BS NGUYỄN HY VỌNG

Dính Líu Giữa

Tiếng Việt và Tiếng Lào Thái

sưu tầm & tản mạn

 

            [viết tặng bạn Thu Tứ, người có ḷng "mi tâm mi ư" với tiếng Thái]

 

ngập ngừng          xngập                            to stop

thật thà                 thè                                  sure, really, certainly

cuồn cuộn             khuông                          to billow

làm nhỏ lại           giỏ                                 to diminish, reduce

mịt mùng              kmùng                           obscure, spread out

tḥng lọng            klọng                             to lasso

khắm                    khắm                             to stink, foul smelling

làm cho rời       krả                                 to decompose

rạc rài                   krạc                               scattered

mông lung            kmung                           vast, immense

lóp ngóp               lóp khóp                        timorously cautious

lưng kḥm            lăng kḥm                     hunched back

khơi khơi               khơi khơi                      superficial, vaguely

nghẹt cổ                tịt   khổ                          constricted [throat]

bóp cổ                  bịp khổ                          to strangle the neck

lội ngóc cổ lên      lội  khổ                          to swim with emerged head

nghiêng cổ            iêng khổ                        to tilt the neck

     Trên đây chỉ là vài chục thí dụ trong số 5000 tiếng Thái giống với tiếng Việt.

     Muốn xem cho hết th́ xin vào: "Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt"*, trong đó có chừng trên 10 ngàn tiếng, từ, âm và giọng giống nhau giữa Thái Lào và Việt hiện nay. Chúng là 10 ngàn cành nhánh của một cây cổ thụ "ngôn ngữ" khổng lồ chằng chịt đan chéo qua lại với nhau từ hàng chục ngàn năm về trước.

     Chúng nó là 275 ngàn cái bằng chứng rằng các tiếng nói Thái Lào Mường Việt Tày, Nùng Thổ,  … xưa đều thuộc gịng ngôn ngữ AA [Austro Asiatic] cùng nhành Ṃn -Tai [kết hợp giữa Ṃn Khmer Tai cổ xưa]. 

     Hai ngàn năm văn hóa tiêm nhiễm của đàn anh Ấn Độ đă phủ đầu các dân Thái Lào Khmer, Ṃn, Miến v ..v..nhưng vẫn chẳng làm ǵ được cái vốn liếng chung  của các tiếng nói ấy.

     Cũng như 2000 năm dạy dỗ văn hoá đô hộ và áp đặt của Tàu cũng chẳng tiêu diệt được tiếng Việt.

     Nhưng v́ vậy mà hai ḍng anh em ngôn ngữ này đă lạc đường t́m kiếm nhau [theo Bernard Groslier, nhà khảo cổ Đông Nam Á].

     Liên hệ nguồn gốc giữa các tiếng nói trên đây với tiếng Việt đă bị lu mờ đi, nhưng mà dính líu nguồn cội giữa các ngôn ngữ ấy mới thật là cái hiện tượng văn hoá  triền miên nhất để t́m họ t́m hàng, chắc ăn hơn tất cả những nét văn hoá khác như phong tục, cách ăn mặc, nếp sống xă hội, lịch sử vua chúa, chiến tranh, tôn giáo, chữ viết ….

     Xưa, cố đạo Sovignet đă t́m đuợc gần một ngàn tiếng Thái Lào giống âm giống nghĩa [cognatic] với tiếng Mường Việt. Thật ra có đến hàng chục ngàn tiếng như thế giữa Thái Lào và Mường Việt.

     Mục đích bài này là để giúp ta bỏ đi cái ư nghĩ sai lầm của phần lớn các nhà học giả Hán Việt xưa nay đă tiêm nhiễm vào đầu óc họ, cho là "tiếng Việt do từ tiếng Tàu mà ra [sic] @ Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Phương, Huệ Thiên …và hàng tá các ông khác nữa.

     Ngôn ngữ học hiện đại đă nhận xét ra cái đó sai, ê kíp ngôn ngữ của Encyclopedia Britannica cũng nói:    

     Tiếng Việt thuộc một nguồn gốc khác hẵn tiếng Tàu

     Dân Việt xưa cũng thuộc một gịng họ khác hẵn dân Hoa-Hán

     Nếp sống người Việt cổ xưa  cũng rất khác với nếp sống của dân Tàu

     Mặc dù phải mang lấy một cái áo choàng ngôn ngữ và văn hoá chật đến nỗi gần như bó chặt lấy thân h́nh, ta vẫn thấy rơ đó là cái áo chứ không phải là da thịt của ta. Thí dụ như:

gịng nước trong / gịng thanh thủy

chết v́ nước / hy sinh v́ tổ quốc

người t́nh cũ / cựu t́nh nhân

bến cũ / cổ độ

trời đất / thiên địa

     Cả trăm ngàn thí dụ như vậy, ai cũng t́m ra được, cho thấy là ta có "cái của ta" nhưng cũng học đ̣i bắt chước nói thêm "cái của người" cho nó le, cũng như mấy kẻ hay khoe tiếng Tây tiếng Anh vậy thôi.

     Ta chỉ mượn thêm chừng > 2000 tiếng "con nuôi" [trong số # 10 ngàn tiếng một của  Tàu] qua > 2000 năm để làm giàu cho # 9500 tiếng một [tiếng Việt con nhà] của ta đă có sẵn từ hàng mấy ngàn năm trước đó nữa.

     Đổ đồng một năm ông bà ta chỉ mượn # hai tiếng, có chi mà gọi là nhiều!  Ta chỉ mượn thêm chứ đâu có đánh đổi luôn cả tiếng nói của ta hồi nào đâu!  Một tiếng cũng không mất!

     Sự thật là thế này: tiếng Mường, tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Khmer, tiếng Ṃn bên Miến Điện, ngay cả tiếng Chàm [Chăm], tiếng Malay-Indonesian nữa… đều dính líu với nhau như một mớ ḅng bong, dây mơ rễ muống, trong một màng lưới rộng mênh mông mà người nói cũng như kẻ nghe khó mà t́m ra đầu đuôi gốc ngọn trước sau,      

     Tuy nhiên, không phải là không t́m ra được.

     Qua thời gian và lối làm việc có khoa học và phương pháp của các nhà ngữ học hiện nay, đang có một ngọn đuốc soi rọi rơ ràng và hợp lư vào từng đường tơ kẻ tóc, vào từng chi tiết của cái màng nhện ngôn ngữ đầy bí mật và thích thú cuả các tiếng nói [hàng trăm thứ tiếng] ở Đông Nam Á.

     Thật ra vấn đề này không mới mẻ ǵ.  Cách đây 150 năm, nhà ngữ học Logan đă nhận xét trước ai hết về tiếng An Nam hồi đó là rất giống với tiếng Ṃn bên Miến Điện, mà ông gọi cả hai là "Mon-Annam formation".

     Các nhà ngữ học cũng t́m kiếm về những tiếng nói ít người nói như:

tiếng  Mon bên Miến điện

tiếng  Khasi ở trên Bangladesh

tiếng  Nicobarese ở trên mấy ḥn đảo nhỏ li ti ngoài biển phiá nam Miến Điện           

tiếng  Munda bên Đông Bắc Ấn Độ [tổng cọng 40 triệu người]

tiếng  Tai [có nhánh Zhuang, nhánh Kadai, …] chừng 30 triệu ở ngay trên đầu Bắc Việt

và thấy rằng chúng nó cũng đă pha trộn với nhau và với tiếng Mường  từ ngàn xưa,

trong khi tiếng Tàu chỉ là cái áo vừa hoa vừa hoè mà 2 ngàn năm bắt người Việt phải mặc vào. 

     Nếu ai muốn làm quan cho Tàu, nó cũng là cái dù che lấp đi lấn át những cách nói năng dễ hiểu của ông bà ta, thí dụ như non sông đất nước …. th́ chúng nó dạy cho là phải nói thêm là sơn hà xă tắc vân vân.

     Cả ngàn ngàn những cách ăn nói dễ dàng và dễ hiểu của người Giao Chỉ lại phải học kèm thêm những cách ăn nói gọi là văn hoa văn chương đó, có thêm sự thúc giục của mấy trăm đời những kẻ làm quan cho Tàu, bảo sao ta không "chết mệt" với tiếng Tàu.

    Chúng ta gần như quên mất rằng "xương tóc của cha, thịt da của mẹ" …ông bà chúng ta đă có một gốc gác khác hẵn với người Tàu hiện nay cũng như hai ngàn năm về trước.

     Khó mà nói hết đuợc những giống nhau về tiếng nói giữa các dân Việt, Miên, Lào, Thái, Chàm, Mă Lai từ ngàn xưa cho đến hiện nay [xin vào Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt nói trên có đũ chi tiết từng từ từng chữ một].

    Thí dụ một người con gái có dáng đi đủng đỉnh th́ người Lào Thái cũng nói là:

           kđuk  kđik                        y hệt như ta

      Có hàng ngàn chữ lấp lánh như thế, nhấp nha nhấp nhổm như thế giữa Thái và Việt.

Đó chỉ là những h́nh thức đọc trẹ hay đảo qua đảo lại cách phát âm giữa các thứ tiếng một, tiếng đôi, tiếng ghép ba ghép bốn nữa giống nhau giữa Việt, Thái, Lào, Miên v.v.. mà thôi.

    Nếu ta bảo là thiết tha tha thiết …th́ người Thái cũng nói y hệt là thiêt tha tha thiêt.  Họ cũng đảo qua đảo lại như thế nhưng hơi khác là họ nói th́ họ hiểu nghĩa của hai chữ ấy là cái ǵ "kéo dài" trong khi ta nói như vẹt và hai chữ thiết tha có thể hiểu cả mấy chục cách v́ ta đă "đánh mất" cái nguồn gốc ư nghĩa ban đầu v́ bị cái tiếng Tàu nó đánh tráo, nh́n lạm và đánh lộn ṣng chữ nghĩa với chúng ta.

     Có cả hàng ngàn những chữ lấp lánh như thế mà người Thái, Lào, Khmer giữ cái ch́a khoá ư nghĩa c̣n ta th́ bị ép học tiếng Tàu nên không c̣n hiểu ḿnh nói ǵ khi ta nói :

đẹp đẽ, sạch sẽ, mới mẻ, vui vẻ,

khỏe khoắn, băn khoăn, xuề xoà,

sớm sủa, rộn ràng, rộn rịp, rộn ,

rảnh rang, nhẹ nhàng, vội vàng, lỡ làng

sáng sủa, sáng lạng, sáng trưng, sáng quắc,

xinh xắn, sốt sắng, tươi mươi, tươi tắn,

nhỏ nhắn, mau mắn, may mắn

     Chừng 5000 tiếng như thế có trong tiếng Việt, ta nói như vẹt, không hiểu tại sao.

Nhưng nếu ta học tiếng Thái, Lào, Ṃn Khmer, Chàm v.v.. th́ ta biết âm biết nghĩa của chúng dễ dàng [xin đón xem Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt].

     Vậy mà qua hơn hai ngàn năm tiếng Việt vẫn không chết v́ nó lợi dụng tiếng Tàu để mà sống c̣n.

     Nó làm ra cái thứ tiếng ghép lạ lùng tôi gọi là Hán Việt mà mấy ông "Hán Việt" phủ nhận mà cho là đương nhiên phải có như thế:

xuất ra, nhập vào

thượng lên, hạ xuống,

cọng thêm trừ bớt

sinh sống già lăo,

truy lùng, đánh chiếm

..............

     Tôi chấp luôn cả 1300 triệu người Tàu, có ai, dù là một người thôi, viết được, đọc được, hiểu được, nghe được, nói được, phát âm được, đánh vần cho được, nhấn giọng cho được mấy ngàn tiếng ấy tôi xin trả cho họ 10 ngàn đô la xài chơ i!

     C̣n khuya!  Từ Khổng Tử cho đến Mao trạch đông cũng phải chào thua, không đọc ra được                

     Cả ngàn ngàn tiếng cặp đôi như vậy mà ông Đào Duy Anh lại không cho đó là "Hán Việt" mặc dù rơ ràng là một tiếng Tàu ghép với một tiếng Việt mà lại xem chúng nó đương nhiên [sic] như là tiếng Việt 100%].

     Trái lại, những tiếng 100% Tàu th́ ổng lại cho là "Hán Việt" chỉ v́ đọc trẹ đi như

tổ quốc, thiên hạ, đài thọ, rồi ổng làm từ điển Tàu mà lại gọi là từ điển Hán Việt.

     Cả ngàn tiếng như vậy có ǵ là Việt đâu ngoài cái cách đọc không giống Tàu thôi.

Nhà ngôn ngữ học Mark Alves đă viết một bài có ư thức "để đời" về tiếng Việt,  "What's so "Chinese" about Vietnamese?" #  tiếng Việt có ǵ "Tàu" lắm đâu!

     Ư nghĩa của nó là của Tàu, ḿnh mượn mà nói rồi quỵt luôn, không trả lại nữa.

Hơn nữa, có cả chục ngàn tiếng Tàu mà không bao giờ người Việt ḿnh dùng hay nói suốt 2000 năm bị đô hộ rồi bị ảnh hưởng, vậy mà mấy ông viết từ điển hán việt cho vào từ điển của mấy ổng tuốt luốt luôn. 

Hàng ngàn chữ Tàu mà chưa chắc người Tàu đă biết là cái quái ǵ, làm ra cái vẻ ta đây hay chữ thí dụ như trong từ điển Việt Anh Nguyễn văn Khôn, 1966.

khoa đẩu, tri thù, điểm đăng, điểm lệ

điên dâm, điền kê, điền khách,

điện lăng, điện linh, điện lô

chế pháp, chế phục, chế trị, chi lộ,

chi kháng, chi lộ, chí ư, chí nhựt, chỉ vọng ...

    Trời đất, đọc mà thấy chóng mặt luôn!

    Tiếng Việt là một cái ṿng khoen  trong cái dây chuyền ngôn ngữ của miền Nam Á, vùng rộng mênh mông từ trung tâm Ấn Độ qua đến vùng bao la bát ngát phía nam Trường giang.

     Đó là nơi sống xưa của giống người RMon, Rman có nghĩa là "người" / people, person, man, men. 

      HMong cũng có nghĩa là người [phát âm cho đúng là hMonk], tên gọi là Man bị hiểu lầm, cũng có nghĩa là người

Người Tàu không có nói Man nghĩa là dă man hay man rợ ǵ, chữ man của họ để diễn âm, t́nh cờ mà có nghĩa đó, chỉ là một t́nh cờ về phiên âm, t́nh cờ trùng về ư nghĩa đó thôi và người Mường c̣n tự gọi họ là Ṃl / Mỏl … lại cũng là "người".

       Người Việt xưa với người Ṃn người Thái xưa cũng như ba anh em cùng một gịng họ, ta ở vùng châu thổ Bắc, họ ở gần đó [mạn ngược], c̣n người Ṃn / Rman th́ ở tuốt bên Miến Điện, vậy th́ tại sao tiếng nói lại giống nhau?

     Tại v́ từ xưa, miền Đông Bắc Ấn Độ qua đến chiều dài sông Dương Tử có một giống người nói một thứ tiếng gốc tạm gọi là Ṃn-Tai, mà tiếng Mường xưa là một phần của nó.

     [Măi sau này ta mới bị ảnh hưởng Tàu.] 

100% tiếng xưa chung của ông bà vẫn c̣n nhưng cũng như chia gia tài, mỗi con cháu sau này giữ một phần cái của cải đó nên sinh ra nhiều ngôn ngữ khác nhau.

     Ai đâu ở đó, không có di chuyển lên xuống qua lại tới lui như họ tưởng lầm nhưng trao đổi và góp nhặt cũng như tỉa lảy, lặt bớt đi tiếng này tiếng nọ là chuyện phải có.

     Sông núi đâu có hề ngăn cách 100%?  Ai cũng biết gịng sông là gịng sống và dăy núi nào lại chẳng có đèo và thung lủng để qua lại. Dọc Trường Sơn cũng có 7 cái đèo mà con người xưa đă qua lại với nhau.

     Lẽ dĩ nhiên tiếng Mường xưa không bao giờ lại dính chi đến tiếng Esquimaux hay tiếng Gaulois v́ ở quá xa, nhưng các nhóm người xưa ở Đông Nam Á th́ quá gần nhau về chỗ ở nên tiếng nói giống nhau nhiều là điều dễ hiểu.

     Giống nhau vài ba tiếng th́ là hoàn toàn do t́nh cờ như là giữa tiếng Anh Pháp Mỹ và tiếng Việt:

giật, giựt / to jerk

giằng lấy / to yank

bé tí         / petit

vestiges   / vết tích

diarrhea  / đi ỉa re!

     Chứ c̣n giống nhau đến 42% giữa tiếng Thái Việt th́ làm sao mà t́nh cờ cho được?

Ắt phải có chung nguồn gốc là cái chắc.

     C̣n như bảo trong tiếng Việt có xài, có dùng, có mượn 3500 tiếng Tàu để mà nói, th́ sao lại chẵng chung gốc?

     Nhưng mà ai cũng biết đó chỉ là tiếng vay mượn, có cũng được mà không cũng thế thôi, v́ là vay mượn, có trả hay không th́ cũng thế thôi, không phải là đồng tiền vốn do ḿnh làm ra mà có.

     Mà đă vay mượn th́ sao là nguồn gốc được?  Hơn nữa ăn uống, chạy nhảy, iả đái leo trèo … th́ vay mượn ở đâu vậy cà?  Hỏi tức là trả lời.

     Nó là tiếng gốc gác của miền Nam Á, có nhiều ngôn ngữ khác cùng nói thế, không riêng chi cho Thái, Lào, Ṃn Khmer, Chàm hay Malay.

     Thí dụ tiếng Khasi, ở trên Bangladesh, giống tiếng Việt cả câu dài chứ không những chỉ là từng tiếng mà thôi :

mi sống ở mô           th́ họ nói  mi  shông  h-ơ  mô ?                Where do you live?       

tao sống ở đây                th́ họ nói nga  shông  h-ơ  ni                    I live right here.

[Xem bảng kê tất cả những tiếng đồng nguyên Khasi-Việt trong một bài khác.  Họ cũng viết abc như ḿnh đă mấy trăm năm rồi!]

     Cái gốc tiếng của ông bà của ta vẫn c̣n nguyên và ông bà ta là những quyển từ điển sống, nói tiếng xưa của họ và cũng nói tiếng nói hiện nay của chúng ta.

     Ta thường cho là miền Bắc Việt là cái nôi ngôn ngữ lịch sử và nhân chủng của gịng giống Việt. Cái đó chỉ đúng một phần. Riêng về tiếng nói th́ không đúng.

     Ai cũng biết về chỗ ở của người Mường hiện nay gần với vùng Thanh Nghệ Tĩnh hơn [xem h́nh].

     Ai cũng biết là tiếng nói của miền ấy xưa hơn, nặng hơn, quê mùa hơn tiếng Bắc v́ có hàng trăm tiếng xưa của miền Thanh Nghệ Tĩnh giống tiếng Mường, tiếng Thái Lào hơn mà người Bắc không c̣n biết đến nữa v́ họ đánh mất chúng nó đi rồi qua hơn 2000 năm đứng mũi chịu sào, sống chung đụng với Tàu, vừa chung vừa đụng … nên tiếng Bắc đă bị Tàu hoá khá nhiều.

Khốn nạn     hiểu theo nghĩa Tàu là khốn khổ trong khi Trung và Nam hiểu theo nghĩa riêng là "phá làng phá xóm, vô tư cách, đểu cáng".

     piệu ziễn … tiếng Tàu Quảng Đông 100% đó, các bạn ơi        [to demonstrate].

     Trong khi tiếng miền Trung từ Thanh Hoá xuống đến Thừa Thiên chung một gịọng, trầm, đục, nặng, quê, mùa, và c̣n có chung rất nhiều tiếng cổ.

     Có một quyển từ điển Nguồn Gốc Tiếng Nghệ Tĩnh của Trần Hữu Thung và Thái Kim Đỉnh rất có giá trị khảo cứu nhưng mà khi xin in ở ngoài Hà Nội th́ bị mấy tên văn nô ngoài đó từ chối khéo, bảo với họ rằng:  “Chỉ phải các ông nói tiếng ngoại quốc trong đó!”

     Nên rốt cuộc phải đành in ngay ở nhà in nhỏ ở Vinh, Nghệ An chỉ v́ cái ư thức hủ nút của bọn chúng.

     Ảnh hưởng Tàu không xuống đến đó [vùng Cữu chân xưa] nhiều v́ phải đi qua cái biển người Bắc Việt trước đă !.

     Cũng như tiếng miền Nam quá mới th́ lại xen lẫn nhiều tiếng gốc Kampuchia hiện nay mà Trung và Bắc không có, v́ chúng ta đâu có tiếp xúc nhiều với Khmer cho bằng người Nam đâu?

     Cách đây 300 năm biên giới giữa Khmer và Việt rất lỏng lẻo gần như không có, cho

nên miền Nam có từ ngữ như là:

cà chớn [k-châl ……………là làm biếng] người Việt miền nam  hiểu theo nghĩa khác là không tin cậy được.

giỏ cần chóp, giỏ cần xé v.v..

chân nam đá chân chiêu [châng chuyênh là tiếng Khmer                    [# phía bên trái ]

Ta và Khmer đă chung nhau tiếng đó từ mấy ngàn năm về trước.

xí quách < chi-wích / life / đời sống >

Thí dụ: hết xí quách, tan tành xí quách cũng là tiếng chung của Thái, Lào, Miên [gốc Sanskrit].

     Sự tiếp xúc làm cho tiếng nói thay đổi, không qua lại với nhau th́ sẽ chết [tử ngữ].

Tiếng Việt năm 2012 vẫn c̣n giữ lại rất nhiều tiếng một xưa, phát âm xưa, ư nghĩa xưa, không những là của tiếng Mường / tiền Việt, mà c̣n là ngôi nhà rông chung sống của biết bao nhiêu người anh em ngôn ngữ xa gần nhưng mà đều ở quanh ta, vùng ĐôngNam Á.

     Cho nên tiếng Việt được các nhà ngữ học cho là rất xưa, mà cũng rất nay, già nhất mà cũng là em út nhất của miền Đông Nam Á.

     Xét đến những tiếng láng giềng như Lào, Thái, Miên, Chàm, Ṃn, Mă Lai, Indonesia, Nùng, Thổ, Tày, Thái đen, Thái đỏ, Thái trắng, Hmong, Yao, Zhuang và 50 bộ lạc Ṃn Khmer của dăy Trường Sơn hoang dại th́ ta thấy họ cũng giữ lại được rất nhiều những tiếng Việt xưa, tiếng Mường xưa mà họ cũng như ta không ngờ đến … xưa rất xưa, nay rất nay mà luôn cả những h́nh thức trung gian cũng em em, man mán, na ná, giông giống giữa ta với họ nữa. 

Đúng là "ḿnh với ta tuy hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai".

tlan             >  tràn   và  lan ra

tlong           >  trong và  ḷng

tlên              >  trên   và   lên

tlôn             >  trôn   và  lồn

tlồi              >  trồi    và   lồi

tlẽn              >  trẽn   và   bẽn lẽn

tlơm            >  trơm  và   lơm

Tiếng Mường hiện nay đó, các bạn ơi, tiếng nói xưa của Lê Lợi mà cũng là của Nguyễn Trăi đó !    

Ta có chừng 150 người anh em ngôn ngữ khắp miền Nam Á Châu này mà chỉ có một ông thầy là Tàu, mấy người kia th́ học ông thầy Ấn Độ v́ thế khác trường và lạc đuờng đi tới với nhau, dù cho hồi nhỏ chưa đi học th́ sống chung trong một nhà, cái nhà chung của ngôn ngữ Nam Á.

 

trích Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt

 

BS Nguyễn Hy Vọng

 

http://www.gio-o.com/NguyenHyVong.html

 

© gio-o.com 2012