BS NGUYỄN HY VỌNG

D�nh L�u Giữa

Tiếng Việt v� Tiếng L�o Th�i

sưu tầm & tản mạn

 

����������� [viết tặng bạn Thu Tứ, người c� l�ng "mi t�m mi �" với tiếng Th�i]

 

ngập ngừng��������� xngập��������������������������� to stop

thật thࠠ���� ��������� th���������������������������������� sure, really, certainly

cuồn cuộn������������ khu�ng������������������������� to billow

l�m nhỏ lại���������� giỏ�������������������������������� to diminish, reduce

mịt m�ng������������� km�ng�������������������������� obscure, spread out

th�ng lọng����������� klọng���������������������������� to lasso

khắm������������������� khắm���������������������������� to stink, foul smelling

l�m cho r� rời������ krả�������������������������������� to decompose

rạc r�i������������������ krạc������������������������������ scattered

m�ng lung����������� kmung�������������������������� vast, immense

l�p ng�p�������������� l�p kh�p����������������������� timorously cautious

lưng kh�m����������� lăng kh�m�������������������� hunched back

khơi khơi�������������� khơi khơi��������������������� superficial, vaguely

nghẹt cổ��������������� tịt�� khổ������������������������� constricted [throat]

b�p cổ����������������� bịp khổ������������������������� to strangle the neck

lội ng�c cổ l�n����� lội� khổ������������������������� to swim with emerged head

nghi�ng cổ� ��������� i�ng khổ����������������������� to tilt the neck

���� Tr�n đ�y chỉ l� v�i chục th� dụ trong số 5000 tiếng Th�i giống với tiếng Việt.

���� Muốn xem cho hết th� xin v�o: "Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt"*, trong đ� c� chừng tr�n 10 ng�n tiếng, từ, �m v� giọng giống nhau giữa Th�i L�o v� Việt hiện nay. Ch�ng l� 10 ng�n c�nh nh�nh của một c�y cổ thụ "ng�n ngữ" khổng lồ chằng chịt đan ch�o qua lại với nhau từ h�ng chục ng�n năm về trước.

���� Ch�ng n� l� 275 ng�n c�i bằng chứng rằng c�c tiếng n�i Th�i L�o Mường Việt T�y, N�ng Thổ,� � xưa đều thuộc gi�ng ng�n ngữ AA [Austro Asiatic] c�ng nh�nh M�n -Tai [kết hợp giữa M�n Khmer v� Tai cổ xưa].�

���� Hai ng�n năm văn h�a ti�m nhiễm của đ�n anh Ấn Độ đ� phủ đầu c�c d�n Th�i L�o Khmer, M�n, Miến v ..v..nhưng vẫn chẳng l�m g� được c�i vốn liếng chung� của c�c tiếng n�i ấy.

���� Cũng như 2000 năm dạy dỗ văn ho� đ� hộ v� �p đặt của T�u cũng chẳng ti�u diệt được tiếng Việt.

���� Nhưng v� vậy m� hai d�ng anh em ng�n ngữ n�y đ� lạc đường t�m kiếm nhau [theo Bernard Groslier, nh� khảo cổ Đ�ng Nam �].

���� Li�n hệ nguồn gốc giữa c�c tiếng n�i tr�n đ�y với tiếng Việt đ� bị lu mờ đi, nhưng m� d�nh l�u nguồn cội giữa c�c ng�n ngữ ấy mới thật l� c�i hiện tượng văn ho� triền mi�n nhất để t�m họ t�m h�ng, chắc ăn hơn tất cả những n�t văn ho� kh�c như phong tục, c�ch ăn mặc, nếp sống x� hội, lịch sử vua ch�a, chiến tranh, t�n gi�o, chữ viết �.

���� Xưa, cố đạo Sovignet đ� t�m đuợc gần một ng�n tiếng Th�i L�o giống �m giống nghĩa [cognatic] với tiếng Mường Việt. Thật ra c� đến h�ng chục ng�n tiếng như thế giữa Th�i L�o v� Mường Việt.

���� Mục đ�ch b�i n�y l� để gi�p ta bỏ đi c�i � nghĩ sai lầm của phần lớn c�c nh� học giả H�n Việt xưa nay đ� ti�m nhiễm v�o đầu �c họ, cho l� "tiếng Việt do từ tiếng T�u m� ra [sic] @ Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, L� Ngọc Trụ, Nguyễn Phương, Huệ Thi�n �v� h�ng t� c�c �ng kh�c nữa.

���� Ng�n ngữ học hiện đại đ� nhận x�t ra c�i đ� sai, � k�p ng�n ngữ của Encyclopedia Britannica cũng n�i:����

���� Tiếng Việt thuộc một nguồn gốc kh�c hẵn tiếng T�u

���� D�n Việt xưa cũng thuộc một gi�ng họ kh�c hẵn d�n Hoa-H�n

���� Nếp sống người Việt cổ xưa� cũng rất kh�c với nếp sống của d�n T�u

���� Mặc d� phải mang lấy một c�i �o cho�ng ng�n ngữ v� văn ho� chật đến nỗi gần như b� chặt lấy th�n h�nh, ta vẫn thấy r� đ� l� c�i �o chứ kh�ng phải l� da thịt của ta. Th� dụ như:

gi�ng nước trong / gi�ng thanh thủy

chết v� nước / hy sinh v� tổ quốc

người t�nh cũ / cựu t�nh nh�n

bến cũ / cổ độ

trời đất / thi�n địa

���� Cả trăm ng�n th� dụ như vậy, ai cũng t�m ra được, cho thấy l� ta c� "c�i của ta" nhưng cũng học đ�i bắt chước n�i th�m "c�i của người" cho n� le, cũng như mấy kẻ hay khoe tiếng T�y tiếng Anh vậy th�i.

���� Ta chỉ mượn th�m chừng > 2000 tiếng "con nu�i" [trong số # 10 ng�n tiếng một của� T�u] qua > 2000 năm để l�m gi�u cho # 9500 tiếng một [tiếng Việt con nh�] của ta đ� c� sẵn từ h�ng mấy ng�n năm trước đ� nữa.

���� Đổ đồng một năm �ng b� ta chỉ mượn # hai tiếng, c� chi m� gọi l� nhiều!� Ta chỉ mượn th�m chứ đ�u c� đ�nh đổi lu�n cả tiếng n�i của ta hồi n�o đ�u!� Một tiếng cũng kh�ng mất!

���� Sự thật l� thế n�y: tiếng Mường, tiếng Việt, tiếng Th�i, tiếng L�o, tiếng Khmer, tiếng M�n b�n Miến Điện, ngay cả tiếng Ch�m [Chăm], tiếng Malay-Indonesian nữa� đều d�nh l�u với nhau như một mớ b�ng bong, d�y mơ rễ muống, trong một m�ng lưới rộng m�nh m�ng m� người n�i cũng như kẻ nghe kh� m� t�m ra đầu đu�i gốc ngọn trước sau,������

���� Tuy nhi�n, kh�ng phải l� kh�ng t�m ra được.

���� Qua thời gian v� lối l�m việc c� khoa học v� phương ph�p của c�c nh� ngữ học hiện nay, đang c� một ngọn đuốc soi rọi r� r�ng v� hợp l� v�o từng đường tơ kẻ t�c, v�o từng chi tiết của c�i m�ng nhện ng�n ngữ đầy b� mật v� th�ch th� cuả c�c tiếng n�i [h�ng trăm thứ tiếng] ở Đ�ng Nam �.

���� Thật ra vấn đề n�y kh�ng mới mẻ g�.� C�ch đ�y 150 năm, nh� ngữ học Logan đ� nhận x�t trước ai hết về tiếng An Nam hồi đ� l� rất giống với tiếng M�n b�n Miến Điện, m� �ng gọi cả hai l� "Mon-Annam formation".

���� C�c nh� ngữ học cũng t�m kiếm về những tiếng n�i �t người n�i như:

tiếng� Mon b�n Miến điện

tiếng� Khasi ở tr�n Bangladesh

tiếng� Nicobarese ở tr�n mấy h�n đảo nhỏ li ti ngo�i biển phi� nam Miến Điện�����������

tiếng� Munda b�n Đ�ng Bắc Ấn Độ [tổng cọng 40 triệu người]

tiếng� Tai [c� nh�nh Zhuang, nh�nh Kadai, �] chừng 30 triệu ở ngay tr�n đầu Bắc Việt

v� thấy rằng ch�ng n� cũng đ� pha trộn với nhau v� với tiếng Mường� từ ng�n xưa,

trong khi tiếng T�u chỉ l� c�i �o vừa hoa vừa ho� m� 2 ng�n năm bắt người Việt phải mặc v�o.�

���� Nếu ai muốn l�m quan cho T�u, n� cũng l� c�i d� che lấp đi lấn �t những c�ch n�i năng dễ hiểu của �ng b� ta, th� dụ như non s�ng đất nước �. th� ch�ng n� dạy cho l� phải n�i th�m l� sơn h� x� tắc v�n v�n.

���� Cả ng�n ng�n những c�ch ăn n�i dễ d�ng v� dễ hiểu của người Giao Chỉ lại phải học k�m th�m những c�ch ăn n�i gọi l� văn hoa văn chương đ�, c� th�m sự th�c giục của mấy trăm đời những kẻ l�m quan cho T�u, bảo sao ta kh�ng "chết mệt" với tiếng T�u.

��� Ch�ng ta gần như qu�n mất rằng "xương t�c của cha, thịt da của mẹ" ��ng b� ch�ng ta đ� c� một gốc g�c kh�c hẵn với người T�u hiện nay cũng như hai ng�n năm về trước.

���� Kh� m� n�i hết đuợc những giống nhau về tiếng n�i giữa c�c d�n Việt, Mi�n, L�o, Th�i, Ch�m, M� Lai từ ng�n xưa cho đến hiện nay [xin v�o Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt n�i tr�n c� đũ chi tiết từng từ từng chữ một].

��� Th� dụ một người con g�i c� d�ng đi đủng đỉnh th� người L�o Th�i cũng n�i l�:

���������� kđuk� kđik����������������������� y hệt như ta

��� � C� h�ng ng�n chữ lấp l�nh như thế, nhấp nha nhấp nhổm như thế giữa Th�i v� Việt.

Đ� chỉ l� những h�nh thức đọc trẹ hay đảo qua đảo lại c�ch ph�t �m giữa c�c thứ tiếng một, tiếng đ�i, tiếng gh�p ba gh�p bốn nữa giống nhau giữa Việt, Th�i, L�o, Mi�n v.v.. m� th�i.

��� Nếu ta bảo l� thiết tha tha thiết �th� người Th�i cũng n�i y hệt l� thi�t tha tha thi�t.� Họ cũng đảo qua đảo lại như thế nhưng hơi kh�c l� họ n�i th� họ hiểu nghĩa của hai chữ ấy l� c�i g� "k�o d�i" trong khi ta n�i như vẹt v� hai chữ thiết tha c� thể hiểu cả mấy chục c�ch v� ta đ� "đ�nh mất" c�i nguồn gốc � nghĩa ban đầu v� bị c�i tiếng T�u n� đ�nh tr�o, nh�n lạm v� đ�nh lộn s�ng chữ nghĩa với ch�ng ta.

���� C� cả h�ng ng�n những chữ lấp l�nh như thế m� người Th�i, L�o, Khmer giữ c�i ch�a kho� � nghĩa c�n ta th� bị �p học tiếng T�u n�n kh�ng c�n hiểu m�nh n�i g� khi ta n�i :

đẹp đẽ, sạch sẽ, mới mẻ, vui vẻ,

khỏe khoắn, băn khoăn, xuề xo�,

sớm sủa, rộn r�ng, rộn rịp, rộn r�,

rảnh rang, nhẹ nh�ng, vội v�ng, lỡ l�ng

s�ng sủa, s�ng lạng, s�ng trưng, s�ng quắc,

xinh xắn, sốt sắng, tươi mươi, tươi tắn,

nhỏ nhắn, mau mắn, may mắn

���� Chừng 5000 tiếng như thế c� trong tiếng Việt, ta n�i như vẹt, kh�ng hiểu tại sao.

Nhưng nếu ta học tiếng Th�i, L�o, M�n Khmer, Ch�m v.v.. th� ta biết �m biết nghĩa của ch�ng dễ d�ng [xin đ�n xem Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt].

���� Vậy m� qua hơn hai ng�n năm tiếng Việt vẫn kh�ng chết v� n� lợi dụng tiếng T�u để m� sống c�n.

���� N� l�m ra c�i thứ tiếng gh�p lạ l�ng t�i gọi l� H�n Việt m� mấy �ng "H�n Việt" phủ nhận m� cho l� đương nhi�n phải c� như thế:

xuất ra, nhập v�o

thượng l�n, hạ xuống,

cọng th�m trừ bớt

sinh sống gi� l�o,

truy l�ng, đ�nh chiếm

..............

���� T�i chấp lu�n cả 1300 triệu người T�u, c� ai, d� l� một người th�i, viết được, đọc được, hiểu được, nghe được, n�i được, ph�t �m được, đ�nh vần cho được, nhấn giọng cho được mấy ng�n tiếng ấy t�i xin trả cho họ 10 ng�n đ� la x�i chơ i!

���� C�n khuya!� Từ Khổng Tử cho đến Mao trạch đ�ng cũng phải ch�o thua, kh�ng đọc ra được����������������

���� Cả ng�n ng�n tiếng cặp đ�i như vậy m� �ng Đ�o Duy Anh lại kh�ng cho đ� l� "H�n Việt" mặc d� r� r�ng l� một tiếng T�u gh�p với một tiếng Việt m� lại xem ch�ng n� đương nhi�n [sic] như l� tiếng Việt 100%].

���� Tr�i lại, những tiếng 100% T�u th� ổng lại cho l� "H�n Việt" chỉ v� đọc trẹ đi như

tổ quốc, thi�n hạ, đ�i thọ, rồi ổng l�m từ điển T�u m� lại gọi l� từ điển H�n Việt.

���� Cả ng�n tiếng như vậy c� g� l� Việt đ�u ngo�i c�i c�ch đọc kh�ng giống T�u th�i.

Nh� ng�n ngữ học Mark Alves đ� viết một b�i c� � thức "để đời" về tiếng Việt, �"What's so "Chinese" about Vietnamese?" #� tiếng Việt c� g� "T�u" lắm đ�u!

���� � nghĩa của n� l� của T�u, m�nh mượn m� n�i rồi quỵt lu�n, kh�ng trả lại nữa.

Hơn nữa, c� cả chục ng�n tiếng T�u m� kh�ng bao giờ người Việt m�nh d�ng hay n�i suốt 2000 năm bị đ� hộ rồi bị ảnh hưởng, vậy m� mấy �ng viết từ điển h�n việt cho v�o từ điển của mấy ổng tuốt luốt lu�n.�

H�ng ng�n chữ T�u m� chưa chắc người T�u đ� biết l� c�i qu�i g�, l�m ra c�i vẻ ta đ�y hay chữ th� dụ như trong từ điển Việt Anh Nguyễn văn Kh�n, 1966.

khoa đẩu, tri th�, điểm đăng, điểm lệ

đi�n d�m, điền k�, điền kh�ch,

điện l�ng, điện linh, điện l�

chế ph�p, chế phục, chế trị, chi lộ,

chi kh�ng, chi lộ, ch� ư, ch� nhựt, chỉ vọng ...

��� Trời đất, đọc m� thấy ch�ng mặt lu�n!

��� Tiếng Việt l� một c�i v�ng khoen� trong c�i d�y chuyền ng�n ngữ của miền Nam �, v�ng rộng m�nh m�ng từ trung t�m Ấn Độ qua đến v�ng bao la b�t ng�t ph�a nam Trường giang.

���� Đ� l� nơi sống xưa của giống người RMon, Rman c� nghĩa l� "người" / people, person, man, men.�

��� � HMong cũng c� nghĩa l� người [ph�t �m cho đ�ng l� hMonk], t�n gọi l� Man bị hiểu lầm, cũng c� nghĩa l� người.�

Người T�u kh�ng c� n�i Man nghĩa l� d� man hay man rợ g�, chữ man của họ để diễn �m, t�nh cờ m� c� nghĩa đ�, chỉ l� một t�nh cờ về phi�n �m, t�nh cờ tr�ng về � nghĩa đ� th�i v� người Mường c�n tự gọi họ l� M�l / Mỏl � lại cũng l� "người".

������ Người Việt xưa với người M�n người Th�i xưa cũng như ba anh em c�ng một gi�ng họ, ta ở v�ng ch�u thổ Bắc, họ ở gần đ� [mạn ngược], c�n người M�n / Rman th� ở tuốt b�n Miến Điện, vậy th� tại sao tiếng n�i lại giống nhau?

���� Tại v� từ xưa, miền Đ�ng Bắc Ấn Độ qua đến chiều d�i s�ng Dương Tử c� một giống người n�i một thứ tiếng gốc tạm gọi l� M�n-Tai, m� tiếng Mường xưa l� một phần của n�.

���� [M�i sau n�y ta mới bị ảnh hưởng T�u.]�

100% tiếng xưa chung của �ng b� vẫn c�n nhưng cũng như chia gia t�i, mỗi con ch�u sau n�y giữ một phần c�i của cải đ� n�n sinh ra nhiều ng�n ngữ kh�c nhau.

���� Ai đ�u ở đ�, kh�ng c� di chuyển l�n xuống qua lại tới lui như họ tưởng lầm nhưng trao đổi v� g�p nhặt cũng như tỉa lảy, lặt bớt đi tiếng n�y tiếng nọ l� chuyện phải c�.

���� S�ng n�i đ�u c� hề ngăn c�ch 100%?� Ai cũng biết gi�ng s�ng l� gi�ng sống v� d�y n�i n�o lại chẳng c� đ�o v� thung lủng để qua lại. Dọc Trường Sơn cũng c� 7 c�i đ�o m� con người xưa đ� qua lại với nhau.

���� Lẽ dĩ nhi�n tiếng Mường xưa kh�ng bao giờ lại d�nh chi đến tiếng Esquimaux hay tiếng Gaulois v� ở qu� xa, nhưng c�c nh�m người xưa ở Đ�ng Nam � th� qu� gần nhau về chỗ ở n�n tiếng n�i giống nhau nhiều l� điều dễ hiểu.

���� Giống nhau v�i ba tiếng th� l� ho�n to�n do t�nh cờ như l� giữa tiếng Anh Ph�p Mỹ v� tiếng Việt:

giật, giựt / to jerk

giằng lấy / to yank

b� t�������� / petit

vestiges�� / vết t�ch

diarrhea� / đi ỉa re!

���� Chứ c�n giống nhau đến 42% giữa tiếng Th�i Việt th� l�m sao m� t�nh cờ cho được?

Ắt phải c� chung nguồn gốc l� c�i chắc.

���� C�n như bảo trong tiếng Việt c� x�i, c� d�ng, c� mượn 3500 tiếng T�u để m� n�i, th� sao lại chẵng chung gốc?

���� Nhưng m� ai cũng biết đ� chỉ l� tiếng vay mượn, c� cũng được m� kh�ng cũng thế th�i, v� l� vay mượn, c� trả hay kh�ng th� cũng thế th�i, kh�ng phải l� đồng tiền vốn do m�nh l�m ra m� c�.

���� M� đ� vay mượn th� sao l� nguồn gốc được?� Hơn nữa ăn uống, chạy nhảy, iả đ�i leo tr�o � th� vay mượn ở đ�u vậy c�?� Hỏi tức l� trả lời.

���� N� l� tiếng gốc g�c của miền Nam �, c� nhiều ng�n ngữ kh�c c�ng n�i thế, kh�ng ri�ng chi cho Th�i, L�o, M�n Khmer, Ch�m hay Malay.

���� Th� dụ tiếng Khasi, ở tr�n Bangladesh, giống tiếng Việt cả c�u d�i chứ kh�ng những chỉ l� từng tiếng m� th�i :

mi sống ở m� ������ ���th� họ n�i� mi� sh�ng� h-ơ� m� ?��� ����������� Where do you live?�������

tao sống ở đ�y� ������������ �th� họ n�i nga� sh�ng� h-ơ� ni��������� ��������� I live right here.

[Xem bảng k� tất cả những tiếng đồng nguy�n Khasi-Việt trong một b�i kh�c.� Họ cũng viết abc như m�nh đ� mấy trăm năm rồi!]

���� C�i gốc tiếng của �ng b� của ta vẫn c�n nguy�n v� �ng b� ta l� những quyển từ điển sống, n�i tiếng xưa của họ v� cũng n�i tiếng n�i hiện nay của ch�ng ta.

���� Ta thường cho l� miền Bắc Việt l� c�i n�i ng�n ngữ lịch sử v� nh�n chủng của gi�ng giống Việt. C�i đ� chỉ đ�ng một phần. Ri�ng về tiếng n�i th� kh�ng đ�ng.

���� Ai cũng biết về chỗ ở của người Mường hiện nay gần với v�ng Thanh Nghệ Tĩnh hơn [xem h�nh].

���� Ai cũng biết l� tiếng n�i của miền ấy xưa hơn, nặng hơn, qu� m�a hơn tiếng Bắc v� c� h�ng trăm tiếng xưa của miền Thanh Nghệ Tĩnh giống tiếng Mường, tiếng Th�i L�o hơn m� người Bắc kh�ng c�n biết đến nữa v� họ đ�nh mất ch�ng n� đi rồi qua hơn 2000 năm đứng mũi chịu s�o, sống chung đụng với T�u, vừa chung vừa đụng � n�n tiếng Bắc đ� bị T�u ho� kh� nhiều.

Khốn nạn���� hiểu theo nghĩa T�u l� khốn khổ trong khi Trung v� Nam hiểu theo nghĩa ri�ng l� "ph� l�ng ph� x�m, v� tư c�ch, đểu c�ng".

���� piệu ziễn � tiếng T�u Quảng Đ�ng 100% đ�, c�c bạn ơi������� [to demonstrate].

���� Trong khi tiếng miền Trung từ Thanh Ho� xuống đến Thừa Thi�n chung một gịọng, trầm, đục, nặng, qu�, m�a, v� c�n c� chung rất nhiều tiếng cổ.

���� C� một quyển từ điển Nguồn Gốc Tiếng Nghệ Tĩnh của Trần Hữu Thung v� Th�i Kim Đỉnh rất c� gi� trị khảo cứu nhưng m� khi xin in ở ngo�i H� Nội th� bị mấy t�n văn n� ngo�i đ� từ chối kh�o, bảo với họ rằng:� �Chỉ phải c�c �ng n�i tiếng ngoại quốc trong đ�!�

���� N�n rốt cuộc phải đ�nh in ngay ở nh� in nhỏ ở Vinh, Nghệ An chỉ v� c�i � thức hủ n�t của bọn ch�ng.

���� Ảnh hưởng T�u kh�ng xuống đến đ� [v�ng Cữu ch�n xưa] nhiều v� phải đi qua c�i biển người Bắc Việt trước đ� !.

���� Cũng như tiếng miền Nam qu� mới th� lại xen lẫn nhiều tiếng gốc Kampuchia hiện nay m� Trung v� Bắc kh�ng c�, v� ch�ng ta đ�u c� tiếp x�c nhiều với Khmer cho bằng người Nam đ�u?

���� C�ch đ�y 300 năm bi�n giới giữa Khmer v� Việt rất lỏng lẻo gần như kh�ng c�, cho

n�n miền Nam c� từ ngữ như l�:

c� chớn [k-ch�l �����l� l�m biếng] người Việt miền nam �hiểu theo nghĩa kh�c l� kh�ng tin cậy được.

giỏ cần ch�p, giỏ cần x� v.v..

ch�n nam đ� ch�n chi�u [ch�ng chuy�nh l� tiếng Khmer ���� ��������� ����[# ph�a b�n tr�i ]

Ta v� Khmer đ� chung nhau tiếng đ� từ mấy ng�n năm về trước.

x� qu�ch < chi-w�ch / life / đời sống >

Th� dụ: hết x� qu�ch, tan t�nh x� qu�ch cũng l� tiếng chung của Th�i, L�o, Mi�n [gốc Sanskrit].

���� Sự tiếp x�c l�m cho tiếng n�i thay đổi, kh�ng qua lại với nhau th� sẽ chết [tử ngữ].

Tiếng Việt năm 2012 vẫn c�n giữ lại rất nhiều tiếng một xưa, ph�t �m xưa, � nghĩa xưa, kh�ng những l� của tiếng Mường / tiền Việt, m� c�n l� ng�i nh� r�ng chung sống của biết bao nhi�u người anh em ng�n ngữ xa gần nhưng m� đều ở quanh ta, v�ng Đ�ngNam �.

���� Cho n�n tiếng Việt được c�c nh� ngữ học cho l� rất xưa, m� cũng rất nay, gi� nhất m� cũng l� em �t nhất của miền Đ�ng Nam �.

���� X�t đến những tiếng l�ng giềng như L�o, Th�i, Mi�n, Ch�m, M�n, M� Lai, Indonesia, N�ng, Thổ, T�y, Th�i đen, Th�i đỏ, Th�i trắng, Hmong, Yao, Zhuang v� 50 bộ lạc M�n Khmer của d�y Trường Sơn hoang dại th� ta thấy họ cũng giữ lại được rất nhiều những tiếng Việt xưa, tiếng Mường xưa m� họ cũng như ta kh�ng ngờ đến � xưa rất xưa, nay rất nay m� lu�n cả những h�nh thức trung gian cũng em em, man m�n, na n�, gi�ng giống giữa ta với họ nữa.�

Đ�ng l� "m�nh với ta tuy hai m� một, ta với m�nh tuy một m� hai".

tlan ����������� >� tr�n�� v� lan ra

tlong ��������� >� trong v� l�ng

tl�n �� ��������� >� tr�n�� vࠠ l�n

tl�n�� ��������� >� tr�n�� v� lồn

tlồi� � ��������� >� trồi��� vࠠ lồi

tlẽn� � ��������� >� trẽn�� vࠠ bẽn lẽn

tl�m� ��������� >� tr�m� vࠠ l�m

Tiếng Mường hiện nay đ�, c�c bạn ơi, tiếng n�i xưa của L� Lợi m� cũng l� của Nguyễn Tr�i đ� !����

Ta c� chừng 150 người anh em ng�n ngữ khắp miền Nam � Ch�u n�y m� chỉ c� một �ng thầy l� T�u, mấy người kia th� học �ng thầy Ấn Độ v� thế kh�c trường v� lạc đuờng đi tới với nhau, d� cho hồi nhỏ chưa đi học th� sống chung trong một nh�, c�i nh� chung của ng�n ngữ Nam �.

 

tr�ch Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt

 

BS Nguyễn Hy Vọng

 

http://www.gio-o.com/NguyenHyVong.html

 

� gio-o.com 2012