Nguyễn Thị Hải H�

đọc

do Gi� O tuyển chọn


T�i kh�ng nhớ t�i bắt đầu được tiếp x�c với thơ từ l�c n�o. C� lẽ từ khi t�i nghe những c�u h� điệu h�t ru em. V�o tiểu học t�i th�ch những b�i thuộc l�ng v� đ� l� những c�u thơ c� vần v� gi�u �m điệu. B�i học thuộc l�ng t�i học từ năm lớp Ba đến giờ n�y t�i vẫn c�n nhớ nguy�n b�i bắt đầu với những c�u:

Khi kh�n lớn rộng đường ra hải ngoại 
Nếu c� người muốn biết r� qu� em
Mở bản đồ em sẽ chỉ người xem
Đ�y nước Việt bốn ng�n năm y�u qu�
[1]
. . .
 

Dịch giả Nguyễn Ngọc B�ch nhận x�t �Người Việt thường tự xem m�nh l� nh� thơ. . .nguy�n văn �The Vietnamese like to think of themselves as having always been poets...�[2] �ng cũng n�i th�m điều tự nhận n�y tuy dễ bị xem l� ph�ng đại cũng chuy�n chở phần n�o sự thật. Với t�i th� kh�c. Nếu thơ l� t�n gi�o của thi sĩ th� t�i l� người ngoại đạo. T�i kh�ng c� khả năng s�ng t�c thơ d� t�i th�ch đọc thơ. T�i tr�ch dẫn c�u văn tr�n để n�i rằng v� nhiều người Việt Nam l�m thơ, thơ trở n�n phổ th�ng v� đến với người đọc rất tự nhi�n. C� thể n�i thế hệ của ch�ng t�i, người n�o cũng biết v�i b�i thơ, thuộc v�i c�u thơ. Thơ l�m t�i ngẩn ngơ, tự hỏi v� sao chỉ v�i c�u, một số chữ, nh� thơ c� thể tạo n�n � tứ, �m điệu, v� h�nh ảnh để chuy�n chở cảm x�c l�m rung động người đọc như thế. Thơ, lu�n l� một c�i g� rất kỳ diệu, như �nh trăng rơi tr�n l�ng b�n tay, thấy nhưng kh�ng nắm bắt được.

Ba trăm hai mươi mốt b�i thơ t�nh viết trước th�ng 4 năm 1975 của ba trăm hai mươi mốt nh� thơ miền Nam do chị Lệ Liễu chủ bi�n sưu tập v� tuyển chọn, những nh� thơ n�y l� ai? B�n cạnh c�c t�n tuổi lớn như Nguy�n Sa, Nguyễn Tất Nhi�n, Vũ Ho�ng Chương, Thanh T�m Tuyền, Vũ Hữu Định, Trần Dạ Từ. . . số c�n lại l� đ�m đ�ng thầm lặng, l� sinh vi�n, học sinh, qu�n nh�n, kh�ch h�ng của qu�n c� ph�, những kẻ rong chơi, v� c� rất nhiều anh ch�ng. . . m� g�i. Chỉ dựa v�o c�c dữ kiện chị Lệ Liễu cung cấp, c� độ chừng một trăm t�c giả sinh v�o thập ni�n 40, hơn chục t�c giả sinh v�o thập ni�n 50, năm mươi t�c giả sinh v�o thập ni�n 30 v� chỉ dăm ba t�c giả của thập ni�n 20 hay trước nữa. Cao tuổi nhất l� cố thi sĩ Đ�ng Hồ sinh năm 1906 v� trẻ tuổi nhất l� nh� thơ Nguyễn Nhật �nh sinh năm 1955. Do ho�n cảnh, �ch�ng ta kh� biết r� r�ng v� ch�nh x�c th�n thế t�c giả của những b�i thơ n�y, ngoại trừ một số nh� thơ hiện nay sống ở hải ngoại v� vẫn tiếp tục l�m thơ; tuy nhi�n, ch�ng ta c� thể nh�n thấy b�ng d�ng t�c giả qua lời thơ bởi v� �The poet is a reporter interviewing his own heart.�[3] (Thi sĩ l� người ph�ng vi�n tự phỏng vấn t�m hồn). Kh�c với người viết truyện ngắn hay tiểu thuyết, c� thể x�y dựng nh�n vật kh�ng mang b�ng d�ng t�c giả, thơ ph�t xuất từ t�m hồn v� v� thức của nh� thơ v� thế nh�n vật trong thơ phần lớn l� h�nh ảnh của t�c giả. Harold Bloom, học giả v� ph� b�nh gia người Hoa Kỳ quan niệm rằng thơ chỉ l� những ứng đối lập luận của c�c nh� thơ với nhau, của người l�m thơ thời sau trả lời với người l�m thơ thời trước c� thơ hay v� nổi tiếng hơn (lớp hậu bối)[4]. Độc giả c� thể kh�ng đồng � với �ng gi� �rộng họng� n�y nhưng t�i tạm tin v�o lập luận của �ng. T�i muốn t�m hiểu ba trăm hai mươi mốt nh� thơ n�y n�i g� với nhau, với thế hệ của họ, v� với thế hệ trước họ. Người đọc thời bấy giờ cảm nhận b�i thơ theo t�m thức của người thời bấy giờ. T�i thuộc lớp hậu sinh muốn t�m hiểu quan niệm về t�nh y�u trong x� hội miền Nam l�c bấy giờ m� c�c nh� thơ đ� bộc lộ qua những c�u thơ họ viết. 

Thơ l� bức tranh biết n�i, tranh l� b�i thơ kh�ng lời.�[5] Nh� thơ bộc lộ những khoảnh khắc của t�m hồn đồng thời cũng vẽ lại bức tranh của x� hội. T�i ngạc nhi�n v� th� vị khi nhận thấy rằng d� sống trong chiến tranh triền mi�n, c�c nh� thơ đ� kh�ng o�n gh�t x� hội hay th� hận đối phương. Họ gh�t chiến tranh, xem chiến tranh như một đại họa đến từ b�n ngo�i chứ kh�ng ph�t xuất từ x� hội họ đang sống. Họ kh�ng xem những người chiến đấu b�n kia chiến tuyến với họ l� kẻ th�, kh�ng mơ ước một ng�y n�o đ� sẽ chiến thắng kẻ th�. Suốt ba trăm hai mươi mốt b�i thơ t�i kh�ng nhớ đ� một lần n�o nh�n thấy chữ chiến thắng hay chiến bại. 

Họ, c�c nh� thơ trong tuyển tập Thơ T�nh Miền Nam, vẫn c�n mang n�t l�ng mạn của c�c nh� thơ thuộc thế hệ trước như Xu�n Diệu, H�n Mặc Tử, v� Lưu Trọng Lư. Họ c�ng biểu lộ mơ ước y�u v� được y�u. T�nh y�u ở đ�y kh�ng chỉ giới hạn ở t�nh y�u trai g�i m� nới rộng ra cho cả t�nh y�u qu� hương v� đồng b�o. Họ mơ ước h�a b�nh về tr�n qu� hương Việt Nam. Họ ph�c họa ho�n cảnh x� hội của những năm c�
 ��nh s�ng hỏa ch�u rọi đường trong đ�m sương m�,� v� �đ�i mắt van lơn trước hầm gi�y th�p gai� (Đ�o Trường Ph�c, Thư T�nh M�a Hạ).

Trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương t�n, ho�n cảnh đất nước bị chia cắt, Chu Sơn đ� bộc lộ ước mơ thống nhất.
 

em chẳng đến chẳng đi

ta chẳng t�m chẳng đợi

S�i G�n kh�ng xa H� Nội cũng kh�ng xa

c�t bụi mười phương họp về chung một chiếu

rong r�u khắp thế giới ba ng�n

c�ng h�t b�i ca huyền diệu

(Chu Sơn, B�i Ca Chuyển Kiếp, Tập san TƯ TƯỞNG số 8 Năm thứ Tư th�ng 10 năm 1971)

Trong khi đất nước đang mong chờ h�a b�nh về với hiệp định Gen�ve, Trần Dzạ Lữ b�y tỏ ước mơ:

Gắng l�n em, h�a b�nh sắp l� dạng

Ta sẽ về đồng ruộng dưới qu� xưa

H�n l� h�n c�y h�n trời h�n đất

Sau chiến tranh, t�nh nối lại đ�i bờ
(Trần Dzạ Lữ, Thư Cho Người, B�ch Khoa số C, ng�y 14-12-1972)

Đỗ Chu Thăng mơ ước ng�y h�a b�nh, được trở lại ng�i trường tiểu học nơi c� c� gi�o trẻ, v� �ng sẽ:


Tr�n bục gỗ anh t�m hương ng�y cũ

Nơi trang b�i tuổi đợi giấc mơ xu�n
. . .
 
Như hong ấm m�n t�nh xưa đ� nguội

Trời th�ng hai gay gắt nắng hung v�ng
(Đỗ Chu Thăng, Hong Ch�t T�nh Xưa)

 

Hạ Đ�nh Thao nhớ nhung: 

Vẫn phải hẹn như những m�a xu�n trước

Sẽ về thăm một bận x�m l�ng xưa

Đ� mấy năm trời qu� người xu�i ngược

Vẫn thương ho�i giọng h�t bến đ� trưa

�ng mong t�m lại h�nh ảnh mẹ gi� với chợ l�ng:

 

Quang g�nh mẹ những sớm chiều tần tảo

Chợ l�ng xa, thiếu hụt sống qua ng�y

Chừng năm th�ng cũng quen niềm cơm �o

G�i trọn cuộc đời trăm mối chua cay.
(Hạ Đ�nh Thao, T�nh Xu�n, B�ch Khoa số 315, ng�y 15-2-1970)

Chiến tranh g�y ph�n ly. Trong khi người ở lại qu� nh� mong chờ chinh nh�n như sương kh�i th� Ho�ng Ngọc Ch�u nơi bi�n ải mơ m�u �o người thấp tho�ng b�n bờ dậu cố hương:

Bao nhi�u rượu uống cũng kh�ng vừa

Ơi �o ai v�ng cuối dậu thưa

Người c� về qua vườn hạnh cũ

L�ng son thiếu nữ c� như mơ

 

Rượu ơi sao rượu m�i chưa c�ng

Say với ta m� mơ cố hương

Nam nhi chinh chiến hề quan ải

Chinh chiến người đi như kh�i sương  

(Ho�ng Ngọc Ch�u, Chiều Quan Ải, B�ch Khoa số 318,1 th�ng 4 năm 1970)

Nhu cầu của con người l� thương y�u v� được thương y�u. Mấy mươi năm chiến tranh đ� l�m tan n�t bao nhi�u cuộc t�nh v� thế thơ t�nh miền Nam thường biểu lộ nỗi buồn của chia ly, tan vỡ v� mơ ước được trở về, ở gần b�n để được đưa đ�n người y�u. 

Anh đi rồi c�n ai đưa đ�n 
�o em bay khuất mất thi�n đường 
Tuổi hai mươi v�ng tay n�u gọi 
Ng�n ngữ n�o anh n�i y�u thương
 
 
(Chu Trầm Nguy�n Minh, Lời T�nh Buồn)

T� Th�y Y�n, tuyệt vọng trong nỗi chia xa, đ� ngậm ng�i than:

Anh y�u em, y�u nuối tuổi hai mươi, 
Thấy trong l�ng đời nở thật lẻ loi 
Một c�nh mai nhị độ. 
Thấy t�nh y�u như vận hội t�n đời 
Để x� m�nh khỏi �c mộng 
M� người đ�n �ng m� tưởng suốt thanh xu�n. 

�i t�nh y�u, bằng chứng huy ho�ng của thất bại !
(T� Th�y Y�n, Chiều Tr�n Ph� Tam Giang)

Cũng trong b�i thơ n�y T� Th�y Y�n đ� mơ ước một cuộc đ�m đạo với người l�nh b�n kia chiến tuyến:


Khi tưởng tượng ngươi c�ng ta gặp gỡ

�i c�i �m n�o ngươi vốn kh�ng tin

Hỏi nhau chơi thỏa ch�t t�nh b�ng đ�a:

Người c�ng ta ai thật sự hy sinh

Cho tổ quốc Việt Nam � một tổ quốc...?


C� t�nh y�u n�o m� kh�ng mơ ước được hạnh ph�c, Trần Ki�u Bạt b�y tỏ sự mơ ước n�y trong b�i thơ kh�ng vần:

M�a thu n�o anh ước mơ cừng em đi về

khu vườn địa đ�ng � giăng tay h�i sao

l�m hạt giống trồng c�y �i �n giữa l�ng

thung lũng in đầy những dấu ch�n chim.
(Trần Ki�u Bạt, Kh�c M�a Thu, tr�ch tuyển tập thơ L� - nhiều t�c giả - Hồn Trẻ 20 xuất bản tại S�ig�n 1967)

�Cuộc sống thường ng�y được chụp bắt trong c�c bức ảnh l�m bằng những chữ, v� đ�i khi ta thấy cuộc sống kh�ng phải lu�n l� dễ chịu. Tuy nhi�n thi ca kh�ng buộc phải nắm bắt điều dễ chịu, đ�ng hơn l� n� nắm bắt c�i yếu t�nh v� linh hồn của trải nghiệm thường ng�y.�
[6] Đ� c� lần t�i nhận x�t kh� m� t�ch rời người l�nh, nh� văn, v� nh� thơ trong t�c giả Trần Ho�i Thư v� nhận x�t n�y được x�c định khi người l�nh đ� d�ng thơ kể lại trải nghiệm một ng�y nh�n rỗi v� kh�ng phải đi h�nh qu�n.  Một ng�y kh�ng dễ chịu với k� ức đau buồn của cuộc chiến nh� thơ b�y tỏ mơ ước x�a bỏ bi�n giới th� hận giữa hai người l�nh của hai miền: 

Nhớ n� ng� nh�o tr�n bờ đ� x�m

Thấy cả ngọn đồi những x�c Bắc Nam

 

C� h�ng ơi cho một ly kh�ng

T�i r�t mời một người l�nh Bắc

Hắn nằm banh th�y dưới hầm b� mật

Tr�n người vẫn c�n s�t lại b�i thơ

Tr�n  đồi cao, m�y vẫn xanh lơ

C� con bướm v�ng dịu d�ng dưới nắng

T�i với hắn, đ�u c� g� thống hận

B�i thơ n�o cũng viết để y�u em

(Trần Ho�i Thư, Một Ng�y Kh�ng H�nh Qu�n)


C� lẽ chỉ c� người l�nh mới thấu đ�o sự gian tru�n trong cuộc đời qu�n ngũ. Trong khi những người trang lứa ngồi trong lớp học hay đi phố với người y�u, c� một người l�nh trong c�i nắng thi�u người, tự nguyện l�m kẻ ăn xin, cầu với đấng tối cao, kh�ng phải cho hạnh ph�c bản th�n m� cho niềm tin của nh�n loại.

Mười hai giờ trưa mặt trời đứng b�ng

Ngả mũ sắt ngồi l�n

L�m t�n h�nh khất

Để m� cầu xin

Kh�ng  phải cho l�nh th� chết hết

Nhưng cho con người niềm tin
(� Y�n, Lời Nguyện Giờ Trưa, Tạp ch� B�ch Khoa số  308, ng�y 1 th�ng 11 năm 1969)


Với hơn ba trăm b�i thơ, để tr�nh t�nh trạng bối rối của người bị lạc v�o rừng thơ, t�i chia ra c�c b�i thơ n�y th�nh nhiều nh�m nhỏ. Nhiều nhất l� số b�i thơ về t�nh y�u lứa đ�i diễn tả nhớ nhung, giận hờn, mơ mộng, tan vỡ, . . . của c�c t�c giả danh tiếng như Nguy�n Sa, Du Tử L�, Ho�ng Anh Tuấn, Ho�ng Tr�c Ly, Nguyễn� Tất Nhi�n, Trần Huiền �n, Trần thị Tuệ Mai, Minh Đức Ho�i Trinh, c�ng với nhiều nh� thơ danh tiếng kh�c. Những b�i thơ t�nh n�y chiếm được l�ng y�u của độc giả v� rất phổ biến qua những ca kh�c. Kế đ� l� số b�i thơ viết về t�nh y�u trong chiến tranh nổi tiếng kh�ng k�m của c�c t�c giả Linh Phương, L� thị �, L� Thụy �, . . . những b�i thơ n�y t�i xin được viết ri�ng trong một dịp kh�c. Trong b�i n�y t�i xin giới hạn sự t�m hiểu của t�i về chủ đề t�nh dục trong thơ t�nh miền Nam với một v�i chi tiết t�i cho l� th� vị. Người đang y�u c� nhu cầu n�i về c�i hay c�i đẹp của người y�u. C�c nh� thơ trong khi say sưa biểu lộ t�nh y�u qua thi ca cũng n�i l�n quan niệm thẫm mỹ của họ. N�ng thơ thường l� người đẹp. Người đẹp c� mắt nai, m�i hồng, d�ng gầy như hạc, b�n tay thon, �o d�i trắng, g�t ch�n son, v� t�c m�y.

Qua vườn b�ng vải nghe chim

Trắng hoa l� nhớ người em thuở n�o

Mười năm s�ch vở ra sao?

Rừng m�y t�c rũ ta xao xuyến lời

(Cao Trường Huy, Qua Vườn B�ng Vải, B�ch Khoa 380, th�ng 11-1972)

T�c mềm bềnh bồng như m�y nhưng đủ quấn rối l�m Nguyễn Tất Nhi�n
 �quị t� tr�n đường rồi, sợi t�c �m ch�n người.�
 

Chu Ngạn Thư ngấm biểu lộ chi tiết t�nh dục qua h�nh ảnh ngậm t�c người t�nh tr�n m�i:

dẫu g� th� anh cũng đ� y�u em

giữa sương sớm, ng�y nồng v� đ�m mượt

anh đ� y�u n�n l�ng như lễ rước

t�c mai người ngậm ngọt ngang m�i

ẩn chứa dấu vết cuồng nhiệt của �i �n qua dấu răng

dẫu g� th� ta chẳng thể chia ph�i

khi t�nh đ� tụ n�n rừng cỏ ngọt

dẫu g� th� chiếc răng thơm đ� tr�t

vỡ tr�n vai từng dấu vết nồng n�n
(Chu Ngạn Thư, Những Ng�y Xa C�ch)


C�i đẹp của phụ nữ l� những n�t dịu d�ng, mong manh như trinh nữ nhẹ nh�ng như m�a Thu:

Bước rất nhẹ như vẫn c�n đứng lại

Bước rất nhẹ như m�a Thu con g�i

Như b�n tay khẽ h�i tiếng đ�n tranh

Như chưa lần n�o em n�i: y�u anh
(Ho�ng Anh Tuấn, B�i Thơ C�n Lại)

 

Thơ t�nh trong chiến tranh n�i về sự chia xa, nỗi ngậm ng�i của sương phụ, c�i đau đớn của người tật nguyền đ�ng được tr�n trọng ch� � bằng một b�i viết d�nh ri�ng cho chủ đề n�y; tuy nhi�n, t�i xin được đề cập tho�ng qua v� kh�ng thể n�o kh�ng ch� � đến nỗi đau chất ngất giữa những h�ng chữ trong thơ. 

Lỡ mai ho� b�nh ta về xe đẩy

Chiều qua nh� em c� tiếng ai cười

Ngỡ ng�ng về nhanh b�n tay run rẩy

C�i xuống vụng về để nước mắt rơi

 

Lỡ mai ho� b�nh ta về nạng gỗ

Khập khễnh bước đi buồn kh�c một m�nh

Em ở lầu cao gieo cầu chọn lựa

Họ chen lấn gi�nh ta đứng l�m thinh.
(Hồ Ch� Bửu, Chiều Nằm Tr�n L� Cốt)

Người ngo�i mặt trận thương nhớ người nơi qu� nh�:

em ở đầu kia cuộn chỉ thần
tho�ng nghe t�n bạo tiếng thời gian
chừng đ�i năm nữa khi rời l�nh
t�i sẽ l�n rừng sống ẩn th�n

(L�m Hảo Dũng, T�i Vẫn Biết Em Buồn B�n M�i L�)

v� những giọt nước mắt nhỏ cho người nằm xuống m� cũng kh�c cho phận đ�n b�:

Ng�y mai đi nhận x�c chồng

Say đi để thấy m�nh kh�ng l� m�nh

Say đi cho r� người t�nh

Cuồng si độ ấy hiển linh b�y giờ

Cao nguy�n hoang lạnh ơ hờ

Như m�i thiếu phụ nhạt mờ dấu son

T�nh ta kh�ng thể vu�ng tr�n

Say đi m� tưởng như c�n người y�u
(L� Thị �, Thương Ca 1)

khi người đ�n b� trẻ phải một m�nh nu�i con v� chồng đang ở trong trại nhập ngũ:

Buổi s�ng thăm ch�ng ở trại nhập ngũ số 3

buổi chiều ở Saigon ng� ngực Diễm Th�y

buổi tối về nh� nghe nhạc Phạm Duy

nửa đ�m chợt kh�c khi con b�.

(Nguyễn Th�y Song Thanh, Chủ Nhật 65)
 
B�n cạnh những h�nh ảnh l�ng mạn của
 tiếng đ�n tranh, �o sương m�, tuổi mười ba, trăng mười s�u, d�ng s�ng trắng, t�c m�y trời, tuổi � mai, tay ho�ng yến, l�ng hương cốm, tay l� sen, . . .  c�c nh� thơ của ch�ng ta bước v�o cuộc chiến tranh khi họ đang v�o đỉnh cao của tuổi trẻ, sức sống tr�n trề m� trước mặt họ to�n l� chiến tranh v� c�i chết. �Romantic love is sexually passionate love. Romance uses sexual intimacy to create or amplify closeness and mutual fulfillment.�[7] Breggin định nghĩa: �T�nh y�u l�ng mạn của đ�i lứa l� t�nh y�u chất chứa đam m� t�nh dục. T�nh y�u l�ng mạn d�ng sự th�n thiết c� dục t�nh để tạo ra hay tăng cường sự gần gũi v� thỏa m�n cho nhau. Sigmund Freud quan niệm bản năng của con người l� tự bảo tồn. Sinh sản l� để tự bảo tồn v� nhu cầu t�nh dục ph�t sinh từ khuynh hướng tự bảo tồn.[8] N�i như thế c� nghĩa l� t�nh dục lu�n đi k�m với t�nh y�u đ�i lứa. T�i muốn t�m hiểu xem c�c nh� thơ Việt Nam biểu lộ khuynh hướng t�nh dục trong thơ như thế n�o? Họ c� y�u cuồng sống vội để khỏa lấp nỗi sợ h�i của c�i chết v� qu�n đi tương lai đen tối? Nh� thơ Cao Thoại Ch�u cho biết: �Thơ t�nh miền Nam trước 1975 l� một mảng của tấm lụa l� gấm v�c chứ kh�ng phải �hiện sinh chủ nghĩa� hiểu một c�ch bệnh hoạn l� �y�u cho gấp v� y�u bất kể chết� kia đ�u.�[9]  Tuy t�i rất tin lời nh� thơ v� nh� gi�o Cao Thoại Ch�u, t�i vẫn muốn t�m hiểu c�c t�c giả trong tuyển tập thơ t�nh miền Nam đ� biểu lộ t�nh dục qua thơ như thế n�o. 

C�i say đắm trong b�i thơ Y�u của Hồng Khắc Kim Mai l�m t�i li�n tưởng đến c�i ch�y bỏng đau đớn v� đam m� trong thơ của H�n Mặc Tử:

Khi người �p m�i chuyền tai ta hơi thở 
Ta r�ng người da say m�i cỏ dại 
Ta dang mồm ưng nuốt cả trời m�y 
Ta đ� m� nghe tim rớt vỡ hoang đầy 
Ta cuồng dại r�n t�n người trong tiếng kh�c 
M�i ta kh� ran mắt ngời sao lửa bốc 
�i t�nh y�u �i tin y�u v�ng ngọc 
Hồn ta quằn quại sảng kho�i tới thịt xương
 
(Hồng Khắc Kim Mai, Y�u)

Ngụy Ngữ kh�ng n�i nhiều, chỉ một c�u để diễn tả nỗi nhớ khi th�i nhau:
 �C�n chỗ em nằm chăn x� chiếu lệch.� (Ngụy Ngữ, Th�i Nhau)

Nguy�n Sa k�n đ�o hơn khi �ng bảo
 �Nắng S�i G�n anh đi m� chợt m�t, bởi v� em mặc �o lụa H� Đ�ng.� t�i nh�n thấy c�i th�m muốn được sờ, được chạm, được �m v�o trong tay để cảm được c�i m�t mẻ của l�n da dưới lần lụa.

Nguyễn Lương Vỵ b�ng bẩy v� ngọt ng�o, đầy nhục cảm nhưng kh�ng k�m trữ t�nh:

Th�i đ�m l� gục b�n trời

Hương trăng xưa ngọt khướt lời ở đ�y

R�t từ một cốc tr�n tay

Tim t�i th�nh sữa pha đầy ngực em

(Nguyễn Lương Vỵ, Tim T�i)

Khi c�i nắng ban trưa của Nguy�n Sa trở n�n dịu m�t nhờ l�n �o lụa th� nắng trưa lại khiến một nh� thơ kh�c nhớ những cuộc �i �n.

t�m nhau về giữa ban trưa

khơi con nắng dậy cho vừa �i �n
(Nguyễn Đức Bạt Ng�n, Hương Cau)

Nguyễn Mi�n Thảo diễn tả sự kho�i cảm tuyệt đỉnh bằng c�ch cho
 �hai người ch�m v�o cơn b�o mật.� Phạm Trường thẳng thắn hơn, nh� thơ n�y c� rất nhiều b�i thơ nồng n�n m�i da thịt (t�i t�m thấy trong Thơ T�nh Miền Nam của Thư Ấn Qu�n), v� b�i Ng�n Năm Con G�i của �ng l� một b�i ti�u biểu:

Người con g�i ấy c� v�ng ngực đam m� giấc mơ xu�n t�nh h�m răng v� tội

em l� men rượu thần ti�n

anh y�u em kh�ng c�n g� nghi hoặc.
(Phạm Trường, Ng�n Năm Con G�i)


Ngay cả nh� thơ tu sĩ Phạm Thi�n Thư cũng khẽ kh�ng những c�u thấp tho�ng dục vọng nhưng cũng thấm đẫm m�i Thiền:

Mốt mai ta c� lu�n hồi
T�i sinh lại giữa kh�e m�i em hồng
Ng�m m�nh tiếng suối nước trong
Ta si�u theo c�nh phượng hồng em bay
Mốt mai ta c� lưu đ�y
Th� xin trọn ngực t�c m�y y�n nằm

V�:

Th�i th� em nguyện l�m r�m
Cho ta ngửi nẫu m�i trầm Như Lai
(Phạm Thi�n Thư, Kh�c Tự T�nh Ph� Du
)[10]

C� thể n�i Qu�ch Thoại l� nh� thơ cao ni�n hơn nhiều nh� thơ xuất hiện trong tuyển tập, từ b�i thơ Trăng Thiếu Phụ �ng đ� c� thoang tho�ng nỗi khao kh�t của người đ�n b� trẻ qua những c�u
 �đ� mấy đ�m trường em kh�ng ngủ, nằm thao thức nhớ mảnh trăng lu,� B�i thơ sau đ�y �ng viết m�i từ năm 1963, khi ấy phụ nữ Mỹ chưa c� cuộc c�ch mạng t�nh dục, m� thơ của �ng đ� rừng rực lửa t�nh y�u:

Em s�u k�n giữa đ�i đường mũi nhỏ

Em nở nhụy giữa đ�i m�i hồng đỏ

Căng căng mềm ứ đọng sữa t�nh tươi

V� ngậm hở đợi chờ ai h�n đ�

V�:

Th�n h�nh em uốn kh�c qu� y�u quen

Cả người em ướm chất lửa thơm men

Tr�n ngực đồi v� sen c�n k�n b�p

Hương trinh tiết vẫn c�n nguy�n ẩn n�p
(Qu�ch Thoại, Em)


Nh� thơ Vũ Ho�ng Chương yếu đuối ẻo lả như thế nhưng thơ của �ng cũng đầy những kh�t khao của da thịt n�o l�
 �Hồn ngả l�u rồi nhưng ch�n c�n dẻo,� v�:

Lưng mềm, n�o nuột d�ng tơ 
H�ng ch�n lả lướt 
Đ� m� hồn gửi c�nh tay hờ. 

Bốn tường gương đi�n đảo b�ng giai nh�n 
Lui đ�i vai, tiến đ�i ch�n, 
Riết đ�i tay, ngả đ�i th�n
. . .
 

Say đi em! Say đi em! 
Say cho lơi lả �nh đ�n 
Cho cung bực ngả nghi�ng, đi�n rồ x�c thịt.
 
. . .
 
C� ai gh� hư ảnh s�t kề m�i. 
Ch�n r� rời 
Quay cuồng chi được nữa 
Gối mỏi gần rơi 
Trong men ch�y, gi�c quan vừa b�n lửa 
(Vũ Ho�ng Chương, Say Đi Em)

Từ Thế Mộng đưa c�i đẹp nhục cảm đến mức thượng thừa qua m�i t�c ướt v� phần �o d�nh da:

Kh�ng phải suối

Kh�ng phải s�ng

M� ướt đầm m�i t�c

Kh�ng phải rực v�ng

Một m�u hoa c�c

M� đơn sơ �o ướt một đ�i v�ng

Em tắm biển về biển ướt ở sau lưng

V�ng mấy khoảng cho mặt trời tới đậu


Độc giả tưởng tượng đi, �V�ng mấy khoảng cho mặt trời tới đậu� nồng n�n gợi cảm hơn cả c�u h�t của Trịnh C�ng Sơn
 �em đi về cầu mưa ướt �o� Trịnh C�ng Sơn chỉ mới cầu cho mưa th�i c�n ở đ�y đ�i mắt của t�c giả đ� gắn chặt v�o phần �o ướt d�nh s�t lưng thiếu nữ. V� đ�i mắt d�i theo lưng �o m�u hoa quỳ như đ�a hoa quỳ quay theo hướng mặt trời.

Nghi�ng theo em như thể đ�a hoa quỳ

�i m�u v�ng đ�u thể dễ phải đi

M�u v�ng kh�ng phai

Mặt trời vẫn ướt

N�n phương em lẽo đẽo một phương quỳ 

(Từ Thế Mộng, Một Phương Quỳ)

Phạm C�ng Thiện th� d�ng ng�n ngữ n�i về h�nh động �i t�nh trực tiếp nhất dữ dằn nhất, đọc b�i thơ n�y ai m� biết �ng đ� từng l� nh� tu:

t�i giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng

t�i thủ d�m thượng đế sinh ra lo�i người

cho quế hương nằm ở nh� thương đi�n của tr� nhớ

mặt trời c� thai!

mặt trời c� thai!

sinh cho t�i một đứa con trai m� mắt


Nh� thơ Kiệt Tấn, viết b�i thơ B�i Biển khi �ng hai mươi hai tuổi, đ� để nh�n vật trong b�i thơ khoe với độc giả sự th�nh thạo trong việc cởi �o người t�nh:

�Anh nhớ r� từng nốt ruồi anh đếm được tr�n lưng em L. ơi!�
 
Chữ L. sau chuyện cởi �o l�m t�i li�n tưởng đến Lolita v� những chữ L. (viết hoa v� viết tắt) phải lập lờ uốn lưỡi. Kh�ng thể bảo �ng viết tục, chỉ c� thể ch� t�i nghĩ chuyện tục.

hơi hướng da thịt em sẽ nhạt m�i tr�n da anh v� đấy mới ch�nh l� gương mặt u buồn thực sự của t�nh y�u phải kh�ng em?

(Kiệt Tấn, B�i Bể)

L� Vĩnh Thọ diễn tả sự ng�y ngất của người hưởng thụ hoan lạc tỉ mỉ với những chi tiết l�m người đọc li�n tưởng đến cuộc truy hoan, bắt đầu từ bộ ngực, nhưng ng�n ngữ trong to�n b�i thơ kh�ng c� ch�t n�o tr�y tr�a tục tằn.

Ngực em

Như đ�i chim bồ c�u trắng nhỏ

Xinh xắn đ�ng y�u

Ngoan ngo�n dịu d�ng

Đang �u yếm nằm thu m�nh b�n nhau

Thở phập phồng �m �i
. . .
 

T�i hăng h�i nhưng nhẹ nh�ng thận trọng

�m đ�i chim bồ c�u gọn g�ng trong l�ng đ�i b�n tay th�n mật
(L� Vĩnh Thọ, Thử Ph�c Họa Ch�n Dung T�nh Y�u, Văn Học �Giai phẩm M�a Xu�n 1975, ph�t h�nh ng�y 20 th�ng 01 năm 1975) 

Du Tử L� kh�ng k�m nồng n�n với những c�u:

n�i tương tư cỏ ấm thịt da người

t�i hiu hắt từ mắt em ngắt tạnh

m�i th�m kh� từ thuở định xin h�n


C�c nh� văn Hy Lạp thời cổ khi viết huyền thoại đ� cho Aphrodite, nữ thần tượng trưng cho dục vọng, kết hợp với thần chiến tranh Ares, sinh ra Eros, thần �i t�nh. C� phải họ quan niệm t�nh dục được d�ng để qu�n đi nỗi sợ h�i c�i chết do chiến tranh g�y ra?  C� phải một số nh� thơ miền Nam đ� d�ng t�nh dục để lấp đầy những trống vắng trong t�m hồn khi đối diện với chiến tranh, c� nghĩa l� đối diện với hoang mang thất lạc, thiếu thốn vật chất, h�nh tr�nh gian nan, v� thậm ch� c�i chết trong tương lai gần?

Th�n thể n�ng đ� với biển cồn chăn gối

T�i gọi t�n t�i thảng thốt từng đ�m

Con rắn lưng trần trườn m�nh nhễ nhại

Giấc ngủ lăn tr�n hơi thở nặc nồng...

(Minh H�n, Khu�n Mặt T�nh y�u)

v�:

�i năm năm d�i ta tới lui nồng nhiệt

ta được ngủ bờ ngủ bụi giữa s�nh lầy

ta được chuyện tr� c�ng muỗi m�ng đỉa vắt

ta được ăn gạo hẩm cơm thiu

ta được uống nước đ�a ung rữa

ta được trực thăng vận k�ch đ�m

ta được thủ d�m từng cơn ham muốn

ta được ngửi x�c thối m�u tanh

ta được nhớ em tận c�ng nỗi nhớ
(H� Nghi�u B�ch, Thơ Viết Từ Một KBC)

Nguyễn Đăng H� cho nh�n vật trong b�i thơ h�n nhau ở g�c phố �ng cảnh s�t phải l�m ngơ. Nguyễn Hữu Nhật nhớ hơi người:

Sợ nhất l�c bu�ng nhau m�a gi�
bao nhi�u chăn phủ chẳng ấm đời
Giường gỗ mộc run l�n tiếng lạnh
nhớ hơi người đến chết mất th�i
(Nguyễn Hữu Nhật, Th�ng Mười Ở Đ�u)

N�i về thơ t�nh của tuổi trẻ miền Nam l�m sao m� qu�n được Nguyễn Tất Nhi�n, ch�ng thi sĩ m�i m�i l�m người thất t�nh c� lẽ nếu kh�ng thất t�nh �ng kh�ng thể l�m thơ. Nguyễn Tất Nhi�n mang những c�u rất lạ v� rất bạo v�o thơ. Kh�ng c� ai d�m l�m những c�u thơ �kỳ thị� mắng con g�i Bắc đi�u ngoa nhưng giả bộ thật th�, d�m phạm thượng so s�nh em hiền như ma soeur. B�i thơ Oanh của �ng được chọn trong bộ thơ t�nh kh�ng chất ngất t�nh dục m� chỉ nhẹ nh�ng:

Hy vọng vuốt ve sau lần thất thế
ch�ng vuốt ve t�nh n�ng hổi b�n tay.

Chẳng biết t�nh của Nguyễn Tất Nhi�n l� g�, nằm ở đ�u m� n�ng hổi? C� phải như Robert Frost đ� n�i �Poetry provides the one permissible way of saying one thing and meaning another.� (Thơ cho ch�ng ta được ph�p d�ng c�u n�i n�y để �m chỉ điều kh�c.)

Ngy Cao Nguy�n l� một họa sĩ t�o bạo. H�y nghe �ng tuy�n bố:

c� thể anh c�n đang khỏa th�n

trầm m�nh trong suối nhạc da đen

cho đ� cơn buồn những �m thanh đi�n

 

c� thể anh c�n mang kiếp tr�u đen

th�ch c�y bừa tr�n những c�nh đồng chi�m

th�n h�nh em thơm ng�t
(Ngy Cao Nguy�n, Những M�u Cho Ch�n Dung Em)

Nh�n chung, đề cập đến t�nh dục, c�c nh� thơ t�nh miền Nam vẫn b�ng bẩy tao nh� chứ kh�ng tục tằn. Rất hiếm khi họ d�ng những chữ trực tiếp hay t�o bạo về bộ phận sinh dục. Thơ t�nh miền Nam phần lớn theo chủ nghĩa l�ng mạn. Họ ca tụng c�i đẹp của thi�n nhi�n, t�nh y�u, v� con người. Ngay cả khi n�i về chiến tranh v� c�i chết họ vẫn c� c�ch thể hiện rất đẹp, kh�ng th� bạo. L�u dần, c�i đẹp trở th�nh khu�n mẫu. C�i đẹp trong thơ của chủ nghĩa l�ng mạn trở n�n giống na n� với nhau như những c� người mẫu tr�nh diễn tr�n catwalk. Sau khi nh�n v�i chục g� m� cao, ch�n d�i, răng đều như riến người ta bỗng th�m một ch�t g� ph� c�ch như ch� � đến một c� g�i kh�ng đẹp bằng nhưng lạ hơn nhờ c�i răng khểnh hay nước da ngăm. Tuyển tập Thơ T�nh Miền Nam do Gi� O xuất bản giống như một loại rượu nho qu� t�m được trong hầm rượu cũ. Loại rượu đặc biệt do một giống nho chỉ c� trong thời kỳ ấy, ướp bằng nắng của m�a ấy, mọc trong đất của khu rừng nho ấy. Người thời ấy thưởng thức rượu l�c ấy chắc chắn sẽ thấy m�i vị kh�c với t�i người thưởng thức cũng loại rượu ấy nhưng mấy mươi năm sau. T�i kh�ng khỏi b�i ng�i luyến tiếc biết rằng m�a mới sẽ c� rượu mang hương vị mới nhưng rượu cũ sẽ kh�ng c�n v� d� c� giống nho, sẽ kh�ng bao giờ c� lại được nắng v� đất của thời xa xưa ấy.

 

Chị Lệ-Liễu đ� t�m sự, về những kh� khăn chị gặp phải, trong b�i tản mạn T�m Lại Một Thời Thơ Y�u[11] v� t�i rất th�ng cảm với chị. Ba trăm hai mươi mốt b�i thơ kh�ng phải l� con số g�y ấn tượng nếu đem so với nền văn học miền Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975 nhưng sưu tập v� chọn lựa hơn ba trăm b�i thơ đ�i hỏi nhiều c�ng sức.  Độc giả cũng biết ba trăm hai mươi mốt b�i thơ kh�ng thể l� ti�u biểu của thơ miền Nam, cũng như một b�i thơ của một t�c giả cũng kh�ng thể l� ti�u biểu của một t�c giả. Với những học giả nghi�n cứu, số lượng b�i thơ c� thể kh�ng đủ để nhận định về một thời điểm huy ho�ng của nền văn học Việt Nam nhưng với t�i, cũng đủ để tưởng nhớ thời v�ng son của thơ như nh�n những mảnh b�t đĩa vỡ ch�n v�i dưới đ�y biển m� tưởng tượng đến một triều đại gốm sứ Chu Đậu huy ho�ng của triều L�.

 

Nguyễn thị Hải H�

27.07.2012

 

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html

 

 



[1] Sau khi b�i Đọc Thơ T�nh Miền Nam đăng l�n Gi� O nh� thơ Trần Huiền �n li�n lạc với Gi� O, cho biết b�i học thuộc l�ng n�y l� t�c phẩm của �ng in tr�n T�n Việt Văn (1964).
Nh�n đ�y t�i xin ch�p lại b�i thơ theo tr� nhớ, tựa đề b�i thơ n�y l� Qu� Em:

Khi kh�n lớn rộng đường ra hải ngoại
Nếu c� người muốn biết r� qu� em

Mở bản đồ em sẽ chỉ người xem
Đ�y nước Việt bốn ng�n năm y�u qu�
Qu� em c� n�i rừng nung ch�nh kh�
Ngọn Ho�ng Li�n ch�t v�t đội trời xanh
D�y Trường Sơn như một bức li�n th�nh
Ch�n trải rộng miền cao nguy�n m�u mỡ
Qu� em c� hai c�nh đồng vạn thuở
Vẫn c�n xanh thắm thiết Bắc Nam Trung
D�ng l�a ng� nu�i n�i giống oai h�ng
Mỗi trang sử ghi một lần thắng lợi
Qu� em c� ba d�ng s�ng chờ đợi
H�a niềm vui trong l�ng mẹ biển bao la
B�n Cửu Long Giang, đất đỏ Nhị H�
Pha trộn nước d�ng s�ng Hương trong suốt
Qu� em đấy d�ng h�nh tuy gầy guộc
Nhưng biết bao nhi�u cảnh tr� hữu t�nh
Để ai qua cũng cảm thấy l�ng m�nh
Quyến luyến m�i v� hẹn ng�y trở lại. (T�c giả Trần Huiền �n)

[2] Nguyễn Ngọc B�ch, Preface. A Thousand Years of Vietnamese Poetry. Trans. Nguyen Ngoc Bich, Burton Raffel and W. S. Merwin, New York: Alfred A. Knopf, 1975, p. xv.

[3] CHRISTOPHER MORLEY (1890 � 1957). Inward Ho! 2, 1923.

[4] Bloom, Harold. �Poetic Influence.� Literature � An Introduction to Fiction, Poetry, Drama, and Writing. Eds.� Kenedy, X. J. and Dana Gioia. p. 1519.

[5] Poetry is a speaking picture, painting is silent poetry.� Simonides of Ceos nh� thơ Hy Lạp (c. 556 BC � 468 BC)

[6] Saunders, Angela. Thơ Kể. Trans. Phạm Kiều T�ng, Garden Grove:T�n H�nh Thức, 2009, p. xx-xxiii.

[7] Breggin, Peter. The Heart of Being Helpful: Empathy and the Creation of a Healing Presence. New York: Springer. 1997.

[8] Hedges, Chris. War Is a Force That Give Us Meaning New York, Anchor Book, p. 158.

[9] Cao Thoại Ch�u. Một Tho�ng Thơ T�nh Thời Chiến. 24 June 2010, http://www.vanchuongviet.org/

[10] Tr�ch Thư T�nh Miền Nam, Thư Ấn Qu�n 2008, tr. 485.

[11] http://www.gio-o.com/ThoTinhNam1975.html

 

 

� gio-o.com 2012