
MẤY CHỮ “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO”
VÀ VẤN ĐỀ H̉A GIẢI H̉A HỢP DÂN TỘC HIỆN NAY
Nguyễn Xuân Lộc và Nguyễn Huệ Chi
gio-o nhận được bài viết từ Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi, cho hay bài này đă được đăng tải trên báo talawas ngày 6/11/ vừa qua, nay đă được bổ xung, nhờ gio-o đăng tải để rộng đường dư luận.
Tác giả là hai nhà trí thức nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay.
Một từ Miền Nam và một từ Miền Bắc.
Giáo Sư Nguyễn Xuân Lộc nguyên là Chủ Tịch Sinh Viên Đại Học Khoa Học Sài G̣n 1963 - 1965. Là một trong những lănh tụ sinh viên nổi tiếng liên quan đến vụ chống đối Hiến Chương Vũng Tàu của Chủ Tịch Nguyễn Khánh hồi năm 1964. Giáo sư Nguyễn Xuân Lộc đă từng bị chính quyền Nguyễn Khánh bắt giam. Sau đó ông được học bổng sang du học tại Âu Châu và tốt nghiệp tiến sĩ Toán.
Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi là một học giả Hà Nội (con của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đổng Chi), chuyên viết về các vần đề Văn Hóa và Tư Tưởng Việt Nam.
I. Bàn thêm về bốn chữ "cư trần lạc đạo" của Trần Nhân Tông
Vua Trần Nhân Tông nói bốn chữ trên, mà chị
Thái Kim Lan trong bài “Vốn xă hội ở Việt Nam,
nguy cơ phá sản và triển vọng phát huy”(1) cho
rằng nó có thể là phương châm để gây "vốn
xă hội" lâu dài cho đất nước Việt Nam hiện
tại, với thần dân của một nước Đại
Việt, trong đó triều đ́nh chủ trương
"đa nguyên văn hóa" và "khoan dung chính trị",
các thành phần dân chúng với sắc tộc, tôn giáo và quyền
lợi kinh tế khác nhau đă có một thỏa thuận
nhất trí (consensus omnium) về vấn đề ḥa giải
- ḥa hợp các mâu thuẫn xă hội.
Sau năm 1975, Đảng Cộng sản Việt
Nam, đă kinh qua bao nhiêu sai lầm và thất bại trong quá
tŕnh gọi là "ḥa giải - ḥa hợp" các thành phần
dân tộc đối kháng để cùng nhau xây dựng lại
đất nước, cho đến thập niên 90 thế
kỷ trước, khi Liên Xô và khối XHCN Đông Âu lần
lượt sụp đổ, th́ bắt buộc phải
đặt lại vấn đề ḥa giải - ḥa hợp
với khối người Việt di tản hiện sống
bên ngoài Tổ quốc cốt để nhận viện trợ
và vay tiền khối G7, và nhất là nhận hàng tỷ
đô-la kiều hối từ bên ngoài gửi về giúp gia
đ́nh.
Thế những trở ngại chính cho vấn
đề ḥa giải - ḥa hợp dân tộc trong bối cảnh
hiện tại của nước CHXHCN Việt Nam với
nền "kinh tế thị trường định
hướng XHCN" là những cái ǵ? Chướng ngại
vật cơ bản ở đây là tính "ngă chấp
độc tôn - độc tài", vốn là khuynh hướng
bảo thủ ĺ lợm luôn bám chặt vào cái “ngă” hẹp
ḥi và khép kín của "Đảng và phe phái" để
cùng sở hữu toàn thể đất nước.
Bản chất của trở ngại này là
loại trừ và độc chiếm, hoạt dụng của
nó là phân ly chia rẽ th́ làm ǵ nh́n ra được cốt
lơi vấn đề là "bao dung - ḥa giải" để
tiến đến "ḥa hợp dân tộc"?
"Ngă chấp độc tôn - độc
tài" tất yếu sinh ra loại trừ, phân ly, chia rẽ
đối lập để độc chiếm "mọi
thứ của dân tộc" cho riêng ḿnh, và là nguồn gốc
bấy lâu nay của những xung đột, đau khổ
và tội ác trong xă hội Việt Nam (như chị Thái Kim
Lan đă chỉ ra trong bài của ḿnh kể từ giai
đoạn "đổi mới", c̣n những giai
đoạn trước th́ khỏi nói v́... khó có thước
đo nào thích hợp!).
Như thế rơ ràng là tham vọng "ngă chấp
độc tôn độc tài - ngă sở dân tộc" là
chướng ngại chứ không phải là biện pháp thực
tế để thực hiện sự nghiệp ḥa giải
- ḥa hợp dân tộc.
Vậy th́ cái ǵ có thể coi như
"cái" sẽ đưa các thành phần dân tộc Việt
Nam đến
ḥa giải, ḥa hợp?
Dân tộc là cái toàn thể nên không thể có một
biên giới sắc tộc, tôn giáo hay đảng phái nào
được quyền tạo nên những cản trở
tiến hóa trong ḷng của nó.
Sau khi thoát khỏi sự đô hộ từ
phương Bắc, dân tộc Việt Nam đă tồn tại
bao đời giữa hai hai nền văn minh lớn của
nhân loại, Trung Quốc và Ấn Độ, chính nhờ
hai đặc trưng "đa nguyên văn hóa" và
"khoan dung chính trị" mà nó đă khám phá từ mười
thế kỷ trước. Chính dựa trên nền tảng
"văn hiến mới" này mà nước Đại
Việt đă không bị thôn tính hay bị đồng hóa,
đó là sức mạnh vô biên mà Nguyễn Trăi đă phát hiện
ra khi nói: "Lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn!".
Nhân nghĩa ở đây phải hiểu như "kết
năng" của ḷng dũng cảm đi đôi với
thiện tâm, từ ái của dân tộc Việt Nam trên con
đường tiến hóa và ḥa nhập cùng nhân loại
văn minh, mà không có một rào cản "độc tôn -
độc sở" nào có thế ngăn cản được.
Xă hội nước ta đến được
đó th́ mỗi con người trong xă hội mới có thể
nói đến bốn chữ "cư trần lạc
đạo" chị Lan ạ !
Nguyễn Xuân Lộc (GS TS Viện Toán học)
II. Lạm bàn về ḥa giải ḥa hợp
Chị Thái Kim Lan chủ yếu bàn về
phương châm thực hành ḥa giải - ḥa hợp dân tộc
thông qua việc giải mă mấy chữ “cư trần lạc
đạo” của vua Trần Nhân Tông như một
phương châm khôn ngoan mà ông vua nhân ái này sử dụng nhằm
nâng cao “vốn xă hội” truyền thống của đất
nước chúng ta dưới thời Trần. Đó là một
cách bàn lư thuyết dựa vào chứng cứ lịch sử
rất bóng bẩy, và cũng có nhiều điều lư thú,
trong đó sự đối chiếu với nguy cơ hao
ṃn dẫn đến phá sản “vốn xă hội” giữa
t́nh h́nh ngổn ngang của xă hội Việt Nam hiện
đại, do bị những yếu tố “phi tự nhiên”
và “sai quy luật” chi phối đời sống vật chất
và tinh thần quá nặng - hay đúng hơn do một chủ
trương cố hữu luôn luôn chính trị hóa mọi mối
quan hệ xă hội vốn kết đọng từ nhiều
thành tố tưởng như vô h́nh mà kỳ thực có gốc
rễ sâu xa trong quá tŕnh h́nh thành cộng đồng dân tộc:
t́nh cảm (Người trong một nước phải
thương nhau cùng), đạo đức, lương
tri, tập tục, tín ngưỡng, tâm linh, phường hội,
nghiệp đoàn, gia tộc, làng xă, xă tắc... khiến cho
xă hội ngày nay càng trở nên phân ră hơn là cố kết
một cách tự nhiên và bền chặt - là những ư kiến
theo tôi rất sắc sảo, đáng được lưu
tâm xem xét. Ḥa b́nh an lạc là điều kiện tiên quyết
cho một xă hội phát triển, đấy cũng là thâm ư
“cư trần lạc đạo” của ông vua Trần mà vị
nữ Giáo sư triết học muốn nhắc nhở.
Tuy vậy, đúng như anh Nguyễn Xuân Lộc
nói, phải nh́n thẳng vào thực tế và chỉ ra bằng
thực tế, rằng nhân tố mấu chốt cản trở
sự ḥa giải - ḥa hợp dân tộc (tiền đề
lớn nhất của ḥa b́nh an lạc) ở đây là một
trở lực xă hội, một quan niệm tư tưởng
từ lâu đă được vật chất hóa: đó là
đầu óc “duy ngă độc tôn” của những tổ
chức nhân danh giai cấp và nhân dân để điều
hành dân tộc - nhưng duy ngă độc tôn xét kỹ ra h́nh
như cũng chỉ nhằm bảo vệ cho cái ghế
và cái lợi của phe phái (nói một cách mỹ miều
là “các nhóm lợi ích”) cũng như cháu con (phe phái và cháu con
thật ra là một), chứ đâu c̣n là v́ lư tưởng
chuyên chính vô sản viễn kiến của thời ông Marx -
bước trước của nhà nước tự tiêu
vong và con người thật sự tự do! Cho nên, chỗ
cần quan tâm chưa phải là ở biện pháp triển
khai khẩu hiệu ḥa giải - ḥa hợp như thế
nào th́ mới đạt được hiệu quả tối
ưu: ḥa b́nh an lạc, mà có lẽ trước hết, phải
cố thuyết phục nhau cho ra lẽ về cái “khối
quan niệm” đă trở nên một sức ỳ ghê gớm
đó. Cứ khư khư ôm giữ độc tài toàn trị
như chủ trương bất biến lâu nay - mà đằng
sau là hai thế lực hùng hậu ngày càng được trang
bị đến tận răng nhằm canh giữ cho chủ
trương bất biến đó khỏi lay chuyển: công
an và quân đội - th́ tôi e không đời nào có ḥa giải
- ḥa hợp dân tộc thực sự hết, muôn đời
không. (Nhưng lại cũng phải nói, không “ôm giữ” th́
c̣n ǵ là lập trường của người cộng sản?
Thành ra chuyện này chung quy cũng chỉ là chuyện “con kiến
mà leo cành đa” mà thôi!).
C̣n nói “khoan dung” th́ nên nói trong tư cách b́nh
đẳng giữa ta với người (khoan dung với
nhau), sao cứ phải nói trong tư thế của người
chỉ biết đứng ở bậc trên, ở kẻ
thắng, mà với tay xuống ban phát món quà độ
lượng ấy (ta khoan dung cho ngươi)? Chẳng phải
như thế là đă rơi vào “ngă chấp” ngay khi nói ra mấy
chữ “khoan dung” rồi sao? Cứ tính sổ mà xem, tạm
giới hạn trong ṿng một năm nay thôi chúng ta đă thực
hiện “khoan” và “dung” được như thế nào nào? Với
các vụ án Nguyễn Văn Lư, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị
Công Nhân... là chuyện của luật pháp, dù cũng có nhiều
điều để nói, mà thôi, tạm không bàn làm ǵ,
nhưng về những lời lẽ đánh giá ông Thích Quảng
Độ - một Ḥa thượng khác chính kiến - gọi
việc ông ấy cứu trợ cho dân bị lũ lụt
và dân oan từ 1994 đến nay là hành động “gây rối
an ninh trật tự” của một “tên chủ mưu kích
động”, một “kẻ lộ rơ bản chất
chính trị phản động” (2), đấy
là khoan dung ư? Hoặc với ông Nguyễn Hữu
Đang, một trí thức hoạt động cứu
nước từ trước 1945, dốc sức lănh đạo
truyền bá Quốc ngữ và tổ chức dựng Kỳ
đài Độc lập, cho đến khi ông nằm trong
quan tài rồi mà đọc điếu văn vẫn không
quên đay nghiến, thế là khoan dung sao? (Trường hợp
Trung tướng Trần Độ trước đây mấy
năm cũng thế, đă bị dư luận chê trách rất
nhiều, nếu quả có thiện chí muốn thấu tỏ
ḷng dân sao không rút kinh nghiệm?). Thành tâm mà soát xét chứ
không định kiến, có thể nói chưa thấy một
hiện tượng nào chứng tỏ trên đất
nước ta đă và đang thực thi cái chủ
trương “khoan dung” cao đẹp kia làm cho ai nấy
đều tâm phục. V́ thế, tôi là người tuy rất
hồ hởi với ḥa hợp ḥa giải - mà ai lại
không hồ hởi cơ chứ? Cứ thử xem không khí
ḥa hợp của những ngày đầu cách mạng tháng
Tám, thiêng liêng biết ngần nào! - nhưng quả thật
không dám đặt cược niềm tin vào cái cách ḥa giải
- ḥa hợp mang tính... diễn đàn hiện tại. Phải
gọi cho đúng đó là ngón vơ sở trường (nói một
cách mỹ miều hơn là một “chiến thuật”) rất
có nghiệp vụ và dày kinh nghiệm từ ngót 100 năm
nay của... "phe ta" đấy. Tài t́nh quá! Sống chung
với nó từ hơn sáu mươi năm hẳn nhiều
bậc thức giả phải biết tỏ tường.
Tất cả những ǵ đang thấy phô ra ở khắp
mọi nơi như nhiều người đều thấy:
1. Làng xóm tiêu điều.
Tôi dùng chữ “tiêu điều” theo một nghĩa khác với
nghĩa nhà tranh vách đất, nhà th́ nhà ngói (tất nhiên
cũng c̣n vô khối nhà tranh nhà lá), thậm chí nhiều
nơi cơi nới đến hai, ba tầng, nhưng “cái
hồn” của làng xóm lại đang tiêu điều. Hiện
nay các làng nổi tiếng xung quanh Hà Nội kể đă từ
hàng mấy trăm năm đều mang một bộ mặt
lạ lẫm, hiện đại không ra hiện đại
cổ truyền không ra cổ truyền, chẳng ra một
kiểu cách ǵ hết (nên nhớ thời Tự lực
văn đoàn đă đề xuất kiểu nhà Ánh sáng cho
nông thôn, giản dị vách nứa mái tranh nhưng hợp vệ
sinh và khoa học; ngày nay có ai lưu tâm đến chuyện
ấy trong đám người quyền chức?), và đặc
biệt là môi trường th́ đáng sợ, vào đến
đầu làng đă ngửi thấy mùi hôi hám v́ cống
rănh, chẳng hạn làng Phù Đổng;
2. Thành phố - chỉ
nói những thành phố tiêu biểu - quy hoạch mấy chục
năm rồi mà nào có bỏ được đặc tính
cố hữu là lộn xộn, bạ đâu hay đấy,
chắp vá tủn mủn, đường ngơ chật ních,
khuôn viên cây xanh bị bán bị xẻo (cứ xem các công viên
ở Thủ đô Paris của nước Pháp tồn tại
từ suốt mấy thế kỷ rồi mà có một Thị
trưởng nào dám bán đi chia chác để người
ta xây nhà cao tầng đâu, trong khi đókhông gian trống của
thành phố chúng ta nào có thấm tháp ǵ sao cứ hở ra một
tí là bảo nhau đem bán?). Thành phố nghĩ cho cùng
cũng chỉ như những cái làng nới rộng;
3. Hầu như mọi
di tích đền miếu chùa chiền đều bị
đập phá tan nát rồi lại sửa chữa vá víu hoặc
làm lại, ít có cái nào c̣n ra dáng một di tích cổ (đập
phá kể từ những năm 1948, trong thâm ư chắc
cũng nhắm mục tiêu hạn chế truyền thống
đa nguyên văn hóa, may sao tiềm thức dân tộc
đă âm thầm cưỡng chống, và rốt cục
cưỡng chống thắng lợi). Mới trước
Tết ÂL 2007 đây thôi tôi về thăm di tích đền
Gióng, quá sửng sốt khi có 3 bức cuốn thư rất
đẹp, khắc 1 bài thơ của Hồ Chí Minh, 1 bài
thơ của Tố Hữu, 1 bài thơ của Ngô Chi Lan,
đều bằng tiếng Việt, treo ngay tiền sảnh
ngôi đền lớn khi ta vừa bước chân vào. Hỏi
người dân địa phương th́ ra đấy
nguyên là loại cuốn thư cổ khắc chữ Hán, bị
bào đi để “tân trang” quốc ngữ. Và chẳng nói
chi xa, cả một di tích Hoàng thành vô giá kia, người ta
có thực tâm muốn bảo tồn không mà lặng thinh
trước kiến nghị của hai bậc công thần
Kiệt, Giáp?
4. Những nét
đẹp văn hóa ngàn đời th́ phai mờ, thay vào
đó là lối sống thực dụng ăn tục nói
phét, bạo lực hoành hành, hăm hiếp giết người
cướp của, hành hung nhau ngay cả trong gia đ́nh, lừa
đảo bán trẻ con phụ nữ và đưa thiếu
nữ đi “làm vợ” người già người tàn tật
ở nước ngoài, những tiếng chửi thề
như hát hay lúc nào cũng inh ỏi từ đầu phố
đến cuối thôn (Xin cứ b́nh tâm nhớ lại xă hội
Việt mấy chục năm về trước có thế
hay không? Giáo sư Đinh Gia Khánh từng nói với tôi,
trước 1945 sinh viên đi chơi thâu đêm trên các phố
xá Hà Nội chẳng bao giờ gặp nguy hiểm ǵ. Phải
chăng đang có dấu hiệu một sự “không lành”
trong tâm lư xă hội?);
5. Giáo dục
đang đứng trên hố thẳm, mà một trong những
nguyên nhân không kém quan trọng là do các đợt “cải cách
giáo dục” kể từ 1949 đến nay, mỗi lần
“cải” lại luồn “sợi chỉ đỏ” vào một
sâu hơn, làm mất tính năng động tự chủ của
ngành giáo dục (cũng như ngành ṭa án) và khiến các thế
hệ học sinh từ khi vào lớp Một đến khi
ra khỏi trường đại học đều buộc
phải trở thành một mẫu h́nh “nói đúng như
sách”, một thứ “con em” chưa phải là người lớn,
điều đó chưa thấy học giả nào lên tiếng;
6. Khoảng 60% - 70%
nông dân lâm cảnh bần hàn, tệ hơn trước v́ họ
đă làm không đủ ăn lại sống trong một
môi trường độc hại và ngày càng bị thu hẹp;
7. Xây dựng đầu
tư th́ bớt xén và hư hỏng: cầu sập, nhà
đổ, trường lún, khu công nghiệp Dung Quất làm
măi không xong tốn không biết bao nhiêu là tiền...;
8. Giao thông ùn tắc
và tỷ lệ tai nạn cao ngất ngưởng mỗi
ngày, một phần do “con cái các cụ” được quyền
nhập xe máy Trung Quốc kiếm lợi cách đây khoảng
10-15 năm (thời gian ấy tôi từng nghe dư luận
rộ lên bởi lúc bấy giờ đă có lệnh cấm
nhập, được một thời gian th́ băi lệnh);
9. Cũng vậy,
hẳn cũng là v́ chiếu cố những “nhóm lợi ích”
nào đấy, hàng loạt dây chuyền công nghệ sản
xuất mía đường của Trung Quốc được
bật đèn xanh nhập về từ 1995 dựa trên nghị
quyết phát triển kinh tế Đại hội VIII của
Đảng (mà lúc ấy nhiều người được
học đều tỏ ư băn khoăn, trong đó có tôi),
nay hậu quả đă thấy rơ và số lớn gần
như phá sản (3) ... Đó là chưa nói tệ nạn
tham nhũng ai cũng biết đă trở thành quốc nạn.
Vân vân và vân vân.
Tất cả những hiện trạng trên do đâu gây ra và v́ sao mà khó khắc phục? Ḥa hợp - ḥa giải trên một cơ sở “chưa êm” như vậy mà không được quyền phản biện cho nghiêm túc và đến nơi đến chốn liệu có H̉A được hay không? Hay là sẽ chui vào cái lồng êm ái với giấc mơ an lạc rất đẹp của ḿnh, trong khi đó “chiếc đèn cù” thế sự vẫn cứ chạy ṿng quanh...
Nguyễn Huệ Chi (GS Viện Văn học)
1.Xem: http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/von-xa-hoi-o-Viet-Nam
2. VNTTX. In lại trên báo SGGP. Xem
“Lật mặt những kẻ phản động kích
động người khiếu kiện gây rối - Thích
Quảng Độ là ai?” http://www.sggp.org.vn/anninhtrattu/2007/8/117661/
3. A. “Từ năm 2002, cả nước đă xây dựng 44 nhà máy đường, tổng công suất thiết kế là 82.950 tấn mía/ngày. Tổng số vốn đầu tư, mở rộng, xây dựng mới các nhà máy lên tới 10.050 tỉ đồng, trong đó có hơn 6.677 tỉ đồng thiết bị và hơn 3.372 tỉ đồng xây lắp. Tổng sản lượng đường đạt trên một triệu tấn. Tuy nhiên đến thời điểm này, t́nh trạng tài chính của các nhà máy đường trên toàn quốc là hết sức thê thảm với số nợ khoảng trên 5.000 tỉ đồng và đa số mất khả năng chi trả. Trong số nợ này có tới khoảng 1.000 tỉ đồng vay nước ngoài. Đa số các doanh nghiệp (DN) đă không trả được nợ nước ngoài. Hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cũng đă phải đứng ra trả thay khoản nợ bảo lănh và cho vay nhận nợ bắt buộc của 16 DN trên 17,4 triệu USD. Từ khi bắt đầu chương tŕnh mía đường, đại đa số các DN lâm vào t́nh trạng thua lỗ triền miên. Đến hết năm 2002, lỗ lũy kế của 36 DN là trên 2.000 tỉ đồng. Rất nhiều nhà máy chỉ sau một vài năm hoạt động đă lỗ trên 50% vốn đầu tư, thậm chí có những nhà máy lỗ trên 100% vốn đầu tư. Nhà máy đường Quảng B́nh lỗ 136,6 tỉ/141,1 tỉ đồng vốn. Nhà máy đường Kiên Giang lỗ 170,6 tỉ/161,1 tỉ đồng vốn đầu tư. Nhà máy đường Sơn Dương lỗ 119,6 tỉ/107,8 tỉ đồng vốn đầu tư. Trong số 42 nhà máy đường trên cả nước, chỉ có 29 nhà máy hoạt động trên 80% công suất thiết kế; 8/42 nhà máy đạt từ 50-80% công suất; có tới 5 nhà máy (Cam Ranh, B́nh Thuận, Quảng B́nh, Trị An, Quảng Nam) đạt dưới 50% công suất”;“Theo báo cáo của cơ quan chức năng th́, trong việc nhập thiết bị của Trung Quốc có sự thông đồng để nâng giá hàng triệu USD trên một dây chuyền. Những thiết bị này của Trung Quốc tuy mới nhưng đă lạc hậu về công nghệ dẫn tới t́nh trạng nhập nhưng phải bỏ v́ không thể sử dụng được, gây lăng phí nghiêm trọng. Cùng thiết bị của Trung Quốc, cùng công suất (1.000 tấn mía/ngày) nhưng giá nhập chênh nhau hàng chục tỷ đồng: Nhà máy đường Sơn La 65 tỷ trong khi đó nhà máy ở tỉnh Kon Tum nhập 70 tỷ; B́nh Thuận 75,2 tỷ và Trị An là 76 tỷ đồng...”.”(“Mía đường: Nợ đọng 5.000 tỷ đồng, mất khả năng chi trả”. Vietnamnet.com.vn); “Nghiêm trọng nhất, có 3 nhà máy mua thiết bị... đă ngừng sản xuất nhiều năm của Trung Quốc (Nhà máy đường Tuyên Quang, Việt Tŕ và Đắc Lắc); sau đó phải mua bổ sung và sửa chữa nhiều chục tỷ đồng, hoạt động cầm chừng, thua lỗ triền miên, trong đó Nhà máy đường Việt Tŕ phải ngừng hoạt động” (“Quả đắng mía đường”. Vnexpress.net). B. Theo thống kê của Chủ tịch Hội mía đường Việt Nam Lê Văn Tam tại Hội nghị doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO th́ trong số 44 nhà máy mía đường trên toàn quốc có 2 nhà máy đă thanh lư dây chuyền sản xuất chuyển đổi sang kinh doanh sản xuất mặt hàng khác; 4 nhà máy đang làm thủ tục phá sản; 26 nhà máy đă cổ phần hoá đang chờ quyết định phá sản hoặc bán; số c̣n lại đang tiếp tục sản xuất trong đó có 6 nhà máy liên doanh và 100% vốn nước ngoài (Xem: http://www.isgmard.org.vn/Information%20Service/Special%20
Events/Plenary%20Meeting%202006/12-mia%20duong-v.pdf).