ng�i s�t thủ lại kết tội t�i chơi xỏ một �ng tướng n�o d�,  b�i tất cả những chữ Tướng trong b�i văn !�

Kể ra như thế để c�c bạn  hiểu về kiến thức tr�nh độ của c�c ng�i c�n bộ th�ng tin Bộ Cắt Đục (d�n sự) �cũng như về nỗi kh� khăn của người l�nh viết văn ch�ng t�i. Ch�ng t�i đ� chiến đấu thật sự để bảo vệ họ được ung dung ở Saigon. V� họ nh�n danh sự dốt n�t, để ch�m  đ�m những đứa con tinh thần của ch�ng t�i hết chỗ n�i.

Nhưng m� kh�ng sao. Ch�ng t�i  c� c�ch để tho�t khỏi lưỡi dao c�i k�o của họ.

Đ� l� gởi những b�i m� m�nh cảm thấy bị l�m kh� khăn cho� tờ Khởi H�nh � tuần b�o của Hội Văn Nghệ Sĩ qu�n đội.

V�ng chỉ c� tờ KH t�i mới c� thể viết bom đạn, hay ra lệnh �ng Tướng trung đội ph� của t�i m� kh�ng bị b�i đen. Chỉ c� tờ Khởi H�nh mới d�m đăng những truyện m� c�c b�o kh�c kh�ng d�m.

Nếu kh�ng c� tờ Khởi H�nh, chắc t�i sẽ kh�ng bao giờ c� được truyện B�n Kia Cầu để m� in th�nh s�ch, v� được tr�ch ra một đoạn cho b�i tản mạn n�y( Sau khi b�o B�ch Khoa trả lại bản thảo v� kh�ng d�m đăng):

L�ng t�i b�y giờ ảm đạm như bầu trời m�a đ�ng. Phải chi hai b�n đ�nh nhau tơi bời, để một b�n thắng, một b�n thua, ph�n minh, r� rệt. Nhưng ở đ�y chỉ l� nước mắt, khi những người đ�ng tuổi nội ngoại hay mẹ cha t�i lại lạy t�i như mưa bấc. Thắng g� khi hai đứa con của đơn vị đ� bị giết một c�ch v� l� m� ch�ng t�i vẫn kh�ng thể trả th�. Muốn tr�t cơn phẫn nộ l�n đầu đ�m d�n, muốn đốt hết nh�, đốt hết kho, muốn để l�nh bắt hết g�, hết vịt để trả th�, nhưng lương t�m kh�ng ổn. Trời ơi, trận chiến g� m� kỳ cục vậy. D� c� đại danh tướng như Napoleon cũng phải b� tay m� th�i.

Cuối c�ng ch�ng t�i được lệnh r�t qu�n. Ch�ng t�i trở lại cầu. Ch�ng t�i trở lại nơi hai thằng con bị kiến cắn. Mấy đứa con của trung đội Một bỗng nhi�n chỉa s�ng l�n trời bắn chỉ thi�n loạn xạ. Kh�ng thể tr�ch họ được. Họ tức giận đi�n cuồng bởi v� họ kh�ng thể trả th� cho bạn họ. V� họ chỉ biết tr�t hết nỗi phẫn uất n�y l�n trời. Chỉ tội nghiệp đ�m d�n lại một phen chạy t�m nơi tr� ẩn.

 

C� thể n�i,� Khởi H�nh cũng l� tuần b�o duy nhất d�m đăng� những b�i� văn/thơ m� c�c b�o kh�c kh�ng d�m. V� dụ điển h�nh l� những b�i thơ chống chiến tranh hạng nặng� của Nguyễn Bắc Sơn.

 

Nguyễn Thị Hải H�: Trong c�ng việc sưu tập, anh c� gặp kh� khăn g� kh�ng?

Trần Ho�i Thư: C�.� Nhiều khi bắt m�nh trở th�nh một th�m tử văn học. M�nh kh�ng thể biết nguồn n�o l� đ�ng nguồn n�o l� sai. Lấy một v� dụ về trường hợp Ph�ng Thăng v� Phạm Thi�n Thư. Cả hai đều c� ph�p danh v� b�t danh l� Tuệ Kh�ng. �Khi thực hiện chủ đề về nữ dịch gỉa Ph�ng Thăng, t�i được �ng Trần Xu�n Ki�m nguy�n l� phu qu�n của Ph�ng Thăng cung cấp những b�i vở do Ph�ng Thăng viết hay nghi�n cứu. Trong đ� c� b�i Vang b�ng Nguyễn Du. Tạp ch� Tư Tưởng, Viện Đại Vạn Hạnh, số 8 th�ng 12-1970, số Chuy�n đề về Nguyễn Du, tt.19-21. Nhưng b�t danh n�y lại tr�ng hợp với ph�p danh v� cũng l� b�t danh của thi sĩ Phạm Thi�n Thư. Sự tr�ng hợp n�y khiến những b�i viết của Ph�ng Thăng k� dưới� b�t hiệu Tuệ Kh�ng cho đến nay vẫn bị nhầm l� của Tuệ Kh�ng Phạm Thi�n Thư!

 

V� mới đ�y, t�i vừa t�m ra b�i thơ rất quen thuộc do Phạm Duy phổ nhạc, m� ai ai cũng biết l� thơ Phạm Thi�n Thư. Đ� l� b�i Ph�p Th�n trong 10 b�i Đạo Ca:

Xưa em l� kiếp chim, chết mục tr�n đường nhỏ 
Anh l�m cội băng mai, để tang em, chờ mấy thuở 
Xưa em l�m kiếp l�, rụng xuống l�ng suối thu ...

 

Nhưng tr�n tuần b�o Khởi H�nh số 24 ra ng�y 9-10-1969, b�i thơ n�y lại được k� bằng b�t hiệu Phạm văn B�nh. Chắc ai ai cũng biết nh� thơ Phạm văn B�nh c� những b�i thơ rất nổi tiếng, được Phạm Duy phổ nhạc chẳng hạn Mười hai th�ng qu�n đi (hay H�nh tr�nh của anh TQLC) hợac b�i �Lời T�nh Buồn� (tr�n NET tựa đề đổi th�nh Năm năm rồi kh�ng gặp)...

Mặc d�, theo � kiến c� nh�n, t�c gỉa b�i thơ n�y phải l� Phạm Thi�n Thư. Chỉ c� thi sĩ Pham Thi�n Thư mới mang đạo v�o thơ, d� l� thơ t�nh đi nữa.

Nếu quả thật � kiến c� nh�n của t�i l� đ�ng, t�i kh�ng biết nh� thơ Vi�n Linh - người chăm s�c b�i vở của Khởi H�nh c� đ�nh ch�nh chưa.

 

 

 

 

T�i mong nh� thơ Vi�n Linh - người chăm s�c b�i vở của tuần b�o Khởi H�nh trước 1975, nh� thơ Phạm Thi�n Thư, nh� thơ Phạm văn B�nh - cả ba đều c�n sống - l�m ơn giải tỏa d�m về sự tr�ng hợp n�y. Xin c�m ơn trước.

 

Nguyễn Thị Hải H�: Trong tất cả c�c t�c phẩm anh đ� in qua Thư Ấn Qu�n v� Thư Qu�n Bản Thảo, nếu phải chọn 10 t�c phẩm để đặc biệt giới thiệu, anh sẽ chọn t�c phẩm n�o, v� sao?

Trần Ho�i Thư: Nếu chọn, t�i sẽ chọn:

1. C�i Đ� V�ng của Nguyễn thị Thanh S�m

2. Hoa Daffodil Thắt B�m của Nguyễn �u Hồng. Đ�y l� một tập truyện mỏng về t�nh y�u.� Đẹp, rất� đẹp chẳng những trong t�nh y�u m� c�n ở chữ nghĩa. C� thể n�i từ trước đến nay chưa c� một t�c phẩm n�o viết về t�nh y�u d�nh cho mọi lứa tuổi. Từ tuổi 16 đến tuổi 80. Xin tr�ch một đọan kể về ph�t �hồi xu�n� của một b� l�o Mỹ 80 v� một �ng gi� người Việt :

Barbara cứ đứng một chỗ hết nh�n �ng T�n lại nh�n ra khu rừng. Rồi b� n�i nhỏ như th� thầm:

- Gọi t�n t�i một lần nữa đi T�n

- Barbara, b� c� sao kh�ng?

- Xin gọi t�n t�i�

- Barbara, t�i nghĩ ch�ng ta n�n đi v�o. Ở ngo�i n�y l�u sẽ bị cảm lạnh mất.

- Xin gọi t�n t�i, d��

- Barbara�

- Tiếng anh gọi t�n t�i nghe sao dịu ngọt như anh Jack y�u qu� của t�i gọi t�i l�c ch�ng t�i c�n tuổi trẻ.

�ng T�n tưởng Barbara bị mộng du n�n đặt hai tay l�n vai lay cho b� tỉnh. Barbara n�i, giọng mơ m�ng:

- T�n ơi, anh �m t�i đi. Xin vui l�ng cho t�i một v�ng tay �m.
�ng T�n hơi ngập ngừng, nhưng giọng n�i v� �nh mắt của Barbara van n�i tha thiết qu� khiến �ng kh�ng dừng được. �ng bước tới một bước, v�ng tay quanh người Barbara, một v�ng tay � Đ�ng nhưng nhờ thường xuy�n tập tạ n�n cũng kh�ng đến nỗi qu� nhỏ b� so với th�n h�nh to lớn của người đ�n b�, rồi với tất cả sức mạnh của một người l�m vườn chuy�n nghiệp, anh siết thật mạnh v� giữ chặt thật l�u. Đ�y chắc l� một v�ng tay �m nhớ đời. Họ đứng y�n một chặp, c� cảm gi�c như quả đất cũng đứng y�n. Bỗng �ng T�n đ�m hoảng: tấm th�n đồ sộ chắc nịch của Barbara trong v�ng tay �ng như tan chảy, mềm dần rồi nhũn xuống như cọng b�n. �ng xiểng liểng phải dựa v�o một g�c th�ng gần đ� mới kh�ng bị ng�

3. Bộ Thơ Miền Nam gồm 5 cuốn.

4. Bộ Văn miền Nam gồm 4 cuốn

5. Chiến tranh VN V� T�i (thơ Nguyễn bắc Sơn)

6. Vũ trụ Thơ của Đặng Tiến (tập 1 v� 2)

7. Thơ Vũ Hữu Định To�n Tập

8. Lẽo Đẽo Một Phương Qu� thơ Từ Thế Mộng

9. Kỷ vật Cho Em thi phẩm của Linh Phương

10. Thư Qu�n Bản Thảo số 61: Hiện tượng nh� văn nữ

 

Nguyễn Thị Hải H�: Vụ Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, anh nh�n thấy c�i vẻ ph� phiếm của những kẻ muốn duy tr� nh�n quan chiến tranh theo khả năng t�i chế của họ. Anh phải n�i như thế n�o về những người Mỹ đ� bảo trợ để in t�c phẩm n�y trong khi họ lại kh�ng bảo trợ in một t�c giả l�nh Miền Nam.

Trần Ho�i Thư:� Quyển Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh sở dĩ được đ�n nhận nồng nhiệt l� v� từ mấy mươi năm chiến tranh v� chế độ CS ở miền Bắc, cửa kh�p k�n. Nay c�nh cửa ấy mở ra. C�n miền Nam, nỗi buồn chiến tranh đ� được n�i qu� nhiều, qua c�c bộ m�n văn học nghệ thuật trong mấy mươi năm chiến tranh.... Nhiều đến độ nh�m ch�n....

Một l� do ch�nh cho sự đ�n nhận n�y l�, theo những nh� nhận định, ph� b�nh, v� dụ �ng Phạm Việt Cường, ngay tr�n lời bạt của t�c phẩm m� t�i được đọc ở Mỹ� đại � cho rằng Nỗi Buồn Chiến Tranh l� t�c phẩm trung thật nhất trong chiến tranh về Việt Nam từ trước tới nay.

Trung thật ở chỗ n�o khi một to�n th�m b�o bị bắt ngay ở trong mật khu chỉ c� ba người, m� to�n trưởng l� một trung �y, dẫn mấy chị nu�i đi ra bờ s�ng rồi trấn nước sau khi thỏa mản th� t�nh khi vai tr� th�m b�o l� săn tin, l� đột nhập mật khu địch để l�m c�ng t�c t�nh b�o, l� bảo mật tối đa... Họ phải được huấn luyện thật kỹ về mưu sinh tho�t hiểm.. Họ được trực thăng thả xuống địa điểm l�m ăn, họ phải lội cả mấy c�y số để x�m nhập mật khu. Nhiệm vụ họ l� b�o c�o về Bộ chỉ huy địch đ�ng hay �t, hay kiểm chứng những nguồn tin t�nh b�o c� x�c thật hay kh�ng. N�i t�m lại, l� nhiệm vụ họ rất ư l� nguy hiểm, chết sống trong đường tơ kẻ t�c.

C� thể l� �ng Phạm Việt Cường hay những nh� ph� b�nh văn học n�o đ� kh�ng c� kinh nghiệm về vai tr� th�m b�o. Nhưng nếu kh�ng c� kinh nghiệm th� đừng bảo l� trung thật. Hay trước khi ph� ph�n xin vui l�ng t�m hiểu về vai tr� th�m b�o (Tiếng Mỹ l� highland scout hay ranger scout) tr�n Internet.

Đ� l� Bảo Ninh. C�n Hồ Anh Th�i th� độc địa hơn, khi tả lại cảnh to�n th�m b�o bắt một t� binh, mổ lấy trứng d�i (tinh ho�n), nổi lửa giữa mật khu để c�ng nhau nướng nhậu. Tả g� m� tả qu� khủng khiếp gh� rợn. Bộ nổi lửa để "lạy �ng t�i ở bụi n�y" � ?

B�y giờ lịch sử dần dần c�ng mở ra c�nh cửa. M� g�p phần lớn l� Internet v� những Blog, Facebook, forum... Giới trẻ kh�ng c�n bị b�t b�ng kiến thức v� tầm nh�n như cha anh họ nữa.
Vấn đề ch�nh l� ai n�i l�n sự thật n�y, cho d� c�i c�u "Của Caesar phải được trả lại Caesar" vẫn hằng xem l� c�u ch�m ng�n. Lấy ai để t�m c�i "của" n�y ?

Đ� l� l� do tại sao t�i viết b�i đối thoại với nh� văn Bảo Ninh. Kh�ng phải chỉ ri�ng nhắm v�o �ng ta m� c�n cho những người xem Nỗi Buồn Chiến Tranh l� trung thật. T�i chỉ c� thể l�m trong khả năng của t�i, c�n những chuyện lớn lao kh�c, những c�u hỏi lớn lao kh�c m� Gio-O đặt ra cho t�i, t�i xin được miễn trả lời, v� t�i kh�ng bao giờ nghĩ đến hay qu� tầm mức hiểu biết của m�nh.

 

Nguyễn Thị Hải H�: Người đọc n�n đọc kỹ phần n�o ở c�c s�ng t�c trong chiến tranh của Trần H�ai Thư ? Những phần m� c�c nh� ph� b�nh từ trước đến nay đ� kh�ng nh�n thấy hay đ� kh�ng c�ng bằng với một t�c giả l�nh của Miền Nam, ở đ�y anh c� thể tiết lộ cho c�c độc giả Gi� O như một trao đổi th�n thiện ?

Trần Ho�i Thư: Sau khi S�ng Tạo chết v�o năm 1961, gi�ng văn học chiến tranh bắt đầu th�nh h�nh, m� tạp ch� Văn số 8 năm 1964 với chủ đề �thơ văn c� lửa� như một dự b�o về m�t nền văn học kh�c. Đ� l� văn học chiến tranh� Từ đ�, m�i đến 1975, c� biết bao nhi�u b�i vở s�ng t�c viết về chiến tranh được xuất hiện tr�n c�c tạp ch� văn học thời danh bấy giờ. Văn chương miền Nam cũng di tản từ th�nh thị ra ngo�i c�c tiền đồn, c�c thị trấn heo h�t, c�c căn cứ tr�n miền cao, hay theo bước gi�y trận của những người viết trẻ. Lớp người viết cho S�ng Tạo kh�ng c�n viết mạnh như xưa. Thanh T�m Tuyền bị bế tắc, ch�nh �ng th� nhận trong tạp b�t "�m Bản" đăng tr�n tạp ch� Khởi H�nh: "Đ� l�u lắm t�i kh�ng l�m thơ. C� đến mười năm. Tập thơ cuối c�ng đ� l�m hồi 59-60..." (tạp ch� Khởi H�nh số 51, năm 1970).

Sự xuất hiện của lớp nh� văn trẻ n�y thật rầm rộ, hầu như b�t danh của họ tr�n ngập chẳng những tr�n Khởi H�nh, Văn, B�ch Khoa, m� cả Tr�nh B�y, Văn Học, Nghi�n Cứu Văn Học� Ch�nh họ đ� nu�i dưỡng những tạp ch� văn� học ở Saigon. Người đọc kh�ng phải v� Mai Thảo, V� Phiến, B�nh Nguy�n Lộc, Sơn Nam�m� mua Văn hay Khởi H�nh, m� v� những tạp ch� ấy đ� đăng những b�i vở rất gần gũi với họ.

C� điều l� lớp nh� văn trẻ n�y �t c� người c� t�c phẩm xuất bản để được c�c nh� ph� b�nh để mắt đến. V� sao? V� họ, phần lớn l� l�nh tr�ng, đ�u c� dịp để về Saigon như một số nh� văn nh� thơ ở Saigon. V� họ, đ�u c� cơ hội ở Saigon như nh� văn Nh� Ca, Nguyễn thị Ho�ng viết miệt viết m�i. Mỗi năm ra đến 4, 5 t�c phẩm. Nhưng m�, với 700 hội vi�n của Hội Văn Nghệ Sĩ Qu�n đội, v� tr�n hai trăm nh� thơ m� t�i sưu tầm cho Bộ Thơ Miền Nam thời chiến tr�n c�c b�o thời danh bấy giờ, trong khi S�ng Tạo chỉ khoảng 15 người hay tối đa l� 20 người.

Vậy m� c� nh� ph� b�nh n�o viết về d�ng văn chương n�y?

Trong khi đ�m ph� b�nh miền Bắc th� lu�n lu�n xem văn học miền Nam l� văn học đ� thị, n� dịch, l� �m mưu của đế quốc Mỹ, l� ch�nh s�ch th�m độc thực d�n kiểu mới v.v� .

Họ chỉ nhắc đến S�ng Tạo, đến những c�y b�t nữ, đến những t�c phẩm của c�c t�c giả ở Saigon, nhưng c� mấy ai nhắc đến sự đ�ng g�p v� c�ng to lớn của những người trẻ vừa cầm viết v� cầm s�ng ở ngo�i v�ng đai ?

Đ� l� l� do t�i k�u gọi sự c�ng bằng.

 

Nguyễn Thị Hải H�: Hẳn l� anh nh�n thấy sự chiến thắng của Văn Học Miền Nam khi anh ra ngo�i nước. B�y giờ người ta t�m đọc Văn Học Miền Nam như đọc những hải đăng hiếm v� qu�. Anh muốn nh�n thấy g� trong văn chương ở hải ngoại? Anh c� lời nhắn gửi g� với những người viết b�y giờ v� mai sau kh�ng?

Trần Ho�i Thư: V�ng, t�i đ� thấy, ng�y tiếp ng�y th�ng tiếp th�ng, v� năm tiếp năm. Suốt 14 năm nay qua việc thực hiện tạp ch� Thư Qu�n Bản Thảo v� việc truy tầm xuất bản hay t�i bản c�c t�c phẩm miền Nam trước 1975. Điều đ�ng kể nhất l� mới đ�y, tr�n Blog VanViet, những người chủ trương văn đ�n n�y đ� c�ng khai n�i về sự nhầm lẫn của họ khi họ nghĩ văn chương miền Nam l� văn chương đ� thị. Đ� l� dấu hiệu bắt đầu cho một sự c�ng nhận một c�ch c�ng khai, v� cũng l� dấu hiệu để ch�ng ta c� quyền n�i với con ch�u ch�ng ta trong cũng như ngo�i nước về một nền văn chương của con người, v� con người, tự do, nh�n bản.

Nhưng m� t�m đ�u ra những di sản n�y để m� phục hồi để con ch�u ch�ng ta biết thế n�o l� một nền văn chương� đ�ch thật. V�ng, rất giản dị. T�m ở thư viện đại học Hoa Kỳ. T�m ở c�c thư viện trong nước. T�i nghĩ nếu ai c�n tha thiết th� xin ra tay. Chứ cứ n�i kh�ng th� biết đến khi n�o.

T�i: l�o gi� mắt mờ tay run, một đ�ng phải chăm s�c người bạn đời chẳng may bị khổ nạn nan y, một đ�ng phải lo tờ b�o, ở một nơi heo h�t, �t người Việt,� m� c�n l�m� được th� những người mạnh khỏe dồi d�o tiền bạc dồi d�o phương tiện gấp trăm ng�n lần hơn t�i, lẽ n�o kh�ng l�m được hay sao?

Ri�ng c�u hỏi về văn học hải ngoại t�i nghĩ l� kh�ng c�n cần thiết nữa. Khi một t�c giả gởi cho Gio_O với địa chỉ Yahoo.com hay gmail.com� Gio_O c� biết người gởi ở Việt Nam hay ở Mỹ ?

 

Nguyễn Thị Hải H�

 

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html

 

 

� gio-o.com 2014