Ngu Yên.

Nháp:

Tomas Tranströmer

Tâm Lư và Tâm Thiền

Giải Văn Chương Nobel 2011

 

Nhà thơ Tomas Transtromer đoạt giải văn chương Nobel 2011. Thật sự là việc bất ngờ trong giới văn học.

Trước khi tên ông được tuyên bố bởi hội đồng Nobel tại Thụy Điển, đa số người theo dỏi nghĩ rằng giải thưởng năm nay sẽ về tay nghệ sĩ Hoa Kỳ, ông Bob Dylan.

Bob Dylan là một nghệ sĩ tài hoa, ông vừa là ca sĩ, nhạc sĩ, hoạ sĩ vừa là thi sĩ. Tiếp theo là những nhà văn nổi tiếng như Michael Ondaatje với tác phẩm The English Patient, nhà văn Ian McEwan, tác phẩm Atonement và Saturday, nhà văn Umberto Eco với tác phẩm The Name Of Rose....

Không phải chỉ người ngoài kinh ngạc mà chính ông và vợ ông đang ngồi xem truyền h́nh để chờ đợi kết quả. Ông nói, đă lâu lắm không thấy giải Nobel văn chương trao cho thi sĩ. Ông mong muốn một thi sĩ nào đó sẽ được vinh dự này. Người thi sĩ nhận được vinh dự này chính là ông, vào lúc 1pm ngày 6 Tháng 10 (giờ Thụy Điển), với giá trị 942,000 (tiền địa phương). Ông là người Âu Châu thứ 8 được trao giải này trong 10 năm qua.

Giải thưởng văn chương Nobel 2011 trao cho ông với một lư do tóm gọn: V́ những h́nh tượng cô đọng, ư tứ đa nghĩa, ông đă cho chúng ta một con đường mới đi vào sự thật.

Tomas Transtromer nói về thơ của ông như một nơi hẹn ḥ của bóng tối và ánh sáng. Nội tâm và ngoại cảnh giao ḥa để bất ngờ bắt nối vào đời sống, lịch sử và chúng ta. "Ngôn ngữ đang đi vào nơi tử tội. Cần phải có một ngôn ngữ mới". Neil Astley, chủ cơ sở ấn hành thơ của Tomas Trastromer, nhận định, ở Thụy Điển thơ của Tomas được coi là tinh tế, có chiều sâu nhiều tầng lớp....Thơ ông thể hiện bản chất siêu h́nh, có khi hư ảo nhưng đầy cá tính.

Transtromer làm việc như tâm lư gia gần suốt một đời ở thành phố Stockholm. Tâm lư cá nhân, tâm lư tập thể, tâm lư sử liệu ..là tinh túy trong thơ của ông. Thơ ông trải giữa biên thùy của ngủ mơ và thúc tỉnh, giữa vô thức và ư thức...... Hai thập niên trước đây, ông đă bị tai nạn nhồi cơ mạch máu. Tê liệt bên trái đă làm cho ông tṛ chuyện rất khó khăn nhưng vẫn tiếp tục viết.

Chuyến tàu ngừng miền nam. Tuyết rơi bắc New York.

Đi đêm khoát áo mỏng.

Không thấy ai ra đường. Chỉ thấy xe

Chiếu đèn loáng vội vă

                       (Oklahoma, Bản kể John Freeman)

Sinh ngày 15 tháng 4 năm 1931, tại Stockholm, Thụy Điển. Viết văn, làm thơ, dịch sách cùng lúc hành nghề tâm lư gia. Mẹ là giáo viên dạy trung học. Cha là phóng viên báo chí. Ông sáng tác nhiều nhưng những tác phẩm được chuyển sanh Anh Ngữ gồm có:

The Sorrow Gondola (xuất bản bởi  Green Integer, 2010). - The Great Enigma: New Collected Poems (New Directions, 2003). - The Half-Finished Heaven: The Best Poems of Tomas Tranströmer (Graywolf, 2001). -  New Collected Poems (1997). -  For the Living and the Dead (1995). -  Baltics (1974). -  Paths (1973). -  Windows and Stones (1972). -  The Half-Finished Sky (1962); and Seventeen Poems (1954).

Giới văn chương ở Thụy Sĩ gọi ông là nhà thơ Ó. V́ ông làm thơ bằng những cách nh́n từ trên cao nh́n xuống đời sống như loài Ó Buzzard. Ông đă từng lảnh nhiều giải thưởng cao quí về thi ca như: Bonnier Award về Thi ca, the Neustadt International Prize về văn chương, the Oevralids Prize, the Petrarca-Preis ở Đức quốc, the Golden Wreath của Struga Poetry Evenings và giải thưởng Swedish Award từ International Poetry Forum. Năm 2007, Tomas nhận giải thưởng đặc biệt Lifetime Recognition Award  do hội Griffin Trust trao tặng.

Năm nay khi giải thưởng văn chương Nobel trao cho Tomas Transtromer đă chuyển hướng việc đánh giá văn chương của hội đồng Nobel. Thơ của Tomas Transtromer không liên quan đến chính trị, chiến tranh, thời cuộc nặng nề. Thơ ông là câu hỏi tâm lư nhân sinh đối diện với sống chết.

Tomas Transtromer lảnh giải Nobel đă chấm dứt t́nh trạng thi ca thế giới đang chết đuối. Lần cuối cùng một nhà thơ lảnh giải Nobel văn chương chính là Wislawa Szymborka năm 1996.

David Orr, biên tập tờ New York Time trong tiết mục giới thiệu và b́nh luận sách, đă nhận xét về thơ Toma Transtromer như những ứng dụng triết lư bằng ngôn ngữ sâu thẳm vào sự sống b́nh thường. Trong bài "Morning Bird", Con Chim Buổi Sớm, Tomas mở đầu bằng câu thơ:

Tôi đánh thức chiếc xe

Quạt gió đầy hoa phấn.

Đeo lên kính mát râm.

Tiếng chim hót đen đậm.

Ông Tomas đă tạo ra những liên hệ từ bên trong, quạt gió và phấn hoa thay v́ quạt gió và bụi bặm. H́nh ảnh mang kính mát buổi sớm xây dựng một tri giác khó hiểu để rồi ông chuyển qua tiếng hót của loài chim "nh́n thấy" đậm đen qua kính đeo. "Thấy" được tiếng chim là tứ thơ của Thiền. Màu đậm của thanh sắc làm câu thơ ẩn tàng dấu hỏi. Tứ thơ làm cho ta không khỏi nghĩ đến nhà thơ Nhật Bản Ba Sô với câu thơ, tiếng chuông chùa vang ra từ bông hoa.

Trong bài "Kyrie", Tomas viết:

Đôi khi đời mở mắt trong đen

Cảm giác thấy  đám đông lên đường

Đui mù, buồn đi t́m phép lạ

Một ḿnh tôi vô h́nh đứng im

Ông có hai tác phẩm mang nhiều bản chất thơ Hài Cú là The Sad Gondola (1966) và The Great Enigma (2004). Nh́n từ khía cạnh tâm lư, những hành vi, ư tưởng của con người đều chứa đựng những "bí mật" ư thức hoặc vô thức. Nếu chỉ diễn tả bề mặt, thơ sẽ hời hợt và bóng bẩy đầy t́nh cảm dể hiểu. Nếu ch́m sâu vào, lột từng lớp ư-h́nh, thơ sâu sẽ làm thỏa mản tri thức và mỹ cảm tâm lư.

Ông Tomas cho biết ông thường theo dỏi những bài thơ của ông lớn lên trong khi ông nhỏ dần lại. Hảy tự trả lời câu hỏi, thơ lớn hơn hay người làm thơ lớn hơn?

 

 

Thơ Tomas Trastromer.

Excerpt: Great Enigma

AUTUMNAL ARCHIPELAGO

Băo.

Bộ hành gặp thần gió

Cây Sồi sửng sốt như con nai

nhốt trong biển tháng Chín

tối tăm bao quanh.

 

Bắc phong. Mùa Thanh hương trà

đơm hoa quả. Căng phồng. Đánh thức bóng tối. Lắng nghe:

Chùm sao ghi dấu vào rạng lá

Trên đỉnh cây cao

 

Buổi Chiều - Buổi Sáng

Mặt trăng cánh bườm tàn tạ trôi về chốn héo hon

Hải Âu say bay vút

 Cầu tàu khối đen đặc. Đen dày

tạo ra bóng đêm.

 

Ngoài sân. Buối sáng gơ cửa, gơ lên

cổng biển ngọc ngà mặt trời lấp lánh

nửa gần địa cầu. Nửa mù mờ, rơi vào

sương biển hạ..

 

Khúc Nhạc Ostinato

Dưới cánh Ó bay ṿng điểm lặng yên

Sóng biển vang rền sáng trong ánh ngày

Lan lên cỏ dại rồi trào ra

bọt trắng tràn trên băi

 

Trái đất úp mở thâm u cho dơi biết đường

bay. Cánh Ó dừng im hóa thành ngôi sao nhỏ

Sóng vẫn thét gào và trào ra

Bọt trắng tràn trên băi

 (Đọc từ Dial-A-Book Inc. Mạng  http://www.npr.org/2010/01/01/141112683/excerpt-great-enigma).

Thơ Tomas Transtromer đa phần sử dụng h́nh tượng phong cảnh quen thuộc để đột xuất ẩn dụ một tứ thơ khác thường. Những lớp thơ mở ra trong chiều sâu, thông thường là những vấn đề tâm tư v à siêu h́nh. Bóng tối, ánh sáng. Sống, chết. Cô đơn và bất lực nhưng thơ của ông c̣n dàn trải những tâm lư con người trong chi tiết sinh hoạt hàng ngày. Nhất là từ khi bị nhồi máu mạch máu, ông đă viết những bài thơ sâu thẳm trong trước tác For the Living and the Dead.

 

Phác Hoạ từ 1844

Khuôn mặt William Turner sơn thời tiết màu nâu

Dàn giá  vẽ ngoài tầm tay phá hoại

Chúng ta leo dây cáp xuống miền  sâu

 

Ông lặn lội vào ra cơi chết

Chuyến tàu gần đến. Gần hơn.

Mưa, mưa  ướt chúng ta

 

Từ Tháng Ba 1979

Hảy đề pḥng những kẻ nói, chữ, chữ không ngôn ngữ

Tôi t́m vào đảo tuyết hoang

Băng trinh chưa lấm chữ

Những trang giấy trắng mở rộng khắp nơi

Lần theo dấu  hươu chạy

Ngôn ngữ mới không chữ

 

(Đọc Bloodaxe Blogs. http://bloodaxeblogs.blogspot.com/2011/07/tomas-transtromer-at-80.html).

Có thể nói qua bài thơ Tháng Ba 1979, người đọc sẽ nhận ra sự chối bỏ ngôn ngữ hữu dụng hàng ngày của ông. Nhưng quan trọng, không phải là khai trừ mà sinh tạo ngôn ngữ mới. Một ngôn ngữ không có chữ đang hiểu một cách b́nh thường. Điều này là biểu ư của thơ Toma Transtromer.

Điều này càng chứng minh sự cô đơn của người làm thơ chân chính. Đi giữa cuộc đời mà lạc mất người đời. Tomas Transtromer làm thơ rất lâu. Dù giới văn chương ở Thụy Sĩ nói rằng ông đă được đón nhận nhưng có lẽ trong một ṿng tṛn khá giới hạn.  Trên thế giới không mấy ai biết đến Tomas.

Guy Raz  của NPR (National Public Radio) phỏng vấn Alexander Nazaryan (ban biên tập và kiểm chế bài của The New York Time) về giải văn chương Nobel 2011..

Raz: Anh có thứ  lỗi cho tôi nếu tôi nói rằng tôi chưa bao giờ nghe đến tên nhà thơ Tomas Transtromer?

Nazaryan: Dỉ nhiên. Anh không biết ông cũng như đại đa số độc giả Hoa Kỳ và những người đọc khác sinh sống ngoài Thụy Điển.

Raz: Anh muốn nói là độc giả trên thế giới?

Nararyan: Vâng. Mọi người có lẽ đều lên mạng t́m ông ở Wikipedia vào sáng nay...(khi nghe tin ông đoạt giải Nobel văn chương)

..........(cùng cười)......................Và học cách đánh vần tên ông. Đừng nói đến phê b́nh thơ của ông. Rỏ ràng nhiều người không hề biết đến.

 

Tháng Tư và Nỗi Lặng

Mùa  xuân nằm hoang vắng

Con lạch màu xanh đậm

chảy ṿng bên tôi

không phản chiếu

 

Chỉ những hoa vàng

long lanh

 

Tôi mang bóng ḿnh

như mang đàn vỹ cầm

trong hộp đựng ḥm đen

 

Chỉ một điều đáng nói

lấp lánh ngoài giới hạn

màu bạc xám

trên tay chủ cầm đồ

 

(Đọc The Sad Gondola, 1996, Bloodaxe Blogs)

Nhà thơ Hoa Kỳ Robert Bly là một người bạn thân của ông. Đă chuyển dịch nhiều bài thơ của Tomas sang Anh Ngữ. Bài thơ được chú ư nhất trong đợt chuyển dịch là bài The Couple.

Họ tắt đèn tắt luôn bóng sáng

Thoáng chập chờn tan nhanh

như viên thuốc tan trong ly đen đặc. Uống.

Tường pḥng ngủ vươn lên trời đen

Động đậy  t́nh ái xong, họ ngủ

Nhưng những ư nghĩ bí mật t́m nhau

Hai sắc màu trộn lẩn thành một

c̣n ướt trên tranh vẽ học sinh

Đen tối và im lặng. Phố bên nhau kề cận

Với cửa mở thơ. Nhà nhà tiến lại gần

xúm xít chờ đợi

Như  đám đông khuôn mặt lạnh lùng

                           (Đọc The Couple. Bản dịch Robert Bly).

From The Winged Energy of Delight: Selected Translations by Robert Bly, published by Harper Collins. Copyright © 2004 by Robert Bly. Reprinted by permission . All rights reserved

Đài BBC loan tin về ông ngay trong ngày 6 tháng 10, "Những bài thơ bí ẩn, uyên bác và buồn bă". Được dịch ra trên 50 ngôn ngữ thế giới. Hai dịch giả nổi tiếng ở Hoa Kỳ đă dịch thơ Tomas là nhà thơ Robert Bly và nhà thơ Robin Fulton. Ông Fulton nói rằng, Thơ của Tomas Transtromer sẽ được ghi nhận v́ những h́nh tượng sắc xảo chuyển vào thơ dể dàng, nêu lên những ẩn dụ và tạo ra những cảm súc bất ngờ.

 

Người mặc màu đất đứng lên từ rănh nước

Nơi giao lưu, bế tắt, biên giới phố quê

Cần trục đưa cao muốn xúc trời một măng

Đă bị khóa giựt lùi

Ống xi măn răi rời trong nắng lạnh

Tiệm sửa xe choáng cả chuồng  ḅ

Bóng đá ngă xuống như h́nh thù trăng đất

Công trường xây lớn dần

Như đất mua bởi tiền Du-Già bội phản

            (Đọc Outskirts bản dịch Robert Bly)

 

Một đêm tháng Năm lang thang trên biển

theo ánh trăng trong

Cỏ và hoa nhuốm màu xám

nhưng hương màu xanh

 

Chân dạo lên đồi

trong đêm vô sắc

Những tản đá trắng

nhắn nhủ vầng trăng

 

Trong khoảnh khắc ngắn

mà 58 năm dài

 

Sau lưng

Xa hơn dăi nước lunh linh

Một cồn biển khác

ai đă vẽ vời

 

Người sống với tâm mai

thay v́ sĩ diện

(Đọc A Page from the Nightbook bản dịch Michael McGriff)

 

Trích trong The Sorrow Gondola.

..........................................................................

Về 1990.

Trong giấc mơ tôi lái xe hơn trăm dặm ngẩn ngơ

Xung quanh mọi vật to lớn. Chim sẻ bằng gà con

hót tôi nghe trong câm điếc

 

Trong giấc mơ tôi quăng phím đàn dương cầm

lên bàn ăn. Dạo nhạc không âm thanh

Hàng xóm qua thưởng thức

...................................

VIII

Trong giấc mơ, tôi đến trể ngày khai trường

Mọi người trong lớp đeo mặt nạ trắng

Không biết ai là thầy

(Bản dịch Michael McGriff và Mikaela Grassl)

Trong khi đa số thơ thời đại tỏa rộng, thấm sâu vào thời sự, chính trị, chiến tranh, xă hội và một số nhà thơ ngă sang những triết lư hậu hiện sinh, xă nhân sinh... thơ của Tomas Transtromer riêng rẽ đi sâu vào tâm lư.

Ông chọn một thái độ truyền thồng, thể thơ và hành văn thông dụng. Sử dụng nhiều h́nh ảnh thiên nhiên trong thơ đă có một thời vàng son cổ điển. Ông trở lại con đường này dù nhiều nhà thơ trong thế kỷ đă bỏ đi. Những gói ghém trong h́nh tượng, ảnh màu, tứ thơ của ông lại mang ẩn dụ hoặc chuyển tiếp tâm lư của người đang sống. Nói một cách khác, mới nh́n từ bên ngoài, thơ ông b́nh thường nhưng đọc đi đọc lại mới nhận ra ư tứ của tâm sinh lư hiện đại.

Thơ ông dể hiểu mà khó thẩm thấu. Ngoài sức nặng của tâm lư chung của ḍng thơ và tâm lư riêng của mỗi bài thơ, Tomas c̣n nhạy cảm bằng trực giác của thiền. Những khoảng trống giữa chữ, giữa câu để ngộ tính cảm nhận và những đột biến của tứ thơ thường thấy trong thơ của Tomas, đă từng thấy trong thơ Hài Cú. Nghệ thuật thơ của Tomas gồm sự ḥa nhập của Tây và Đông, tâm lư và tâm thiền.

 

Ngu Yên

 

http://www.gio-o.com/NguYen.html

 

© gio-o.com 2011