VIỆT THANH CHIN DỊCH

Nguyễn Duy Chính

 


 

biên khảo lịch sử nhiều kỳ

kỳ 1

 

 

CHỮ TẮT

 

KDANKL  Khâm Định An Nam Kỷ Lược

CM             Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

DNLT         Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện

HLNTC     Hoàng Lê Nhất Thống Chí

TSC            Thanh Sử Cảo

CCBVV       Cố Cung Bác Vật Viện (Đài Loan)

YHVH         Việt Nam Hán Văn Yên Hành Văn Hiến Tập Thành

TTVC         Thanh Cao Tông Thập Toàn Vơ Công Nghiên Cứu

QNNC        Càn Long Trọng Yếu Chiến Tranh Chi Quân Nhu Nghiên Cứu

BAVH        Bulletin des Amis du Vieux Huế

BEFEO      Bulletin de l'École Française d'Extrême-Orient

TSSĐ          Tập San Sử Địa [Saigon]

NP              Nam Phong Tạp Chí

 

 

GHI CHÚ

 

Để phân biệt Dương Lịch và Âm Lịch, những ngày tháng theo Âm Lịch chúng tôi dùng tháng Giêng, Hai .... Một, Chạp. Tháng 1, 2, 3 ...11, 12 dành cho ngày tháng Dương Lịch.


PHẦN I

TỔNG QUÁT

T́nh h́nh min Bắc nước ta cuối thế kỷ XVIII mỗi lúc một thêm tồi tệ. Sau khi quân Trịnh thua ở Phú Xuân chính quyn Đàng Ngoài càng lúc càng chông chênh khiến cho Nguyễn Huệ đem quân ra thẳng Bắc Hà mà không gặp một lực lượng pḥng ngự nào đáng kể. Trước đây vua Lê vẫn dựa vào chúa Trịnh trong mọi việc hành chánh và quân sự, đến nay khi họ Trịnh bại vong, quả thực chỉ c̣n cái nước trống không như vua Lê đă thú nhận.

Min Bắc vào những năm cuối cùng của nhà Lê là một khu vực nghèo khổ, nhiu nơi mất mùa, đói kém. Theo lá thư của Lefro gửi cho Bandin th́ “... mùa này tháng Mười (âm lịch) năm 1788 đă bị mất v́ đại hạn vào mùa hè năm trước. Gạo cũ c̣n lại của mùa trước th́ bị vơ vét vào kho lương địch thành thử ngay cả lái buôn cũng chết đói [có cả bệnh dịch nữa] ...”[1]Người dân lại bị tham quan nhũng nhiễu, sưu cao thuế nặng nên có làng chết mất đến một nửa hay ba phần tư, những người c̣n lại th́ đu bị bắt lính cả. Những tỉnh địa đầu như Thanh Nghệ c̣n bi đát hơn. T́nh h́nh đó không phải chỉ một vài tháng mà kéo dài nhiu năm khiến chúng ta hiểu được rằng trong hoàn cảnh nhiễu nhương, người dân gần như không c̣n biết ǵ đến những thay đổi thượng tầng mà chỉ mong đợi một chính quyn ít hà khắc.

Theo số liệu do Li Tana thu thập và phỏng đoán, vào đầu thế kỷ XIX, 11 đạo ở min Bắc có tổng cộng 9,445 xă 578,400 suất đinh.[2] Cũng theo Li Tana, dân số min Bắc ước lượng khoảng từ 5 đến 6 triệu người (tr. 171) trong khi dân số min Nam chỉ chừng non 1 triệu (tr. 159 – 160). Những con số này dĩ nhiên không tuyệt đối chính xác nhất là ở Đàng Trong một số đông các sắc tộc thiểu số vốn dĩ thần phục chúa Nguyễn trên danh nghĩa nhưng giữ sinh hoạt kinh tế, văn hoá riêng, sống du canh di chuyển luôn luôn nên không có con số rơ rệt. Cũng v́ thế, quân đội của chúa Nguyễn có thể chỉ bằng 1/4 quân chúa Trịnh như giáo sĩ Cristophoro Borri miêu tả[3] nhưng quân số của Tây Sơn lại lớn hơn nhiu, ngoài lực lượng trú pḥng họ thường điu động được nhiu vạn quân mỗi khi có chiến tranh.

Có thể nói, cuối thế kỷ thứ XVIII, toàn cơi Việt Nam bị một cuộc khủng hoảng chính trị nặng n khi h́nh thức triu đ́nh cũ không đáp ứng được những thay đổi v kinh tế và kỹ thuật. Min Bắc, trong nhiu năm bị cô lập và không thuận tiện trong việc giao thông, thương mại nên sức mạnh kinh tế đă chuyển dần xuống phương nam.[4] Chúa Nguyễn lại chỉ tập trung vào việc chống nhau với chúa Trịnh và có mưu đồ biến Đàng Trong thành một quốc gia độc lập, không phải thần phục nhà Lê (dù chỉ trên danh nghĩa) nên tuy đưa ra một số cải cách h́nh thức cho khác với Đàng Ngoài [v y phục, lễ nghi ...] nhưng bản chất vẫn là một mô h́nh phong kiến không khác ǵ đối phương. Chính v́ thế, nếu đưa lăng kính thời k Tây Sơn lên một vị trí khác, chúng ta có thể coi như một biến chuyển tổng hợp hơn là tương tranh nội bộ của Việt Nam.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy phong trào Tây Sơn không chỉ đại diện cho người Việt mà có rất nhiu tương đồng, vay mượn của văn minh Nam Á, trong đó sức mạnh bản địa được khai thác rộng răi hơn, từ trang bị vơ khí tân tiến của Âu Châu, cách sử dụng hải quân của Đàng Trong đến đội tượng binh của các sắc dân min núi. Trong cơn sốt vỡ hạt đó, các lân bang cũng có những đột phá tương tự, đáng kể nhất là Xiêm La và Miến Điện, chưa nói đến các quốc gia hải đảo. Nh́n vào mặt tiếp nhận tiến bộ mới, một số quốc gia khác đă kịp thời thay đổi và du nhập văn minh thế giới nhưng nước ta vẫn duy tŕ mô h́nh Trung Hoa khiến cho hậu nhân chỉ nh́n thấy một cuộc tương tranh, nội chiến mà quên đi tính đột phá của thời k này.


1. TRANH CHẤP TÂY SƠN – LÊ TRỊNH

1.1. Phù Lê diệt Trịnh

Khi khởi nghiệp anh em Nguyễn Nhạc có tham vọng thay thế chúa Nguyễn ở Đàng Trong thành lập một quốc gia hoàn toàn tách biệt sánh vai với min bắc. Nguyễn Nhạc đă đ cập đến chủ trương của ông với phái đoàn của người Anh là “muốn kiểm soát toàn bộ bán đảo bao gồm vương quốc Cambodia tới tận Xiêm La, những tỉnh thuộc Đàng Trong cho tới tận cùng phía bắc nay đang ở trong tay của Đàng Ngoài”.[5] Việc Nguyễn Huệ đưa quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh là điu mà ông không tiên liệu được khiến vua Thái Đức hốt hoảng vội vàng đem 500 thân binh ngày đêm rong ruổi ra Thăng Long đđích thân giải quyết vấn đ.

Khi thấy t́nh h́nh đă thay đổi, Nguyễn Nhạc trao thực quyn lại cho nhà Lê để xây dựng một quốc gia láng ging không đe dọa, xóa đi thế thù nghịch trong quá khứ. Tính toán của ông không phải là không có lư v́ thời k đó hai bên ngăn cách đă mấy trăm năm, sinh hoạt, phong tục tập quán khác biệt, nhân dân không ưa đă đành mà sĩ phu cũng chẳng thần phục, việc chiếm Bắc Hà sẽ tạo nên một gánh nặng, tốt hơn hết là trả nước cho nhà Lê để rảnh tay diệt chúa Nguyễn cho hết hậu hoạn. Nhà Lê cũng tạo nên một lá chắn cho vương quốc Quảng Nam không bị cái nạn bắc xâm, góp phần vào sự ổn định của một khu vực nội chiến lâu ngày và giải quyết một số mâu thuẫn cũ vốn dĩ làm vấn đ thêm phức tạp.

Giấc mộng của Nguyễn Nhạc là làm vua một cơi, có riêng một triu đ́nh ở Qui Nhơn mà người ngoại quốc gọi là nước Chàm, xem như hậu thân của vương quốc Chiêm Thành. Anh em Tây Sơn cũng đáp ứng đúng cái ước vọng của những người mong mỏi khôi phục lại một đế quốc đă mất nên triu đ́nh mà Nguyễn Nhạc thành lập cũng khác hẳn vương quyn của chúa Nguyễn trước đây, theo những người Âu Châu chứng kiến và miêu tả th́ là một dạng tù trưởng lớn, đứng đầu nhiu bộ lạc nhỏ.[6]

Ngay khi đến kinh đô Thăng Long, Nguyễn Nhạc vẫn xác định chủ trương xây dựng một đất Bắc độc lập, dưới quyn cai trị của nhà Lê:

Sau đó vài ngày, Văn Nhạc sai người xin với nhà vua (Chiêu Thống) cùng nhau hội kiến. Nhà vua xin cắt đất để khao quân. Văn Nhạc nói: “Tôi tức giận v nỗi họ Trịnh uy hiếp ức chế, nên đứng ra làm việc tôn pḥ. Nếu đất đai không phải của nhà Lê, th́ một tấc tôi cũng không để, nhưng nếu là đất đai của nhà Lê, th́ một tấc tôi cũng không lấy”. Lại ước hẹn đời đời làm láng ging, giao hiếu với nhau. Nhà vua tin là phải, xin Văn Nhạc ở lại ít lâu để giúp đỡ, Văn Nhạc giả vờ nhận lời, sai Hữu Chỉnh chọn ngày lành cử hành đủ nghi lễ bái yết Thái Miếu.[7]

Ngược lại, Nguyễn Huệ lại có tham vọng thay thế chúa Trịnh làm một thứ “tướng quốc” và ông rất bằng ḷng với việc vua Lê nhận ông làm pḥ mă.[8] Việc khẳng định rằng hai nước chỉ có tương quan ngoại giao mà không có liên hệ chính trị đă cắt đứt mọi tính toán của Nguyễn Huệ và khi hai anh em cùng v nam ắt hẳn đă xảy ra nhiu tranh chấp mănh liệt v cả đường lối chính trị lẫn việc phân chia chiến lợi phẩm.

1.2. Bắc Nam giao ước

Vua Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ có kèm theo những điu kiện ǵ chúng ta không biết rơ nhưng trong lá thư trần t́nh của Lê Duy Cẩn [ông hoàng Tư] tŕnh lên nhà Thanh v nguyên nhân Nguyễn Huệ ra Bắc có một số chi tiết đáng chú ư:

-    Vua Hiển Tông cắt đất Nghệ An trở vào cho Nguyễn Huệ để “khao thưởng công lao”, đn ơn đă đem quân ra diệt được họ Trịnh.

-    Việc trả công đó cũng kèm theo việc gả công chúa cho Nguyễn Huệ.

Việc xác định cắt Nghệ An cho Tây Sơn trong tờ biểu của Lê Duy Cẩn cho thấy đây là đầu mối nẩy sinh những mâu thuẫn mà cả hai bên đu cho rằng ḿnh bị bội ước.

Thành thử, khi Nguyễn Nhạc ra Bắc công khai nói rằng “đất của nhà Lê một tấc cũng không lấy”, ông muốn xóa bỏ những giao ước với Nguyễn Huệ trước đây. Chính v́ hai bất đồng [mà Nguyễn Nhạc ép em ḿnh phải thi hành không thể giải quyết được] 1/ giao tài sản lấy được của họ Trịnh và 2/ không nhận đất Nghệ An của nhà Lê đă đưa tới xung đột giữa hai anh em. Chỉ có những mâu thuẫn cực lớn mới đưa tới việc hai anh em một mất một c̣n trong một xung đột tưởng như “đồng qui ư tận”.

Đối với Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh, trước đây được coi như có công mượn sức người ngoài để trừ quyn thần họ Trịnh, nay bỗng thành một loại “cơng rắn cắn gà nhà”. T́nh thế khiến cho ông rơi vào t́nh trạng bất ổn nên khi nghe tin anh em Tây Sơn không c̣n ở Thăng Long nữa vội hốt hoảng chạy theo. Khi đuổi kịp quân Tây Sơn, anh em Nguyễn Nhạc cho Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Nghệ An với Nguyễn Duệ.[9] Việc này cũng cho ta thấy nếu Chỉnh có thành ư tôn pḥ th́ cũng có thể ở lại Thăng Long trung hưng cơ nghiệp cho vua Lê, tuy không được hoàn toàn như cũ nhưng cũng cởi được cái ách vừa có vua lại có chúa. Cũng v́ Chỉnh chạy theo nên Nguyễn Huệ cực chẳng đă phải thu nhận và giao cho cai quản vùng đất địa đầu mới được nhà Lê cắt cho.

Nghệ An là một vị trí chiến lược quan trọng Nguyễn Huệ vẫn định dùng để xây dựng kinh đô, coi như cơ nghiệp gốc của nhà ḿnh. Theo những tài liệu mà giáo sư Hoàng Xuân Hăn t́m thấy, ngay từ những ngày đầu tiên Nguyễn Huệ đă liên lạc với một ẩn sĩđây là Nguyễn Thiếp để mưu tính chuyện đó nhưng gặp khó khăn v́ phần đông các nhà nho vẫn mong rằng một ngày nào đó khu vực Nghệ Tĩnh sẽ trở lại là lănh thổ của nhà Lê. Tâm lư đó thể hiện phần nào trong lời lẽ của Nguyễn Thiếp trả lời B́nh Vương và vẫn dùng niên hiệu Cảnh Hưng hay Chiêu Thống chứ chưa dùng niên hiệu Thái Đức mặc dù đất Nghệ Tĩnh nay đă là của Tây Sơn.[10] Trong t́nh h́nh rối ren, dư đảng họ Trịnh lại nổi dậy nên vua Lê cho vời Nguyễn Hữu Chỉnh ra bắc để pḥ tá.

V phần vua Chiêu Thống, việc giao cho Tây Sơn từ Nghệ An đổ vào là một mất mát lớn nên ông đă lấy cớ rằng Thanh Nghệ là đất tổ để sai Trần Công Xán vào Phú Xuân xin chuộc lại. Đặt vấn đ chuộc đất cũng cho thấy vua Lê Chiêu Thống không bằng ḷng với việc phải cắt Nghệ An cho Tây Sơn nhưng v́ là lời hứa của tiên đế nên không có lư do để tranh chấp và đành phải thông qua thương thảo để mua lại. Cũng v́ thế, Lê Duy Cẩn cũng xác định Lê Duy K đăbội cát địa chi ước”, lại cấu kết với Nguyễn Hữu Chỉnh gây hấn ở Bắc Hà nên Nguyễn Huệ mới phải đem quân quay lại đánh dẹp.[11]

1.3. Mâu thuẫn Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ

Trong thế mất c̣n, năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Huệ phải động binh đánh Nguyễn Nhạc. Đại Nam Liệt Truyện (DNLT) Chính Biên viết:

Nhạc đă đắc chí, ngày càng dâm ô, bạo ngược, giết Nguyễn Thung, lại thông dâm với vợ Huệ, người đu chê là xấu. Việc đi xâm lấn min Bắc, của báu ở phủ chúa Trịnh, v cả tay Huệ, Nhạc đ̣i không cho. Huệ muốn lấy cả đất Quảng Nam, Nhạc cũng không cho, mới thành ra cừu thù him khích nhau. Huệ bèn truyn hịch kể tội ác của Nhạc, đến nỗi bảo Nhạc là giống sài lang chó lợn. Hịch văn có câu nói rằng: “Tội không ǵ lớn là giết vua, sao có thể một sớm kinh (khinh) suất can không nghe th́ đổi ngôi, thực quan hệ đến sự yên nguy muôn đời”.[12]

Cũng theo DNLT, Nguyễn Huệ đem quân vào vây Qui Nhơn cả mấy tháng, đắp núi đất đđặt súng lớn bắn vào thành, đạn to như cái đấu khiến Nguyễn Nhạc phải khóc mà nói với Nguyễn Huệ:

-    Nồi da xáo thịt, ḷng em sao nỡ thế![13]

V việc này, nhiu giáo sĩ có mặt tại Việt Nam cũng chép, chẳng hạn như Doussin ở Thuận Hoá viết như sau:

Nhạc có hai em. Một em đă đi Kẻ Chợ mà không nói ǵ với anh, đă muốn làm vua phần đất nầy. Y để Nhạc trở v Quí-phủ (Quy Nhơn; Nhạc đă theo Huệ ra Thăng-long rồi cùng v Phú-xuân) là nơi y cư ngụ; rồi lin sau đó bảo toàn dân suy tôn ḿnh làm Đức Chúa. Nhạc được tin, không vừa ư, hăm doạ em, nhưng không những người em quyết không lui, mà c̣n cử một đạo quân sáu vạn, đem vào đánh Nhạc ở Quí-phủ. Nó vào đó từ ngày lễ Tro (trước lễ Phục-sinh thuộc đạo Cơ-đốc). Chúng nó đă đánh nhau hai lần. Người ta đồn rằng Đức Chúa đă mất nửa quân rồi. Thế tỏ rằng y bị bối-rối, mà y bắt buộc ai cũng phải đi đánh ... Thật là khổ! Dân bị lầm than đang mong đợi Chúa Nguyễn hơn khi nào cả. Thư-khố Bộ Truyn Giáo Hải Ngoại [Mission Étrangère Paris] 746.[14]

 Sau đó anh em giảng ḥa. Tranh chấp tuy chấm dứt nhưng Nguyễn Nhạc phải nhường đất Quảng Nam cho Nguyễn Huệ, chỉ c̣n làm chủ từ Quảng Ngăi đổ vào khiến thế lực suy yếu hẳn. Việc Nguyễn Huệ đem quân tấn công vào Qui Nhơn rồi sau đó hai anh em cầm chân nhau nên Nguyễn Nhạc không c̣n quan tâm tới phương nam, tạo khoảng trống cho Nguyễn Ánh từ Xiêm La v chiếm lại đất Gia Định.[15]

Đây là giai đoạn mà nước ta chia làm bốn phần, gần như bốn nước riêng biệt, min bắc gọi là An Nam như sắc phong của Trung Hoa (mặc dù ta vẫn tự xưng là Đại Việt), min Trung gọi là Đàng Trong, hay nước Chàm như người Âu Châu đặt tên, (c̣n nhà Thanh th́ gọi là nước Quảng Nam) bao gồm một nửa của Nguyễn Nhạc, một nửa của Nguyễn Huệ, c̣n min Nam có tên là Đồng Nai hay Gia Định (một phần thuộc Tây Sơn, một phần thuộc Nguyễn Ánh).

Cũng v́ t́nh h́nh căng thẳng như thế, Nguyễn Huệ không thể đích thân ra bắc giải quyết những vấn đ nội trị và tin tức v việc anh em Nguyễn Nhạc bất ḥa khiến nhà Thanh tin tưởng rằng chỉ cần có cớ đem quân sang nước ta là sẽ đạt thắng lợi. Thế lưỡng đầu thọ địch của Nguyễn Huệ cũng khiến cho ông phải áp dụng chiến thuật thần tốc, bí mật, hư hư thực thực mà sau này người ta hay tô điểm cho thêm phần huyn hoặc.

2. TƯƠNG TRANH LÊ – TÂY SƠN

2.1. Tranh đoạt quyn hành

Trong suốt hai trăm năm Bắc Hà có vua lại có chúa, đa số sĩ phu dân dă chỉ biết có chúa mà không biết tới vua nên dẫu khi được trao quyn bính vào tận tay, vua Lê cũng không biết xoay trở ra sao. Một số đông quan lại trước nay chỉ biết phục ṭng phủ chúa, trong cơn bối rối lại nghĩ ngay đến việc đi t́m con cháu họ Trịnh để tôn phù.

Đến khi con cháu họ Trịnh đánh lẫn nhau, vua Lê bị áp bức quá lại phải vời Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra. Nguyễn Hữu Chỉnh lúc đó cũng một ḿnh một cơi Thanh Nghệ nhưng đang bị Tây Sơn kim tỏa nên manh nha tách ra để thành một lực lượng độc lập. Việc Lê Duy K vời Cống Chỉnh ra dẹp loạn vô h́nh chung đă đẩy Cống Chỉnh vào thế phải quay lưng với Tây Sơn và cũng khiến Lê Duy K phải dựa vào quân Thanh Nghệ của họ Nguyễn để có cơ tồn tại. Thanh thế lừng lẫy của Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh trở thành một mối lo cho Nguyễn Huệ khiến ông phải sai Vũ Văn Nhậm ra bắt, một hành vi coi như công khai xác định quyn bảo hộ đất Bắc.

Dưới nhăn quan của vua Chiêu Thống và nho sĩ min Bắc, việc quân Tây Sơn tấn công ra bắc lần thứ hai là một xâm phạm chủ quyn chứ không c̣n là hành vi hộ giá của một ông rể họ. Trước đây khi Nguyễn Huệ ra Bắc tỏ ư tôn Lê được người Bắc Hà ví như “T Hoàn tôn Chu” [齊桓尊周] để thu phục chư hầu th́ lần này lại bị gọi là “Thạch Lặc, Lưu Thông” [石勒劉聰] là những kẻ soán nghịch.

Khi Nguyễn Hữu Chỉnh đại bại, vua Lê bỏ chạy sang Kinh Bắc (Bắc Ninh), sai bọn Lê Quưnh đem tông thất trong đó có cả Hoàng thái hậu, Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bằng nương náu nơi những thổ quan c̣n trung thành với nhà Lê, bản thân nhà vua chạy sang Yên Thế. Một người rất thân cận với vua Lê lúc đó là Bùi Dương Lịch đă kể lại như sau:

... Ngày 25 tháng Một (năm Đinh Mùi) [2-1-1788] vua sai Nguyễn Chỉnh đem đại quân đến chống cự ở sông Sinh Quyết.

Ngày 30 [7-1-1788], Nhậm [Vũ Văn Nhậm] sai người ban đêm lặn xuống sông lẻn vào chỗ quân thủy của Chỉnh đóng, dùng thừng chăo buộc thuyn kéo v bờ nam, quân Chỉnh tan vỡ. Nhậm thắng trận liên tiếp kéo quân đến sát thành Thăng Long. Vua nghe tin báo có ư muốn v phía tây ngầm theo đường thượng lưu rút v Thanh Hoa.

Nửa đêm Chỉnh từ sông Sinh Quyết trở v, vua sai vời mấy lần, Chỉnh không vào mà ủy cho Tham tri chính sự Nguyễn Như Khuê [tiến sĩ, anh rể Chỉnh] vào tâu xin vua chạy lên phía bắc và nói: Nguyễn Cảnh Thước ở Kinh Bắc, thế lực có thể trông cậy được.

Vua nghe theo, đợi trời sáng, vua ngự ra điện Vạn Thọ, bọn thị vệ dần dần bỏ trốn, vua triệu các quan sảnh đường để xét hỏi, th́ họ đă ngầm trốn đi từ trước, không c̣n một người nào trực cả. Bọn nội thị ai v nhà nấy thu xếp hành lư. Trong điện chỉ c̣n Hoàng thân thứ hai, cai quản vệ Hổ bôn Đạt quận hầu [Lê Duy Đạt], người vừa mới được tiến triu là Nguyễn Khải người Hương Cần, huyện K Hoa, người họ ngoại là Tích Xuyên hầu cùng hoàng giáp Bùi Dương Lịch bưng khăn đứng hầu mà thôi.

Xem như thế t́nh h́nh Thăng Long hết sức bi thảm, vua Chiêu Thống không c̣n có thể trông cậy vào ai được nữa.

Khi sắp đi, vua trước hết đến nhà tẩm miếu tiên đế bái khóc. Bọn thị vệ lại lén bỏ đi. Vua tôi chỉ đưa mắt nh́n nhau, không biết làm thế nào. Bùi Dương Lịch đến trước vua tâu rằng: “Nay Chỉnh dẫu thua trận rút lui, nhưng thủ hạ của Chỉnh c̣n nhiu, ḷng người c̣n biết sợ Chỉnh, xin nhà vua truyn dụ đi đến nhà Chỉnh, sai Chỉnh đi theo hộ giá, chắc được, như thế có sự ràng buộc”.

Vua cho là phải ...

Thế nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh cũng không làm được ǵ hơn nên khi đến được Kinh Bắc th́ Nguyễn Cảnh Thước lại có manh tâm phản trắc, cướp bóc, ngăn trở không cho qua sông. Khi qua được tới vùng Yên Thế, Lạng Sơn th́ v́ binh lực ít ỏi vua Lê phải dựa vào một nhóm thổ hào ô hợp nên cũng chẳng đến đâu.[16]

Tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Ḥa đem binh đuổi đánh, bắt được Nguyễn Hữu Chỉnh đem v Thăng Long. Vua Chiêu Thống chạy thoát. Cha con Nguyễn Hữu Chỉnh, kẻ bị giết, người bị bêu đầu.

Nhiu chi tiết cho ta thấy trong t́nh trạng rối ren, tông thất nhà Lê cũng có nhiu phe phái, sĩ phu và quan lại cũng nghiêng qua ngả lại, không đồng nhất. Những người c̣n một số quyn hành tại địa phương th́ dĩ nhiên chọn con đường “cần vương” mà chúng ta thấy nổi lên khắp nơi.[17] Những văn quan th́ cố t́m cách trốn tránh mặc dù cũng có một số người chạy ra cộng tác với tân triu đóng vai trung gian chiêu dụ người khác nhưng không hoàn toàn thành công.

Khi nhận được tin Vũ Văn Nhậm có ư chuyên quyn, Nguyễn Huệ lập tức kéo quân từ Phú Xuân ra bắt Nhậm giết đi rồi ủy thác cho Ngô Văn Sở và các tướng lĩnh ở lại trấn thủ Thăng Long, sau đó dẫn binh quay v.

Vũ Văn Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc, trước đây vốn dĩ là một t́ tướng thân cận của Nguyễn Huệ nhưng từ khi hai anh em bất ḥa, vị thế của ông này trở nên nguy hiểm. Chúng ta không lấy làm lạ khi ông trừ được Nguyễn Hữu Chỉnh rồi, thay v́ hỏi ư kiến Nguyễn Huệ để xin giải pháp, Vũ Văn Nhậm lại tự ư đưa Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn (tức ông Hoàng Tư, chú của Lê Duy K) lên làm giám quốc, một hành vi “k đà cản mũi” những toan tính của Nguyễn Huệ. Giết Vũ Văn Nhậm cũng cắt đứt những liên hệ (nếu có) sau cùng giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

Tuy nhiên việc Lê Duy K biến mất khiến cho Nguyễn Huệ lúng túng, dự tính tôn ông lên làm vua lại không được người Bắc Hà tán thành nên sau cùng ông đành chấp nhận giải pháp cũ, bằng ḷng để Lê Duy Cẩn (hay Cận) làm giám quốc, một chức vụ có tính thay mặt vua Lê đđiu hành chính sự. Mặt khác ông ra lệnh cho Ngô Văn Sở t́m cách tiêu diệt dư đảng nhà Lê, truy sát thân nhân của Lê Duy K để trừ hậu hoạn. Chính v́ thế mà thái hậu và một số tông thất phải liu mạng vượt sông chạy sang Long Châu.

Nói đến các thế lực tại min Bắc có điu kiện đối kháng với nhà Tây Sơn, chúng ta có thể nhắc đến những lực lượng phù Lê, dư đảng họ Trịnh và những thổ hào phần lớn sống tại vùng trung du sát với núi non.[18] Tại Yên Thế có Dương Đ́nh Tuấn, vốn dĩ là một tay “anh chị” ở Lạng Giang, nay hưởng ứng Cần Vương được phong làm B́nh Khấu tướng quân. Trần Quang Châu, Trần Đĩnh, Hoàng Xuân Tú ở Chí Linh. Trần Quang Châu được phong là Định Vũ Hầu. Ở Thanh Hoa[19] có con cháu nhà Lê là Lê Duy Trọng, Lê Duy Phác. Hoàng đệ Lê Duy Chi (em vua Chiêu Thống) th́ dấy lên ở Tuyên Quang, Thái Nguyên. Ngoài ra c̣n vô số các nhóm nhỏ mỗi người làm chủ một cơi.

Quân Tây Sơn th́ vẫn c̣n ở t́nh trạng trấn giữ, chưa h́nh thành một bộ máy hành chánh đến mọi địa phương. Đại quân chỉ tập trung ở một số vị trí huyết mạch chứ không trải mỏng đến từng thôn xóm. Mặc dù Nguyễn Huệ cố tuyển mộ gấp rút một đoàn quân địa phương để bổ xung lực lượng, đa số quân trú đóng ở min Bắc vẫn là quân đem từ min Nam ra mà khác biệt v tiếng nói, phong tục, cách sinh hoạt chưa có thể một sớm một chiu khắc phục được.[20] Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến thành phần Hoa kiu sinh sống trên đất nước Việt Nam, phần lớn là giới con buôn vào ra theo đường sông, cư ngụ dọc theo các trục lộ giao thông, tương đối nắm vững t́nh h́nh luôn luôn sẵn sàng nhũng nhiễu khi có cơ hội.

2.2. Hoàng tộc xuất bôn

Khi quân Tây Sơn truy nă Nguyễn Hữu Chỉnh, tông thất nhà Lê chạy tứ tán khắp nơi. Theo tài liệu của nhà Thanh c̣n trong văn khố, vào tháng Chạp năm Càn Long 52 (Đinh Mùi), cựu thần nhà Lê là Địch Quận Công Hoàng Ích Hiểu (迪郡公黃益曉), Hoan Trung Hầu Phạm Đ́nh Quyn (懽忠侯范廷權) bảo hộ gia quyến vua Lê, nam nữ cả thảy hơn 200 người chạy lên Lạng Sơn nhưng bị thổ mục ở đó là Quyển Trâm (卷簪) toan bắt giữ nên cả bọn phải chạy đến xă Bác Sơn, huyện Vơ Nhai nương náu. Đốc trấn Cao Bằng là Đồng B́nh chương sự Tô Phái Hầu Nguyễn Huy Túc (阮輝宿) nghe tin vội chạy đến nghinh đón, có Trường Phái Hầu Lê Quưnh (長派侯黎囧[21]), anh vợ vua Lê[22] là Nguyễn Quốc Đống (阮國棟) và Mai Trung Hầu Nguyễn Đ́nh Mai (梅忠侯阮廷枚) đi theo bảo hộ.

Sau một thời gian, đoàn người lưu vong lại bị các phiên mục ở Cao Bằng như Bế Nguyễn Trù (閉阮儔), Bế Nguyễn Sĩ (閉阮仕) cùng tướng Tây Sơn là Hoán Nghĩa Hầu Trần Danh Bính (煥義侯陳名炳) đem quân tới Bác Sơn truy nă. Nguyễn Huy Túc dẫn cả bọn bỏ chạy, ngày mồng 4 tháng Năm năm Mậu Thân [7-6-1788] th́ tới được Bác Niệm ( ) giáp với tỉnh Quảng Tây nhà Thanh. Ở vùng này không có cửa ải nào đi qua Trung Hoa, lại bị Hoán Nghĩa Hầu dẫn 300 quân đuổi tới rất gắt.

Ngày 12 tháng Năm [15-6-1788], lúc giờ Dậu [khoảng 8 giờ tối], cả bọn bầy tôi quyến thuộc nhà Lê chạy được đến bên ngoài ải Đẩu Áo (斗奧). Đẩu Áo cách Long Châu 120 dặm,[23] phía đông bắc Thuỷ Khẩu quan, cạnh một khe suối làm biên giới chia cắt nước ta với Trung Hoa.[24]

Nguyễn Huy Túc khai với Tôn Sĩ Nghị rằng di thần quyến thuộc nhà Lê ở bên kia sông bị truy binh nên bọn Nguyễn Huy Túc phải cơng đám đàn bà trẻ con lội qua con rạch. Những người không qua được đu bị quân Tây Sơn giết chết. Đám ṭng vong nhà Lê sau khi qua được con suối th́ lên được đỉnh núi, do thổ dân đưa đường phải đi hái rễ cây, ăn quả rừng cho đđói sống tạm mấy ngày. Khi tin đưa tới quan quân nhà Thanh th́ thông phán Trần Tùng tới gặp.

... Bấy gị, Thái hậu với Nguyên phi, Nguyên tử đu ở Thái nguyên. Quưnh vâng mệnh đi lên Bắc để hộ vệ Thái hậu. Tháng Tư, đến Thái nguyên, thấy binh ít thế gấp, bèn đưa Thái hậu đi trấn Mục mă (nguyên lầm ra Mục dă) thuộc Cao bằng.

Tháng Năm, quân Tây sơn th́nh ĺnh tới, Phiên mục Hoàng Ích Hiểu theo lời dặn của đốc đồng Nguyễn Huy Túc lấy thuyn buôn đưa Quốc mẫu (Thái hậu) thuận ḍng đến cửa Thuỷ khẩu (cửa sông Bằng vào biên giới Long châu), tạm trú trên một g̣ nhỏ ở giữa sông thuộc thôn Bến xă Phất mê.

Ngày mồng 9 [12-6-1788], quân Tây sơn đến đông. Quưnh và Ích Hiểu chia nhau hai ngả mà ngăn chống. Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, Phượng thể hầu Nguyễn Quốc Đống, Trường thu lịnh Phạm Đ́nh Quyn cùng nhau đưa Thái hậu qua sông, tới làng Đẩu áo mà vào đất Thanh. Chiu tối, Quưnh và Ích Hiểu giữ g̣ nhỏ ở giữa sông Phất mê. Quân Tây sơn vây phía Tây nam. Quân giữ ải nội địa ngăn phía Đông bắc. Lui tới đu hết đường, chỉ c̣n có thể đánh đến chết mà thôi. May tối đến, mưa gió to. Trong đêm tối, nhân chớp sáng mà lội qua sông. Bắt đầu vào đất Thanh tại làng Đẩu áo trong núi Đồ sơn.

Người nhà c̣n bảy đứa. Sáng dậy thấy Thái hậu với Nguyên phi, Nguyên tử, các tùng thần đu ở trong động núi. Lương hết. T́m được vài bao ngô đem tiến. C̣n hơn sáu mươi người đu lấy rễ tươi bổ cốt chỉ đập nát và quả trong rừng mà ăn cho đđói.[25]

Trong “Tiêu Cung Tuẫn Tiết Hành” Nguyễn Huy Túc thuật v cuộc đời của hoàng phi Nguyễn Thị Kim cũng miêu tả như sau:

Tới Mục Mă vội vàng nghỉ lại,

Thuyn vua giong lên ải Phất Mê.

Địch nghe tin kíp đuổi k,

Tên bay đạn lạc bốn b rối ren.

Bè một mảng qua phen kinh hăi,

Bao hiểm nghèo rồi lại b́nh yên,

Vịn cây dẫm đá trèo lên,

Mưa mù lam chướng đầy trên một trời.

Dân sở tại chào mời đưa dắt,

Gập ghnh theo lối tắt đường ngang.

Hết đường tới núi vào hang,

Giếng thơm trong suốt, nước đang dạt dào ...[26]

Qua được đất Trung Hoa, thân quyến và bầy tôi nhà Lê chỉ c̣n 62 người, trong đó có thái hậu [mẹ Lê Duy K] là Nguyễn (thị) Ngọc Tố (阮玉素) và vương phi [vợ Lê Duy K] là Nguyễn (thị) Ngọc Đoan (阮玉端),[27] vương tử [con Lê Duy K] là Lê Duy Thuyên (黎維詮).[28] So sánh với số lượng hơn 200 người tông thất nhà Lê chạy lên Cao Bằng ta thấy khoảng hơn 150 người đă bị giết hay mất tích.[29] Tất cả được đưa vào cho nghỉ tạm ở Long Châu. Nguyễn Huy Túc lúc đó mới đem mọi việc của nước Nam loạn lạc thế nào, Thăng Long bị mất ra sao tŕnh lên cho quan nhà Thanh như sau:[30]

... Nguyên ngày mồng 2 tháng Chạp [8-1-1788] năm ngoái, thổ tù đất Quảng Nam Nguyễn Nhạc là bên ngoại của nước chúng tôi, c̣n có tên là Văn B́nh (ở đây nhầm Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc), năm ngụy Thái Đức thứ 11, bọn chúng vốn không phải họ Nguyễn, cũng không phải họ Nguyễn phụ chính (tức chúa Nguyễn trong Nam), em của y là Nguyễn Huệ, ngụy xưng là Thượng Công, sai ngụy tiết chế là Nguyễn Nhậm (tức Vũ Văn Nhậm) đem mấy vạn quân thẳng đến kinh thành, quốc vương nước tôi lănh binh các đạo chống giữ đánh thắng được địch mấy lần.

Tháng Ba năm nay, Nguyễn Huệ đem quân đến tiếp viện, quốc vương phải lánh nạn ở hạ lộ Sơn Nam. Bọn chúng tôi đưa vương mẫu, vương tử, vương phi đến trốn tránh ở Na Lữ, đất Cao Bằng.

Ngày mồng chín tháng Năm [12-6-1788], man binh bất ngờ đến cướp trại, truy sát rất gấp, không nơi chạy trốn, bọn chúng tôi phụng mệnh mẹ của tự tôn (tức Lê Duy K) chạy đến quí hạt. Trộm nghĩ vua Lê nước tôi nhiu đời phụng sự thiên triu, vẫn mong được thánh thiên tử chăm lo dạy dỗ. Nay gặp phải biến cố này nên cố bỏ đất mà chạy đến đây, mong được quí đài chiếu cố, tŕnh lên thượng hiến, tâu lên mọi việc, cũng mong trời che đất chở không ǵ là không dung chứa, đoái hoài đến cả kẻ ở phương nam là mẹ con của quốc vương chúng tôi Lê Duy K đu được thương xót, có nơi nương tựa, sống nốt tháng ngày, đợi khi quốc vương nhờ uy đức thiên triu lại trở v được kinh đô, khi đó đón trở v nước, dương danh chí nhân thịnh đức của thiên hoàng đế th́ cũng là do quí liệt đài thương xót mà ban cho.

Nay tŕnh lên.(NDC)

Lá thư viết ngày 12 tháng Năm [15-6-1788] nhưng đến đầu tháng Sáu năm Càn Long thứ 53 tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh[31] mới nghe tŕnh lên rằng ở phủ Thái B́nh có gia quyến vua Lê nước Nam chạy sang lánh nạn. Đ đốc Quảng Tây là Tam Đức[32] (三德) lúc đó đang ở tại Tả Giang lo việc di chuyển quân sĩ vừa thắng trận trở v (chiến tranh dẹp loạn nhóm Thiên Địa Hội Lâm Sảng Văn (林爽文) ở Đài Loan) nên ngay ngày mồng 3 [6-7-1788] đă tới ngay Long Châu để xem xét t́nh h́nh.

Long Châu là một thị trấn nhỏ ở sát biên giới, khí hậu oi bức, ma thiêng nước độc, vừa ngại gia quyến nhà Lê không hợp thuỷ thổ, lại sợ quân Tây Sơn có thể tấn công qua bắt lại nên Tam Đức lin thương nghị với tổng binh Tả Giang là Thượng Duy Thăng, đưa cả bọn lên Nam Ninh (thủ phủ của tỉnh Quảng Tây). Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị vội vàng đem t́nh h́nh tâu lên vua Càn Long, một mặt ra lệnh cho Thượng Duy Thăng đem quân đến Long Châu pḥng ngự.

Thượng Duy Thăng lin phái 1000 quân đến phối hợp với quân sĩ trú đóng ở Long Châu, chia nhau canh giữ các nơi. Ngày mồng 4 tháng Sáu [7-7-1788], Tôn Sĩ Nghị từ Triu Châu lên đường sang Long Châu để quan sát t́nh h́nh, sợ quân chưa đủ sức nên bí mật sai Tam Đức điu thêm mấy ngàn binh sĩ sẵn sàng tiếp ứng nếu quân Nam tràn qua. Biên giới tỉnh Quảng Tây tiếp giáp với nước ta có ba cửa, từ trên xuống dưới là Thuỷ Khẩu Quan (水口), B́nh Nhi Quan (平而) và Trấn Nam Quan (鎮南). Trấn Nam Quan – mà ta gọi là Nam Quan - là cửa chính, luôn luôn có trọng binh trấn giữ. Sứ thần nước ta mỗi khi sang Tàu đi theo con đường này. Hai cửa ải kia nhỏ hơn, chỉ là đường cho dân chúng hai nước qua lại. Tôn Sĩ Nghị sợ thất thố nên lại sai Tả Giang Trấn điu thêm 300 quân, chia ra mỗi cửa ải đặt thêm 100 người canh gác ngày đêm.


(C̣n tiếp)

 

Nguyễn Duy Chính

 

http://www.gio-o.com/NguyenDuyChinh.html

 

© gio-o.com 2012

 

 

[1] Đặng Phương Nghi, “Triu đại vua Quang Trung dưới mắt các nhà truyn giáo Tây phương”. Một Nhóm Học Giả, Một Vài Sử Liệu v Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ (1992) tr. 234

[2] Li Tana, Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries (1998) tr. 171

[3] Cristophoro Borri, Tường Tŕnh V Khu Truyn Giáo Đàng Trong 1631 Hồng Nhuệ (dịch), tr. 50

[4] John Crawfurd, một nhà quí tộc Anh trong chuyến du hành tới Việt Nam năm 1822 (thời Minh Mạng) đă nhận định rằng gần như toàn bộ những thành phố quan trọng của Việt Nam đu nằm dọc theo bờ biển ở Đàng Trong trong đó gồm có Hà Tiên, Saigon, Nha Trang, Phú Yên, Qui Nhơn, Hội An (Faifo), Đà Nẵng (Tourane), Huế. John Crawfurd, Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin China (1967) tr. 510.

[5] He was then pleased to disclose some of his future designs to me. They were no less than to subdue the Kingdom of Cambodia with the whole penisula as far as Siam, and the Provinces belonging to Cochin China to the north now in the hands of the Tonquinese. “Charles Chapman’s narrative of his mission to Vietnam”. Alastair Lamb, The Mandarin Road to Old Hue. (1970) tr. 100. Đây là trích nguyên văn từ lời tường thuật của Chapman, một thương gia người Anh trong kỳ gặp gỡ với vua Thái Đức [nguyên văn Ignaac tức ông Nhạc] ở Qui Nhơn năm 1778. Tài liệu này nguyên bản c̣n lưu trữ tại India Office Library, London trong China Factory Records series, vol. 18.

[6] Theo một bức vẽ của người Âu Châu thời đó, “vua xứ Đàng Trong” cưỡi voi, cởi trần có lính theo hầu trông hoàn toàn là một tù trưởng thiểu số, không phải nghi vệ quốc vương nước Nam.

[7] Quốc Sử Quán triu Nguyễn. Khâm định Việt sử thông giám cương mục II (bản dịch Viện Sử Học) (1998) [viết tắt là CM II] q. XLVI, tr. 793

[8] CM II,– XLVI, (1998) tr. 790 chép v việc Nguyễn Huệ ra Bắc vào yết kiến vua Lê Hiển Tông như sau:

Trước đây họ Trịnh chuyên giữ chính quyn trong nước, một người dân, một tấc đất đu không do quyn triu đ́nh. Nay Văn Huệ vào triu yết, bèn xin ngày cử hành nghi lễ đại triu, dâng sổ sách binh và dân để tỏ rơ ư nghĩa nhà vua nhất thống và Nguyễn Huệ tôn pḥ. Đến nay, nhà vua cố gượng dậy, ra ngự điện Kính Thiên nhận lễ, rồi ban hành chiếu thư v việc nhất thống để bá cáo cho trong kinh, ngoài trấn biết. Lại sách phong Văn Huệ làm Nguyên Soái Phù Chính Dực Vận Uy Quốc Công. Sau khi Văn Huệ nhận sách phong, bèn nói riêng với Hữu Chỉnh rằng: “Ta cầm vài vạn quân, đánh một trận mà b́nh được Bắc Hà, một tấc đất, một người dân, đu là của ta, nếu muốn xưng đế hay xưng vương việc ǵ mà ta không làm được? C̣n như sắc mệnh nguyên soái quốc công đối với ta có hơn kém ǵ? Bầy tôi Bắc Hà lại muốn dùng danh vị hăo để lung lạc ta hay sao? Đừng tưởng ta là người mọi rợ được chức tước ấy bèn lấy làm vinh dự đâu!”. Hữu Chỉnh biết ư Văn Huệ không măn nguyện, bèn bí mật khuyên nhà vua đem công chúa Ngọc Hân gả cho, Văn Huệ rất bằng ḷng.

[9] Theo sử nhà Thanh th́ việc anh em Nguyễn Nhạc rút v có thêm một số chi tiết:

...五十二年,維端卒,嗣孫維祁立,阮惠盡取象載珍寶歸廣南,使鄭氏之臣貢整留鎮都城。貢整思扶黎拒阮,乃以王命率兵奪回象五十 ...

... ngũ thập nhị niên, Duy Đoan tốt, tự tôn Duy K lập, Nguyễn Huệ tận thu tượng tải trân bảo quy Quảng Nam, sử Trịnh thị chi thần Cống Chỉnh lưu trấn đô thành. Cống Chỉnh tư phù Lê cự Nguyễn, năi dĩ vương mệnh suất binh đoạt hồi tượng ngũ thập ...

Năm (Càn Long) thứ 52, Duy Đoan (tức vua Lê Hiển Tông) chết, tự tôn là Duy K lên thay, Nguyễn Huệ thu hết châu báu dùng voi chở v Quảng Nam, để bầy tôi họ Trịnh là Cống Chỉnh trấn giữ đô thành. Cống Chỉnh tính chuyện phù Lê chống lại họ Nguyễn nên dùng vương mệnh đem binh đoạt lại năm chục con voi ... Thanh Sử Cảo, tập 48 (1996) tr. 14634-5

[10] Xem Hoàng Xuân Hăn, La Sơn Phu Tử (1952)

[11] Xem thêm bẩm văn của bọn Tạ Đ́nh Thực đ ngày 22 tháng Mười, Càn Long 53 [19-11-1788]. Trang Cát Phát (莊吉發), Thanh Cao Tông Thập Toàn Vơ Công Nghiên Cứu (清高宗十全武 功研究), (1982) tr. 366-7 và bẩm văn của Lê Duy Cẩn ngày 22 tháng Mười, Càn Long 53 [19-11-1788], Trang Cát Phát, TTVC (1982) tr. 365-6.

[12] Quốc Sử Quán triu Nguyễn. Đại Nam Liệt Truyện (DNLT) tập II (Ngô Hữu Tạo, Đỗ Mộng Khương dịch) (1997) tr. 531-2

[13] DNLT, tập II, (1997) tr. 532

[14] Hoàng Xuân Hăn, “Thống Nhất Thời Xưa”, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hăn tập II (1998) tr. 1375

[15] Theo lá thư của ông Sérard gửi ông Letondal đ ngày 17 - 7 – 1791 th́ vào khoảng tháng 3 năm 1791, khi vợ vua Quang Trung mất, Nguyễn Nhạc đă tưởng lầm là Nguyễn Huệ từ trần nên đem quân ra toan lấy Phú Xuân và phải quay v khi biết em ông c̣n sống. Đặng Phương Nghi, “Triu Đại Quang Trung ...”, Một Vài Sử Liệu ... (1992) tr. 264

[16] Lê Quí Dật Sử (Phạm Văn Thắm dịch) (1987) tr. 80-2

[17] Hoàng Xuân Hăn, “Phe Chống Đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm”, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hăn tập II (1998), tr. 1245-1332

[18] Đại đa số các địa phương min Bắc lúc đó đu đă qui thuộc nhà Tây Sơn, chỉ riêng một số vùng như châu Hoan, châu Diễn (tức vùng Thanh Hoá, Nghệ An) và một số trấn Sơn Nam, Sơn Tây, Hải Dương, Kinh Nam, Kinh Bắc, Tuyên Quang, Hưng Hoá ... vẫn c̣n một số thổ hào, hưởng ứng cần vương nổi lên chống lại nhưng lực lượng yếu ớt, không có ǵ đáng kể. Những ṭng vong nhà Lê khai với quan nhà Thanh như sau:

... đất An Nam trước nay có 52 phủ, trong đó 12 phủ là do thổ mục, man tù sinh sống (tức người vùng núi), c̣n thực quyn là 40 phủ, trong đó đạo Thanh Hoa gồm 4 phủ 15 huyện, đạo Tuyên Quang 3 châu 1 huyện, đạo Hưng Hóa 10 châu 2 huyện là chưa đầu hàng Nguyễn Văn Huệ, ngoài ra An đạo 4 phủ 12 huyện của min trên cũng chưa hàng, c̣n min dưới th́ hàng cả rồi. Đạo Sơn Nam 9 phủ 36 huyện, min trên cũng đă hàng, min dưới chưa hàng (?). Đạo Sơn Tây gồm 5 phủ 24 huyện, min trên chưa hàng, min dưới cũng đă hàng. Đạo Kinh Bắc gồm 4 phủ 20 huyện, min trên chưa hàng, min dưới hàng rồi. Đạo Hải Dương 4 phủ 19 huyện, min trên đă hàng, min dưới chưa hàng (?). Đạo Thái Nguyên 8 huyện, 3 châu, min trên chưa hàng, min dưới đă hàng. Đạo Cao Bằng 1 phủ, 4 châu và Lạng Sơn 1 phủ, 7 châu cũng đă đầu hàng. Nguyễn Văn Huệ muốn xúi bẩy dân chúng bắt giao Lê Duy K nên đă hứa miễn giảm sưu thuế cho dân trong mười năm. Trang Cát Phát, TTVC (1982) tr. 346 và tr. 353

[19] lúc này chưa đổi thành Thanh Hoá v́ chưa kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng.

[20] Nguyễn Huệ cũng không trải quân lẫn vào các thôn xóm, phần sợ bị tiêu diệt, phần khác v́ phương pháp điu binh nếu cần có thể di chuyển thật nhanh. Thành thử quân của ông chỉ đóng ở các đ́nh chùa, miếu mạo ... luôn luôn sẵn sàng nhổ trại không xây dựng hệ thống pḥng ngự kiên cố.

[21] Chữ Quưnh nguyên có bộ Nhân đứng ở bên trái.

[22] Nguyên văn trong tài liệu của nhà Thanh là thê cữu (妻舅).

[23] V độ dài đời Thanh cho đến nay những số liệu chính thức t́m được không thống nhất (căn cứ vào những thước mẫu tàng trữ trong Viện Bảo Tàng), 1 thước (xích) thay đổi từ 32 đến 36.7 cm. Theo cách tính của Trung Hoa, 1 lư [] là 18 dẫn [], 1 dẫn là 10 xích [], tính ra một lư (dặm) ngắn nhất là 576 mét, dài nhất là 660 mét. Như vậy khoảng cách giữa hai địa điểm theo sách vở ghi lại chỉ là ước tính không hoàn toàn chính xác như chúng ta ngày nay.

[24] Theo Lê Quưnh trong Bắc Hành Tùng Kư th́ chỗ này có tên là bến Phất Mê. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hăn, tập II. (1998) tr. 876

[25] Lê Quưnh, “Bắc Hành Tùng Kư”, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hăn, tập II (1998) tr. 876-7

[26] Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê Nhất Thống Chí (HLNTC), (2002) tr. 425-26

[27] Tên thực là Nguyễn thị Kim. GS Hoàng Xuân Hăn viết là Nguyễn thị Ngọc Thuỵ, theo tờ tŕnh của Nguyễn Huy Túc th́ là Ngọc Đoan. Hai chữ Thuỵ () và Đoan () rất giống nhau. Tờ tŕnh nay c̣n nguyên bản chắc phải đúng hơn.

[28] Cung Trung Đáng (The Palace Records) Cố Cung Bác Vật Viện (National Palace Museum) Đài Bắc: Tờ tŕnh của Tôn Vĩnh Thanh đ ngày 1 tháng Sáu năm Càn Long 53 [4-7-1788], tờ tŕnh của Tôn Sĩ Nghị ngày mồng 4 tháng Sáu năm Càn Long 53 [7-7-1788], tờ tŕnh của Tôn Vĩnh Thanh ngày 13 tháng Sáu [16-7-1788]. Trang Cát Phát, TTVC (1982). tr. 359.

[29] Con số có thể lớn hơn nữa v́ hơn 200 là tông thất nhà Lê lúc ban đầu, v sau có thêm bọn Nguyễn Huy Túc, Lê Quưnh ... không biết bao nhiêu. Tính theo tỉ lệ số người bị Tây Sơn bắt giết là đa số, những người c̣n sống sót chỉ là thành phần quan trọng nhất được bảo vệ mà thôi.

[30] Quân Cơ Xứ, CCBVV, bản sao tờ tŕnh của di mục nước An Nam đ ngày 12 tháng Năm năm Càn Long 53 [15-6-1788]. Trang Cát Phát, TTVC (1982) tr. 345-6.

[31] người Vô Tích, tự Hoành Độ (宏度), hiệu Xuân Đài (春臺), đỗ cử nhân đời Càn Long giữ chức tuần phủ Quảng Tây.

[32] Thuộc Nhương Hồng K, từng đánh Miến Điện, Kim Xuyên, lập nhiu công lao được giữ chức tổng binh Hưng Hán, Thiểm Tây. Sau làm đ đốc tỉnh Quảng Tây, bệnh chết trước khi đem quân đánh Đại Việt.

 

© gio-o.com 2012