NGUYỄN MAN NHIÊN
LAN MAN CHUYỆN CỌP…
TRUYỀN THUYẾT VỀ ÔNG BA MƯƠI VÀ TỤC THỜ THẦN HỔ
sưu tầm & tản mạn

Tượng
hổ bằng gốm Bát Tràng có niên đại thời Lê
(Cảnh Hưng)
tại Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam - Ảnh: Tư liệu
Trong tiếng Việt, từ vựng chỉ hổ thật phong phú. Ngoài hổ (Vào hang hổ; Thả hổ về rừng) c̣n có cọp (Cọp tha ma bắt), hùm (Vuốt râu hùm; Miệng hùm nọc rắn), dần (Tí, Sửu, Dần, Măo…), khái (Chưa qua truông đă trật lọ cho khái), kễnh (Mèo tha miếng thịt xôn xao, kễnh tha con lợn th́ nào thấy chi!)… Hổ ba chân gọi là Ông Ba cụt, hổ ba móng gọi là Ông Ba ngoe, hổ thành tinh gọi là Ông Chằng hay Ông Kẹ.
Tại sao người ta phải gọi hổ bằng nhiều tên khác nhau như vậy? Chắc là v́ sợ. Trong buổi đầu khai hoang mở đất, hổ là một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dă mà lưu dân phải đối chọi hàng ngày. Hổ không những khoẻ mạnh, hung dữ mà c̣n tinh khôn, nhanh nhẹn vô cùng, cứ thoắt hiện thoắt biến, rất khó đối phó. Người xưa sợ hổ, tôn thờ hổ, ví hổ như thần, không dám gọi đích danh v́ sợ “phạm húy”. Lúc nào cũng gọi hổ bằng “Ông” hoặc “Ngài” một cách kính cẩn: Ông Thầy, Ông Cả, Ông Dần…
Theo truyền thuyết, lúc chúa Nguyễn bị nhà Tây Sơn truy lùng, đuổi giết, gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, hết cả lương thực. May nhờ có thịt thú rừng do hổ tha tới tiếp tế mỗi ngày. Về sau, khi lên ngôi vua, Gia Long đă ban lệnh lập miếu thờ tại vùng Mô Xoài thuộc tỉnh Bà Rịa để tạ ơn, dân gian thường gọi là Miếu Ông Hổ. Tục truyền, vua ban lệnh cấm giết hổ. Nếu kẻ nào lỡ tay giết chết hổ th́ bị phạt ba mươi trượng. C̣n nếu bắt sống th́ được thưởng ba mươi quan tiền. Cũng v́ lệ này mà hổ c̣n được gọi là Ông Ba Mươi.
Hổ c̣n được thờ phượng như Chúa Sơn lâm hay Sơn thần. Hầu hết ở các đ́nh, đền, am, miếu trên khắp nước ta đều có bàn thờ hoặc miếu thờ Thần Hổ, với bài vị trang trọng “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân mănh hổ”, “Sơn lâm chúa xứ”, “Sơn lâm đại tướng quân”...

Ngũ
Hổ - chạm gỗ thế kỷ XVIII
Ảnh: Bùi Hoài
Mai
Trong điện thờ Mẫu, bàn thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía trên có h́nh tượng đôi Bạch Xà vắt ngang. Theo quan niệm dân gian, Hổ là vị chúa cai quản vùng rừng núi, c̣n Rắn (Ông Lốt) là thần ở nơi sông nuớc. H́nh tuợng Hổ là biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, có thể trừ diệt ma tà, trấn giữ các phương, là thần linh canh cửa đền miếu.
Trong nhiều bàn thờ gia đ́nh xưa th́ tầng trên thờ Phật, tầng dưới thờ Ngũ hổ - tượng trưng cho năm vị thần tướng ngự trị ngũ phương - được vẽ thành năm con hổ với màu sắc khác nhau: Hoàng hổ tướng quân (hổ vàng) tượng trưng cho hành Thổ, trấn nhậm trung tâm (Địa khu); Hắc hổ tướng quân (hổ đen) tượng trưng cho hành Thủy, trấn phương bắc (Thủy khu); Bạch hổ tướng quân (hổ trắng) tượng trưng cho hành Kim, trấn phương Tây (Kim khu); Xích hổ tướng quân (hổ đỏ) tượng trưng cho hành Hỏa, trấn phương Nam (Hoả khu); Thanh hổ tướng quân (hổ xanh) tượng trưng cho hành Mộc, trấn phương Đông (Mộc khu). Có gia đ́nh thờ năm ông, có gia đ́nh chỉ thờ một ông. Trong trường hợp này, tùy theo mạng vận của gia chủ thuộc hành nào trong Ngũ hành mà thờ Ông Ba mươi có màu sắc của hành đó, hoặc hành tương sinh với bản mệnh của gia chủ. Thí dụ gia chủ mạng Hỏa, có thể thờ Xích Hổ hoặc Thanh Hổ…

Ngũ hổ - tranh thờ Hàng Trống - Ảnh: Tư liệu
Vào những ngày Rằm, mùng Một, ngoài hương hoa, oản chuối, các cụ c̣n cúng một miếng thịt heo sống trên bàn thờ Ông Ba mươi một cách tôn kính. Dân gian có tục lệ là vào ngày mồng ba Tết Nguyên đán, sau khi cúng đưa Ông Bà xong, thường dán trước cửa nhà mảnh giấy hồng điều có h́nh cọp với ḷng tin là Ông Ba mươi sẽ trấn giữ không cho những thứ hiểm độc vào nhà, phù hộ cho gia trạch b́nh an, loại trừ tai nạn. Ông già bà cả c̣n truyền dạy, nếu trẻ con khóc đêm th́ người mẹ phải lén “ăn trộm” h́nh vẽ Chúa Sơn lâm để trong gối nằm của trẻ th́ chúng sẽ hết khóc.

Lá
bùa trừ tà
h́nh vẽ trong tác phẩm “La Technique du Peuple
Annamite” của Henry Oger (1908)
Ảnh: Tư liệu
Ở thôn Phú Lộc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Ḥa xưa có Văn miếu trấn B́nh Ḥa thờ đức Khổng Tử. Miếu khởi lập vào năm Gia Long thứ hai (1803). Bên cạnh miếu, dưới gốc một cây cổ thụ, có một bàn thờ xây gạch. Đó là bàn thờ Chúa Sơn Lâm, tức là Cọp. Mỗi lần tế miếu, đều đem một tợ thịt heo ba sườn ra đặt nơi bàn thờ. Truyền rằng, lúc miếu c̣n ở phía Tây, cũng như khi miếu đă dời sang Đông, hễ tế xong th́ cọp đến tha thịt đi. Lại có lắm đêm cọp về nằm ngủ nơi bàn thờ. Ngủ đă giấc rồi đi chớ không bao giờ làm hại đến người hoặc súc vật. Từ ngày bỏ cúng tế theo cổ tục, cọp không về nữa (1).
CỌP KHÁNH H̉A
Khánh Ḥa ngày xưa nổi tiếng về cọp. Chẳng thế mà phương ngôn có câu: “Cọp Khánh Ḥa, ma B́nh Thuận” đánh dấu một vùng đất cực Nam Trung bộ c̣n đầy vẻ hoang sơ, rậm rạp và nhiều ác thú của buổi đầu khai phá.
Người ta giải thích rằng ở tỉnh Khánh Hoà lưu truyền câu ấy là v́ vùng này có lắm cọp. Kể ra cũng đúng nhưng chưa đúng hẳn. Thiếu ǵ nơi có cọp, mà cũng là cọp dữ, chứ riêng ǵ ở Khánh Hoà. Trong tác phẩm “Non nước Khánh Ḥa”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đ́nh Tư có kể lại một giai thoại như sau: Hồi chúa Nguyễn xây dựng cơ nghiệp trong Nam, vùng này có hai vợ chồng ông Trịnh sống trong rừng núi. Ông Trịnh có sức khoẻ, lại sống lâu ở chốn sơn lâm, nên được làm quen với… cọp! Có con cọp già quấn quít, thân thiện với vợ chồng ông như người trong nhà. Trong quá tŕnh mở mang đất đai, khai phá non sâu rừng rậm, chúa Nguyễn phải đối phó với nhiều lực lượng phe phái. Có những tin tức cho biết rằng vợ chồng ông Trịnh cũng là người thuộc phe chống đối. Quân Nguyễn t́m cách lùng bắt, cuối cùng bắt được ông Trịnh giải về Nha Trang và kết án tử h́nh. Bà vợ ông được tin, suốt ngày than khóc nhưng chỉ biết tâm sự với cọp già kia thôi. Cọp ta hiểu biết sự t́nh, liền gọi cả họ hàng cọp ở trong rừng ra, kéo xuống pháp trường để giải cứu cho ông Trịnh. Nhưng bầy cọp vừa đến nơi, th́ đầu ông Trịnh đă bị đao phủ chém ĺa khỏi cổ. Cả bầy cọp thất vọng chạy nhớn nhác lung tung, gầm thét vang trời. Chúng lồng lên phá phách làm cho cả quân lính và dân chúng bỏ chạy toán loạn, t́m lối thoát thân. Măi đến xế chiều, pháp trường chỉ c̣n là băi trống tan hoang, cọp mới chịu rút về núi. Cái tin bầy cọp đại náo pháp trường từ đó truyền đi làm cho ai nghe cũng rùng ḿnh sởn gáy. Tiếng “Cọp Khánh Hoà” lan rộng là v́ thế (2).
Nói vậy chứ cọp dữ đất Khánh Ḥa xưa nhiều thật chứ không chỉ là lời đồn đại. Bằng chứng c̣n được ghi nhận không ít trong sách vở cũng như trong các câu chuyện truyền khẩu của dân gian.
Các cụ cao tuổi ở địa phương thường kể rằng, xưa có xă ở lẫn bên rừng, hàng năm cứ đến chiều ba mươi tết là họp kỳ lăo trong làng, lập giấy bảo cử cho cọp làm lư trưởng. Họ biện xôi, rượu, làm thịt một con lợn đặt trên mâm, trên để tờ giấy ghi rơ là nhất trí cử cọp làm lư trưởng của làng. Thế là trong cả năm ấy, dân làng ai vào rừng kiếm củi, đào khoai mài, lấy củ nâu hễ nghe tiếng cây cối rung động, đều kêu to lên: “Ông lư trưởng ơi ông lư, tôi là người trong làng đây, đừng có lầm”. Hoặc có khi họ kiếm được lâm sản chất đống trong rừng, không kịp đưa về, cũng hô lớn: “Đây là của người làng, nhờ ông lư canh hộ đừng cho ai lấy trộm”. Vậy mà kết quả rất kỳ lạ. Cả năm, dân làng không ai bị cọp vồ. Có lần, có người khác đến lấy trộm củi, cọp đuổi cho bỏ chạy. Lại có lúc, ruộng nương ven núi bị khỉ phá phách, chức dịch trong làng trèo lên cây cao nói to: “Bọn khỉ ra ngắt lúa, làm hại ruộng nương của dân, ông lư không biết hay sao mà để chúng tác quái như vậy?”. Thế là ngày hôm sau, thế nào dân làng cũng thấy vài ba khỉ chết ở bờ ruộng. Tai hoạ mùa màng nhờ thế mà cũng tránh khỏi.
Ở huyện Cam Lâm có núi Diễn Sơn, xưa nổi tiếng rất nhiều cọp, lại ở gần đường cái nên ngày xưa khách bộ hành thường gặp tai nạn bị cọp vồ. Người ta kể lại rằng, ngày xưa ở núi này có một con cọp đầu đàn, sống trên trăm năm. Nó chỉ có ba chân lành, c̣n chân trước bị què, nhưng khỏe mạnh hung dữ vô cùng. Cọp hay xuống các làng quanh vùng bắt người và súc vật, gây sự lo sợ hoang mang cho dân chúng. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” của Sử quán triều Nguyễn, năm Đinh Tỵ (1797) quan Trấn thủ Thành Diên Khánh là Nguyễn Văn Thành mật cầu với Bà Chúa Ngọc (tức Thiên Y Thánh Mẫu), xin Bà giúp trừ nạn cọp để tránh mối họa cho lương dân th́ sẽ lập đền thờ phụng. Quả nhiên vài ngày sau quan quân bắt giết được con mănh hổ. Từ đó người dân quanh vùng được sống yên ổn, không c̣n sợ nạn cọp vồ nữa. Quan Trấn thủ bèn lập đền thờ Bà Thiên Y dưới chân núi, gần ga Cây Cầy, gọi là đền Diễn Sơn. Ngày xưa, hàng năm quan đầu tỉnh phải sửa lễ tới đó cúng tế rất trang nghiêm.
Đặc biệt ở Khánh Hoà có loài cọp mun. Tương truyền loài cọp này thường tu theo các chùa hoặc tu trong các hang động. Trong tác phẩm “Xứ Trầm hương”, nhà thơ Quách Tấn có kể lại câu chuyện về Hoà Thượng Đ̣ và đôi cọp mun tại Thiên Đức Tự - một danh lam thuộc huyện Ninh Ḥa, như sau:
“Chùa cất trên ngọn đồi B́nh Tây, xă Ninh Hải, khu vực Ḥn Khói. Cất năm Minh Mạng nguyên niên (1820). Tổ khai sơn là Hoà Thượng Liễu Đức, pháp hiệu Huệ Giáo. Người đương thời gọi ngài là Hoà Thượng Đ̣.
Gọi như vậy là v́ trong vùng có một bến đ̣, qua lại phải chờ đợi rất bất tiện. Ḥa thượng bèn ra công bắc cầu. Không biết lấy ǵ đền ơn cho xứng đáng, người địa phương ghi công đức trên bia miệng bằng mấy chữ b́nh dân: Ḥa Thượng Đ̣.
Vùng B́nh Tây v́ gần biển gần ruộng muối nên nước giếng măn mẳn khó uống. Hoà thượng bèn nạy đá đào giếng. Giếng sâu thăm thẳm và ngọt như nước cam tuyền. Cả vùng đều đến múc uống. Và để tỏ ḷng tri ân, gọi giếng là Giếng Thảo.
Đạo hạnh của Hoà thượng rất cao. Chẳng những người đời ngưỡng mộ mà cả đến thú vật cũng qui y.
Truyền rằng ngọn đồi B́nh Tây xưa kia có nhiều cây cối. Trong rừng có đôi cọp mun thường xuống đồng bằng phá khuấy lương dân. Nhưng từ ngày Hoà thượng đến tu tŕ th́ đôi cọp trở nên hiền hậu.
Muốn sớm về Tịnh Độ, Hoà thượng thiết hoả đàn trà t́. Nhưng khi ngài bước lên đàn th́ một đôi cọp mun nhảy đến cơng ngài ra khỏi lửa. Biết rằng pháp duyên chưa viên măn, Hoà thượng phải tiếp tục hoằng pháp độ sinh tu hành cho đến ngày viên tịch” (3).

H́nh
hổ trang trí trên đồ gốm Chu Đậu (cuối
thế kỷ thứ XV, thời Lê sơ)
Ảnh: Nguyễn Trọng Hỷ
GIẢY BỘ HỔ
Cụ Phạm Phú Viết, 80 tuổi, ngụ ở xă Diên Toàn, Diên Khánh vẫn c̣n nhớ như in ông bà ḿnh kể lại chuyện đàn voi của tỉnh đi “giảy bộ hổ”, tức là đi săn cọp về làng. Thuở ấy, Thành Diên Khánh hùng cứ trên một khu vực c̣n rất hoang sơ. Các xă “phụ lũy” chung quanh Thành chỉ mới lèo tèo dăm ba chục nóc nhà. Khỏi cửa tiền hai cây số, chưa đến bến Cầu Lùng, cọp vẫn kéo về đợi mồi ở các mô đất cao miễu đất Thổ Sơn ngă lên G̣ Đ́nh làng Phú Mỹ cũ. Đội quân tượng của tỉnh trong khung cảnh gần như giang sơn riêng của chúng, hằng ngày vẫn dẫn nhau, vừa tuần pḥng, vừa nhởn nhơ tập tiến thoái ở đầm voi tập trận - một băi lầy sông Đồng Đen trước miễu Cây Me, hoặc lội qua sông tập ở khu đất mả voi làng Phú Lộc.
Ngày ấy, “Ông ba mươi” thường len lỏi về các làng xă tận vùng đồng bằng để bắt heo, ḅ. Trời sáng nhanh, đường vào rừng th́ xa, lôi heo ḅ đi không kịp, con vật ăn trộm hung dữ cơng con mồi ẩn ḿnh trong các ruộng mía rậm. Người ta lần theo vết máu, biết ngay kẻ trộm đang ở đâu.
Chỉ giây phút sau, ngay tại Thành tiếng trống thúc gọi lính đă nổi lên rộn ră. Cuộc tập họp săn cọp về làng bắt đầu. Lúc ấy trong đội quân tượng có con voi Thanh rất tinh khôn. Nó được triều đ́nh phong chức tước đàng hoàng, dẫn đầu đoàn voi phục vụ đắc lực cho việc “giảy bộ hổ” của tỉnh. Một khắc sau, lính tỉnh đă nai nịt cung tên, giáo mác dẫn đầu, voi Thanh đi kế tiếp, sau đó đến voi Kỳ, voi Chản. Chú voi “bồ cốc” c̣n nhỏ quá, để chú ở nhà. Dân chúng hồ hởi kéo nhau theo xem hỗ trợ. Mọi người rất phấn khích, vừa hồi hộp sợ cọp lại vừa ỷ số đông, không bỏ lỡ dịp may hiếm có này mà đi coi cho măn nhăn. Theo tiếng trống mơ, “giảy bộ hổ” qua làng, qua đồi, qua mương... đến ruộng mía. Đoàn người đang bủa vây ruộng mía vội vẹt tránh ra một khoảng vào khá rộng. Trống mơ im tiếng để lệnh nài hô lên voi nghe cho rơ. Voi Thanh đứng giữa, voi Kỳ bên phải và voi Chản bên trái. Kế đến là tua tủa gươm giáo của các quân lính và những người đi săn vốn đă học thành thạo các thế vơ đánh hổ. Theo tiếng lệnh của quản tượng, họ tiến lên thành h́nh một chữ A, mũi nhọn của chữ A là voi Thanh. Nó lập tức vươn ṿi nhổ một ôm mía rất lớn, cuộn chặt ṿi đưa cao bó mía lên như một loại vũ khí. Kỳ và Chản làm y rập theo “anh cả”. Đội h́nh tiến lên độ mười thước theo dấu mía bị đổ ngă th́ y như rằng, một tiếng gầm đinh tai nhức óc từ chỗ mía rậm phát ra làm mọi người sởn gai óc. Ai nấy chưa kịp định thần th́, thoắt một cái, một khối vàng dện rằn ri nhảy đánh vút đến ngang tầm đầu voi Thanh. Nhưng cọp chưa kịp chạm đến đầu voi. Bó mía của đại lực sĩ Thanh đập một đ̣n như trời giáng hoàn toàn trúng đích làm cọp văng lùi đến 3 thước. Chưa có thương tích ǵ cả, một bó mía th́ nhằm nḥ ǵ đến chúa sơn lâm kia chứ. Chỉ hơi choáng váng, nhưng chính trong cái tích tắc để kịp lấy tỉnh táo lại đó cọp bị luôn hai đ̣n mía của hai phó tướng Kỳ và Chản, hai đ̣n này đúng y chiêu thức cùng nội lực của anh cả. Lần này th́ thấm đ̣n. Bậc vơ sư chỉ qua lại đôi đ̣n là đă biết ngay t́nh thế. Mănh hổ đành thua tam tượng. Cọp thu hết sức lực phóng vọt lên cao về một bên để phá vây. Nhưng con người đă tính trước, các vuốt cọp dính vào mắt lưới và lưới quằn sụp xuống chụp lên thân cọp. Đang vướng víu lồng lộn gào thét vang động không gian th́ một lưỡi giáo sắc lẻm đă chiếu đúng yết hầu đâm thẳng xuống. Người ta xúm lại trụ bộ “xuống tấn” ghịt chặt cán giáo...
Không hề liếc mắt nh́n thêm xác kẻ thù hung dữ đang nằm sóng soài, voi Thanh bươn bả quay về Thành. Một phần thưởng lớn, một bữa tiệc khao quân đang chờ nó. Khác với thực đơn thường ngày chỉ có các gánh cỏ và thân chuối cây, lần này người ta bày biện cho “tướng soái” và “phụ tá” của “Ngài” những bó mía mây vàng óng, mượt mà, những giỏ trái thơm và một máng gỗ đầy nước dừa tươi vừa bổ quả ra có lẫn những khoanh cơm dừa trắng tươi và gịn tan. Lại c̣n ba tảng đường đen ngay ngắn để trên tàu lá chuối và một tảng khác nhỏ hơn dành cho chú em “bồ cốc” ăn theo. Có công th́ hưởng. Voi Thanh ăn rất ung dung, nhẩn nha, chốc chốc lại nghịch ngợm đưa ṿi đẩy nhẹ vào bụng lũ trẻ đang thích thú bao quanh xem rất thèm thuồng (4).

Một con cọp bị quan quân bắt - Ảnh: Bưu thiếp Đông Dương
CHUYỆN CON SÂU RÂU CỌP
Khoảng năm 1950, một tờ báo hằng ngày ở Sài G̣n, tờ Sài G̣n Mới, đăng tin tại vùng nông thôn tỉnh Khánh Ḥa có người làm thuốc độc hại người, bằng cách lấy cứt của một loại sâu lạ, phơi khô, tán thành bột, dùng đầu móng tay chấm bột đó vào trái cây. Họ đến các chợ, ghé vào dăy gánh trái cây giả vờ lựa mua rồi thừa dịp bấm đầu ngón tay có thuốc bột đó vào trái ổi, xoài, mận, vú sữa, đu đủ chín, thanh long… Ai ăn nhằm nhiều trái cây kể trên có thể chết ngay, ăn ít th́ bị ho dữ dội dây dưa lâu ngày rồi cũng chết, chỉ có thuốc “giải” của người làm chất độc bào chế mới trị dứt chứng ho được.
Con sâu lạ đó là “con sâu râu cọp”. Họ lấy râu mép của cọp cắm vào mụt măng tre một thời gian sanh ra con sâu. Đầu tiên họ để nó trong cái ảng nhỏ, dần dần lớn lên thay đổi bằng khạp 10 lít nước rồi khạp lớn 40 lít nước, cuối cùng là cái lu 100 lít nước. Con sâu lớn bằng bắp chân, ḿnh đầy lông dài.
Cứt sâu phơi khô tán thành bột, dùng đầu móng tay chấm và bấm vào các thứ trái cây không có vỏ cứng hoăc lén bỏ vào khạp nước của người khác. Ỏ thôn quê nhà nào cũng có khạp nhỏ đựng nước ngọt để trước hiên, người nhà dùng và cho người qua đường uống giải khát.
Họ chế thuốc giải độc, đưa cho người tin cẩn bán đắt tiền, không ai biết họ là tác giả. Chỉ có thuốc giải độc của họ mới trị dứt chứng ho.
Sau cùng tác giả bài báo viết, chánh quyền cần lưu ư điều tra và có biện pháp chấm dứt hành động thất đức kể trên.
Theo lời nhà nghiên cứu đă quá cố Lê Quang Nghiêm, sinh thời bạn của cụ là ông Nguyễn Giác, người ở thôn Hà Thanh, xă Ninh Đa, huyện Ninh Hoà có kể lại câu chuyện như sau:
Cách nay lối trên 90 năm, tại phía bắc giữa lưng chừng đèo Bánh Ít có gia đ́nh vợ chồng nông dân và đứa con trai lối 12 tuổi. Năm đó với số tiền dành dụm mấy năm, họ thuê một toán thợ mộc cất nhà. Thợ mộc đến ở tại chỗ và chủ phải bao ăn uống cho đến khi xong việc.
Trong thời gian thợ dựng nhà, thỉnh thoảng vài ba ngày chủ nhà làm con gà lớn đăi ăn, nhưng lần nào cũng vậy chỉ dọn lên vài dĩa nhỏ lối nửa con gà. Thợ lấy làm lạ không biết số thịt gà c̣n lại để làm ǵ mà không thấy vợ chồng chủ nhà ăn. Thắc mắc của họ được giải toả nhân một hôm vợ chồng chủ nhà có việc phải đi vắng một buổi. Đám thợ để ư lúc gần trưa thấy con trai của chủ nhà xách một gói bao bọc kỹ, ngó trước ngó sau rồi đi ra phía chân đèo sau nhà. Hai người thợ lén theo sau đứng ŕnh. Thằng bé đến gần một gốc cây lớn khuất sau một ḥn đá, cúi xuống kéo tấm mê tre trên phủ đầy lá khô qua một bên, rồi dở nắp miệng hầm nhỏ trút gói đồ xuống và đậy nắp lại.
Hai người thợ liền chặn thằng bé lại hỏi th́ nó ú ớ không nói ra lời, mặt nó tái mét. Dỡ nắp hầm ra, nh́n thấy một con vật lớn bằng con heo con, ḿnh đầy lông, đang ăn thịt gà sống của thằng bé vừa trút xuống.
Họ báo tin cho thợ trong nhà ra xem, biết đó là con sâu râu cọp của vợ chồng chủ nhà nuôi để làm thuốc hại người, một việc làm vô nhân đạo mà chính quyền cấm.
Đám thợ lấy nước sôi đổ xuống hầm giết con sâu, một mặt cho người đến báo cáo với Phủ B́nh Khang (huyện Ninh Hoà ngày nay). Khi lính phủ đến bắt con vật lên th́ đó chính là con sâu râu cọp thật to gần bằng bắp chân, ḿnh đầy lông dài.
Vợ chồng chủ nhà bị bắt. Với tang chứng rành rành không chối căi được, phủ B́nh Khang kết án người chồng mấy năm tù.

Sài
G̣n vào những năm 50 của thế kỷ trước,
vẫn c̣n thấy cảnh người dân vác rất nhiều
da hổ đi bán dạo trên phố
Ảnh: Bưu thiếp
Đông Dương
CHÚ THÍCH:
(1) Quách Tấn, Xứ Trầm Hương, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Ḥa tái bản lần thứ hai, 2002, tr. 230
(2) Nguyễn Đ́nh Tư, Non nước Khánh Ḥa, Sông Lam xuất bản, Sài G̣n 1969, tr. 55-57
(3) Quách Tấn, Xứ Trầm Hương, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Ḥa tái bản lần thứ hai, 2002, tr. 254-256
(4) Phạm Phú Viết, T́m hiểu Văn miếu Diên Khánh, Tư liệu lưu hành nội bộ Nhóm thân hữu Văn Miếu, 2001, tr. 184-190
(5) Là tác giả công tŕnh “Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Ḥa” - giải Nhất biên khảo năm 1969 của Trung tâm Văn bút Việt Nam.
NGUYỄN MAN NHIÊN
http://www.gio-o.com/NguyenManNhienVoKhoaChauTramHuong.htm
© gio-o.com 2011