MẤY CHỮ “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO”

VÀ VẤN ĐỀ H̉A GIẢI  H̉A HỢP DÂN TỘC HIỆN NAY

 

Nguyễn Xuân Lộc và Nguyễn Huệ Chi

 

gio-o nhận được bài viết từ Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi, cho hay bài này đă được đăng tải trên báo talawas ngày 6/11/ vừa qua, nay đă được bổ xung, nhờ gio-o đăng tải để rộng đường dư luận.

 

Tác giả là hai nhà trí thức nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay.

 

Một từ Miền Nam và một từ Miền Bắc.

 

Giáo Sư Nguyễn Xuân Lộc nguyên là Chủ Tịch Sinh Viên Đại Học Khoa Học Sài G̣n 1963 - 1965. Là một trong những lănh tụ sinh viên nổi tiếng liên quan đến vụ chống đối Hiến Chương Vũng Tàu của Chủ Tịch Nguyễn Khánh hồi năm 1964. Giáo sư Nguyễn Xuân Lộc đă từng bị chính quyền Nguyễn Khánh bắt giam. Sau đó ông được học bổng sang du học tại Âu Châu và tốt nghiệp tiến sĩ Toán.

 

Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi là một học giả Hà Nội (con của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đổng Chi), chuyên viết về các vần đề Văn Hóa và Tư Tưởng Việt Nam.

 

 

I. Bàn thêm về bốn chữ "cư trần lạc đạo" của Trần Nhân Tông

 

Vua Trần Nhân Tông nói bốn chữ trên, mà chị Thái Kim Lan trong bài “Vốn xă hội ở Việt Nam, nguy cơ phá sản và triển vọng phát huy(1) cho rằng nó có thể là phương châm để gây "vốn xă hội" lâu dài cho đất nước Việt Nam hiện tại, với thần dân của một nước Đại Việt, trong đó triều đ́nh chủ trương "đa nguyên văn hóa" và "khoan dung chính trị", các thành phần dân chúng với sắc tộc, tôn giáo và quyền lợi kinh tế khác nhau đă có một thỏa thuận nhất trí (consensus omnium) về vấn đề ḥa giải - ḥa hợp các mâu thuẫn xă hội.

Sau năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam, đă kinh qua bao nhiêu sai lầm và thất bại trong quá tŕnh gọi là "ḥa giải - ḥa hợp" các thành phần dân tộc đối kháng để cùng nhau xây dựng lại đất nước, cho đến thập niên 90 thế kỷ trước, khi Liên Xô và khối XHCN Đông Âu lần lượt sụp đổ, th́ bắt buộc phải đặt lại vấn đề ḥa giải - ḥa hợp với khối người Việt di tản hiện sống bên ngoài Tổ quốc cốt để nhận viện trợ và vay tiền khối G7, và nhất là nhận hàng tỷ đô-la kiều hối từ bên ngoài gửi về giúp gia đ́nh.

Thế những trở ngại chính cho vấn đề ḥa giải - ḥa hợp dân tộc trong bối cảnh hiện tại của nước CHXHCN Việt Nam với nền "kinh tế thị trường định hướng XHCN" là những cái ǵ? Chướng ngại vật cơ bản ở đây là tính "ngă chấp độc tôn - độc tài", vốn là khuynh hướng bảo thủ ĺ lợm luôn bám chặt vào cái “ngă” hẹp ḥi và khép kín của "Đảng và phe phái" để cùng sở hữu toàn thể đất nước.

Bản chất của trở ngại này là loại trừ và độc chiếm, hoạt dụng của nó là phân ly chia rẽ th́ làm ǵ nh́n ra được cốt lơi vấn đề là "bao dung - ḥa giải" để tiến đến "ḥa hợp dân tộc"?

"Ngă chấp độc tôn - độc tài" tất yếu sinh ra loại trừ, phân ly, chia rẽ đối lập để độc chiếm "mọi thứ của dân tộc" cho riêng ḿnh, và là nguồn gốc bấy lâu nay của những xung đột, đau khổ và tội ác trong xă hội Việt Nam (như chị Thái Kim Lan đă chỉ ra trong bài của ḿnh kể từ giai đoạn "đổi mới", c̣n những giai đoạn trước th́ khỏi nói v́... khó có thước đo nào thích hợp!).

Như thế rơ ràng là tham vọng "ngă chấp độc tôn độc tài - ngă sở dân tộc" là chướng ngại chứ không phải là biện pháp thực tế để thực hiện sự nghiệp ḥa giải - ḥa hợp dân tộc.

Vậy th́ cái ǵ có thể coi như "cái" sẽ đưa các thành phần dân tộc Việt Nam đến ḥa giải, ḥa hợp?

Dân tộc là cái toàn thể nên không thể có một biên giới sắc tộc, tôn giáo hay đảng phái nào được quyền tạo nên những cản trở tiến hóa trong ḷng của nó.

Sau khi thoát khỏi sự đô hộ từ phương Bắc, dân tộc Việt Nam đă tồn tại bao đời giữa hai hai nền văn minh lớn của nhân loại, Trung Quốc và Ấn Độ, chính nhờ hai đặc trưng "đa nguyên văn hóa" và "khoan dung chính trị" mà nó đă khám phá từ mười thế kỷ trước. Chính dựa trên nền tảng "văn hiến mới" này mà nước Đại Việt đă không bị thôn tính hay bị đồng hóa, đó là sức mạnh vô biên mà Nguyễn Trăi đă phát hiện ra khi nói: "Lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn!". Nhân nghĩa ở đây phải hiểu như "kết năng" của ḷng dũng cảm đi đôi với thiện tâm, từ ái của dân tộc Việt Nam trên con đường tiến hóa và ḥa nhập cùng nhân loại văn minh, mà không có một rào cản "độc tôn - độc sở" nào có thế ngăn cản được.

Xă hội nước ta đến được đó th́ mỗi con người trong xă hội mới có thể nói đến bốn chữ "cư trần lạc đạo" chị Lan ạ !

Nguyễn Xuân Lộc (GS TS Viện Toán học)

 

 

II.  Lạm bàn về ḥa giải ḥa hợp

   

Chị Thái Kim Lan chủ yếu bàn về phương châm thực hành ḥa giải - ḥa hợp dân tộc thông qua việc giải mă mấy chữ “cư trần lạc đạo” của vua Trần Nhân Tông như một phương châm khôn ngoan mà ông vua nhân ái này sử dụng nhằm nâng cao “vốn xă hội” truyền thống của đất nước chúng ta dưới thời Trần. Đó là một cách bàn lư thuyết dựa vào chứng cứ lịch sử rất bóng bẩy, và cũng có nhiều điều lư thú, trong đó sự đối chiếu với nguy cơ hao ṃn dẫn đến phá sản “vốn xă hội” giữa t́nh h́nh ngổn ngang của xă hội Việt Nam hiện đại, do bị những yếu tố “phi tự nhiên” và “sai quy luật” chi phối đời sống vật chất và tinh thần quá nặng - hay đúng hơn do một chủ trương cố hữu luôn luôn chính trị hóa mọi mối quan hệ xă hội vốn kết đọng từ nhiều thành tố tưởng như vô h́nh mà kỳ thực có gốc rễ sâu xa trong quá tŕnh h́nh thành cộng đồng dân tộc: t́nh cảm (Người trong một nước phải thương nhau cùng), đạo đức, lương tri, tập tục, tín ngưỡng, tâm linh, phường hội, nghiệp đoàn, gia tộc, làng xă, xă tắc... khiến cho xă hội ngày nay càng trở nên phân ră hơn là cố kết một cách tự nhiên và bền chặt - là những ư kiến theo tôi rất sắc sảo, đáng được lưu tâm xem xét. Ḥa b́nh an lạc là điều kiện tiên quyết cho một xă hội phát triển, đấy cũng là thâm ư “cư trần lạc đạo” của ông vua Trần mà vị nữ Giáo sư triết học muốn nhắc nhở.

Tuy vậy, đúng như anh Nguyễn Xuân Lộc nói, phải nh́n thẳng vào thực tế và chỉ ra bằng thực tế, rằng nhân tố mấu chốt cản trở sự ḥa giải - ḥa hợp dân tộc (tiền đề lớn nhất của ḥa b́nh an lạc) ở đây là một trở lực xă hội, một quan niệm tư tưởng từ lâu đă được vật chất hóa: đó là đầu óc “duy ngă độc tôn” của những tổ chức nhân danh giai cấp và nhân dân để điều hành dân tộc - nhưng duy ngă độc tôn xét kỹ ra h́nh như cũng chỉ nhằm bảo vệ cho cái ghếcái lợi của phe phái (nói một cách mỹ miều là “các nhóm lợi ích”) cũng như cháu con (phe phái và cháu con thật ra là một), chứ đâu c̣n là v́ lư tưởng chuyên chính vô sản viễn kiến của thời ông Marx - bước trước của nhà nước tự tiêu vong và con người thật sự tự do! Cho nên, chỗ cần quan tâm chưa phải là ở biện pháp triển khai khẩu hiệu ḥa giải - ḥa hợp như thế nào th́ mới đạt được hiệu quả tối ưu: ḥa b́nh an lạc, mà có lẽ trước hết, phải cố thuyết phục nhau cho ra lẽ về cái “khối quan niệm” đă trở nên một sức ỳ ghê gớm đó. Cứ khư khư ôm giữ độc tài toàn trị như chủ trương bất biến lâu nay - mà đằng sau là hai thế lực hùng hậu ngày càng được trang bị đến tận răng nhằm canh giữ cho chủ trương bất biến đó khỏi lay chuyển: công an và quân đội - th́ tôi e không đời nào có ḥa giải - ḥa hợp dân tộc thực sự hết, muôn đời không. (Nhưng lại cũng phải nói, không “ôm giữ” th́ c̣n ǵ là lập trường của người cộng sản? Thành ra chuyện này chung quy cũng chỉ là chuyện “con kiến mà leo cành đa” mà thôi!).

C̣n nói “khoan dung” th́ nên nói trong tư cách b́nh đẳng giữa ta với người (khoan dung với nhau), sao cứ phải nói trong tư thế của người chỉ biết đứng ở bậc trên, ở kẻ thắng, mà với tay xuống ban phát món quà độ lượng ấy (ta khoan dung cho ngươi)? Chẳng phải như thế là đă rơi vào “ngă chấp” ngay khi nói ra mấy chữ “khoan dung” rồi sao? Cứ tính sổ mà xem, tạm giới hạn trong ṿng một năm nay thôi chúng ta đă thực hiện “khoan” và “dung” được như thế nào nào? Với các vụ án Nguyễn Văn Lư, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân... là chuyện của luật pháp, dù cũng có nhiều điều để nói, mà thôi, tạm không bàn làm ǵ, nhưng về những lời lẽ đánh giá ông Thích Quảng Độ - một Ḥa thượng khác chính kiến - gọi việc ông ấy cứu trợ cho dân bị lũ lụt và dân oan từ 1994 đến nay là hành động “gây rối an ninh trật tự” của một “tên chủ mưu kích động”, một “kẻ lộ rơ bản chất chính trị phản động” (2), đấy là khoan dung ư? Hoặc với ông Nguyễn Hữu Đang, một trí thức hoạt động cứu nước từ trước 1945, dốc sức lănh đạo truyền bá Quốc ngữ và tổ chức dựng Kỳ đài Độc lập, cho đến khi ông nằm trong quan tài rồi mà đọc điếu văn vẫn không quên đay nghiến, thế là khoan dung sao? (Trường hợp Trung tướng Trần Độ trước đây mấy năm cũng thế, đă bị dư luận chê trách rất nhiều, nếu quả có thiện chí muốn thấu tỏ ḷng dân sao không rút kinh nghiệm?). Thành tâm mà soát xét chứ không định kiến, có thể nói chưa thấy một hiện tượng nào chứng tỏ trên đất nước ta đă và đang thực thi cái chủ trương “khoan dung” cao đẹp kia làm cho ai nấy đều tâm phục. V́ thế, tôi là người tuy rất hồ hởi với ḥa hợp ḥa giải - mà ai lại không hồ hởi cơ chứ? Cứ thử xem không khí ḥa hợp của những ngày đầu cách mạng tháng Tám, thiêng liêng biết ngần nào! - nhưng quả thật không dám đặt cược niềm tin vào cái cách ḥa giải - ḥa hợp mang tính... diễn đàn hiện tại. Phải gọi cho đúng đó là ngón vơ sở trường (nói một cách mỹ miều hơn là một “chiến thuật”) rất có nghiệp vụ và dày kinh nghiệm từ ngót 100 năm nay của... "phe ta" đấy. Tài t́nh quá! Sống chung với nó từ hơn sáu mươi năm hẳn nhiều bậc thức giả phải biết tỏ tường. Tất cả những ǵ đang thấy phô ra ở khắp mọi nơi như nhiều người đều thấy:

1. Làng xóm tiêu điều. Tôi dùng chữ “tiêu điều” theo một nghĩa khác với nghĩa nhà tranh vách đất, nhà th́ nhà ngói (tất nhiên cũng c̣n vô khối nhà tranh nhà lá), thậm chí nhiều nơi cơi nới đến hai, ba tầng, nhưng “cái hồn” của làng xóm lại đang tiêu điều. Hiện nay các làng nổi tiếng xung quanh Hà Nội kể đă từ hàng mấy trăm năm đều mang một bộ mặt lạ lẫm, hiện đại không ra hiện đại cổ truyền không ra cổ truyền, chẳng ra một kiểu cách ǵ hết (nên nhớ thời Tự lực văn đoàn đă đề xuất kiểu nhà Ánh sáng cho nông thôn, giản dị vách nứa mái tranh nhưng hợp vệ sinh và khoa học; ngày nay có ai lưu tâm đến chuyện ấy trong đám người quyền chức?), và đặc biệt là môi trường th́ đáng sợ, vào đến đầu làng đă ngửi thấy mùi hôi hám v́ cống rănh, chẳng hạn làng Phù Đổng;

2. Thành phố - chỉ nói những thành phố tiêu biểu - quy hoạch mấy chục năm rồi mà nào có bỏ được đặc tính cố hữu là lộn xộn, bạ đâu hay đấy, chắp vá tủn mủn, đường ngơ chật ních, khuôn viên cây xanh bị bán bị xẻo (cứ xem các công viên ở Thủ đô Paris của nước Pháp tồn tại từ suốt mấy thế kỷ rồi mà có một Thị trưởng nào dám bán đi chia chác để người ta xây nhà cao tầng đâu, trong khi đókhông gian trống của thành phố chúng ta nào có thấm tháp ǵ sao cứ hở ra một tí là bảo nhau đem bán?). Thành phố nghĩ cho cùng cũng chỉ như những cái làng nới rộng;

3. Hầu như mọi di tích đền miếu chùa chiền đều bị đập phá tan nát rồi lại sửa chữa vá víu hoặc làm lại, ít có cái nào c̣n ra dáng một di tích cổ (đập phá kể từ những năm 1948, trong thâm ư chắc cũng nhắm mục tiêu hạn chế truyền thống đa nguyên văn hóa, may sao tiềm thức dân tộc đă âm thầm cưỡng chống, và rốt cục cưỡng chống thắng lợi). Mới trước Tết ÂL 2007 đây thôi tôi về thăm di tích đền Gióng, quá sửng sốt khi có 3 bức cuốn thư rất đẹp, khắc 1 bài thơ của Hồ Chí Minh, 1 bài thơ của Tố Hữu, 1 bài thơ của Ngô Chi Lan, đều bằng tiếng Việt, treo ngay tiền sảnh ngôi đền lớn khi ta vừa bước chân vào. Hỏi người dân địa phương th́ ra đấy nguyên là loại cuốn thư cổ khắc chữ Hán, bị bào đi để “tân trang” quốc ngữ. Và chẳng nói chi xa, cả một di tích Hoàng thành vô giá kia, người ta có thực tâm muốn bảo tồn không mà lặng thinh trước kiến nghị của hai bậc công thần Kiệt, Giáp?

4. Những nét đẹp văn hóa ngàn đời th́ phai mờ, thay vào đó là lối sống thực dụng ăn tục nói phét, bạo lực hoành hành, hăm hiếp giết người cướp của, hành hung nhau ngay cả trong gia đ́nh, lừa đảo bán trẻ con phụ nữ và đưa thiếu nữ đi “làm vợ” người già người tàn tật ở nước ngoài, những tiếng chửi thề như hát hay lúc nào cũng inh ỏi từ đầu phố đến cuối thôn (Xin cứ b́nh tâm nhớ lại xă hội Việt mấy chục năm về trước có thế hay không? Giáo sư Đinh Gia Khánh từng nói với tôi, trước 1945 sinh viên đi chơi thâu đêm trên các phố xá Hà Nội chẳng bao giờ gặp nguy hiểm ǵ. Phải chăng đang có dấu hiệu một sự “không lành” trong tâm lư xă hội?);
 

5. Giáo dục đang đứng trên hố thẳm, mà một trong những nguyên nhân không kém quan trọng là do các đợt “cải cách giáo dục” kể từ 1949 đến nay, mỗi lần “cải” lại luồn “sợi chỉ đỏ” vào một sâu hơn, làm mất tính năng động tự chủ của ngành giáo dục (cũng như ngành ṭa án) và khiến các thế hệ học sinh từ khi vào lớp Một đến khi ra khỏi trường đại học đều buộc phải trở thành một mẫu h́nh “nói đúng như sách”, một thứ “con em” chưa phải là người lớn, điều đó chưa thấy học giả nào lên tiếng;

6. Khoảng 60% - 70%  nông dân lâm cảnh bần hàn, tệ hơn trước v́ họ đă làm không đủ ăn lại sống trong một môi trường độc hại và ngày càng bị thu hẹp;

7. Xây dựng đầu tư th́ bớt xén và hư hỏng: cầu sập, nhà đổ, trường lún, khu công nghiệp Dung Quất làm măi không xong tốn không biết bao nhiêu là tiền...;

8. Giao thông ùn tắc và tỷ lệ tai nạn cao ngất ngưởng mỗi ngày, một phần do “con cái các cụ” được quyền nhập xe máy Trung Quốc kiếm lợi cách đây khoảng 10-15 năm (thời gian ấy tôi từng nghe dư luận rộ lên bởi lúc bấy giờ đă có lệnh cấm nhập, được một thời gian th́ băi lệnh);

9. Cũng vậy, hẳn cũng là v́ chiếu cố những “nhóm lợi ích” nào đấy, hàng loạt dây chuyền công nghệ sản xuất mía đường của Trung Quốc được bật đèn xanh nhập về từ 1995 dựa trên nghị quyết phát triển kinh tế Đại hội VIII của Đảng (mà lúc ấy nhiều người được học đều tỏ ư băn khoăn, trong đó có tôi), nay hậu quả đă thấy rơ và số lớn gần như phá sản (3) ... Đó là chưa nói tệ nạn tham nhũng ai cũng biết đă trở thành quốc nạn. Vân vân và vân vân.

Tất cả những hiện trạng trên do đâu gây ra và v́ sao mà khó khắc phục? Ḥa hợp - ḥa giải trên một cơ sở “chưa êm” như vậy mà không được quyền phản biện cho nghiêm túc và đến nơi đến chốn liệu có H̉A được hay không? Hay là sẽ chui vào cái lồng êm ái với giấc mơ an lạc rất đẹp của ḿnh, trong khi đó “chiếc đèn cù” thế sự vẫn cứ chạy ṿng quanh...

 

Nguyễn Huệ Chi (GS Viện Văn học)

 

1.Xem: http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/von-xa-hoi-o-Viet-Nam

2. VNTTX. In lại trên báo SGGP. Xem “Lật mặt những kẻ phản động kích động người khiếu kiện gây rối - Thích Quảng Độ là ai?” http://www.sggp.org.vn/anninhtrattu/2007/8/117661/

3. A. “Từ năm 2002, cả nước đă xây dựng 44 nhà máy đường, tổng công suất thiết kế là 82.950 tấn mía/ngày. Tổng số vốn đầu tư, mở rộng, xây dựng mới các nhà máy lên tới 10.050 tỉ đồng, trong đó có hơn 6.677 tỉ đồng thiết bị và hơn 3.372 tỉ đồng xây lắp. Tổng sản lượng đường đạt trên một triệu tấn. Tuy nhiên đến thời điểm này, t́nh trạng tài chính của các nhà máy đường trên toàn quốc là hết sức thê thảm với số nợ khoảng trên 5.000 tỉ đồng và đa số mất khả năng chi trả. Trong số nợ này có tới khoảng 1.000 tỉ đồng vay nước ngoài. Đa số các doanh nghiệp (DN) đă không trả được nợ nước ngoài. Hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cũng đă phải đứng ra trả thay khoản nợ bảo lănh và cho vay nhận nợ bắt buộc của 16 DN trên 17,4 triệu USD. Từ khi bắt đầu chương tŕnh mía đường, đại đa số các DN lâm vào t́nh trạng thua lỗ triền miên. Đến hết năm 2002, lỗ lũy kế của 36 DN là trên 2.000 tỉ đồng. Rất nhiều nhà máy chỉ sau một vài năm hoạt động đă lỗ trên 50% vốn đầu tư, thậm chí có những nhà máy lỗ trên 100% vốn đầu tư. Nhà máy đường Quảng B́nh lỗ 136,6 tỉ/141,1 tỉ đồng vốn. Nhà máy đường Kiên Giang lỗ 170,6 tỉ/161,1 tỉ đồng vốn đầu tư. Nhà máy đường Sơn Dương lỗ 119,6 tỉ/107,8 tỉ đồng vốn đầu tư. Trong số 42 nhà máy đường trên cả nước, chỉ có 29 nhà máy hoạt động trên 80% công suất thiết kế; 8/42 nhà máy đạt từ 50-80% công suất; có tới 5 nhà máy (Cam Ranh, B́nh Thuận, Quảng B́nh, Trị An, Quảng Nam) đạt dưới 50% công suất”;“Theo báo cáo của cơ quan chức năng th́, trong việc nhập thiết bị của Trung Quốc có sự thông đồng để nâng giá hàng triệu USD trên một dây chuyền. Những thiết bị này của Trung Quốc tuy mới nhưng đă lạc hậu về công nghệ dẫn tới t́nh trạng nhập nhưng phải bỏ v́ không thể sử dụng được, gây lăng phí nghiêm trọng. Cùng thiết bị của Trung Quốc, cùng công suất (1.000 tấn mía/ngày) nhưng giá nhập chênh nhau hàng chục tỷ đồng: Nhà máy đường Sơn La 65 tỷ trong khi đó nhà máy ở tỉnh Kon Tum nhập 70 tỷ; B́nh Thuận 75,2 tỷ và Trị An là 76 tỷ đồng...”.”(“Mía đường: Nợ đọng 5.000 tỷ đồng, mất khả năng chi trả”. Vietnamnet.com.vn); “Nghiêm trọng nhất, có 3 nhà máy mua thiết bị... đă ngừng sản xuất nhiều năm của Trung Quốc (Nhà máy đường Tuyên Quang, Việt Tŕ và Đắc Lắc); sau đó phải mua bổ sung và sửa chữa nhiều chục tỷ đồng, hoạt động cầm chừng, thua lỗ triền miên, trong đó Nhà máy đường Việt Tŕ phải ngừng hoạt động” (“Quả đắng mía đường”. Vnexpress.net). B. Theo thống kê của Chủ tịch Hội mía đường Việt Nam Lê Văn Tam tại Hội nghị doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO th́ trong số 44 nhà máy mía đường trên toàn quốc có 2 nhà máy đă thanh lư dây chuyền sản xuất chuyển đổi sang kinh doanh sản xuất mặt hàng khác; 4 nhà máy đang làm thủ tục phá sản; 26 nhà máy đă cổ phần hoá đang chờ quyết định phá sản hoặc bán; số c̣n lại đang tiếp tục sản xuất trong đó có 6 nhà máy liên doanh và 100% vốn nước ngoài (Xem: http://www.isgmard.org.vn/Information%20Service/Special%20

                   Events/Plenary%20Meeting%202006/12-mia%20duong-v.pdf).