NGU YÊN 

Thơ Thế Giới Hiện Tại

kỳ ba:  

Wislawa Szymborska

( 1923- 2012 )

Nobel Thi Ca 1996

35 bài thơ

và thử nghiệm chuyển ảnh trong thơ

(Bài viết sau những bài thơ của Szymborska)

 

chuyển thơ

 

 

 

 

 

 

1.     Tiểu Sử.

 

Maria Wislawa Anna Szymborska là thi sĩ kiêm phê b́nh, dịch thuật đă lănh giải nobel thi ca năm 1996. Bà được mệnh danh là "Mozart trong Thi Ca". Sách và thơ của bà được dịch ra nhiều ngôn ngữ và phát hành nhiều nơi trên thế giới, nhất là sau khi bà nhận giải Nobel văn chương.

 

Khi lănh giải Nobel thi ca, nhà phê b́nh ca ngợi thơ bà mang tính châm biếm độc đáo. Có nội dung mang dữ kiện lịch sử vào đời sống hàng ngày với một nhân sinh quang khôi hài. Qua những sinh vật và biểu tượng nói lên hiện thực thường ngày của nhân loại. 

 

Sinh ngày 2 tháng 7 năm 1923 tại Prowent, Ba lan. Bố của bà là một nhà ái quốc có tên tuổi đương thời. Sau khi bố bà qua đời, gia đ́nh dọn về Torún và 1931, dọn về Kraków. bà cư ngụ tại đây cho đến ngày cuối cùng.

 

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ 1939, bà vẫn theo học những lớp học chui. Năm 1945, bà bắt đầu học về văn chương Ba Lan rồi chuyển sang xă hội học tại đại học Jagiellonian. Bà gặp gỡ và bị ảnh hưởng bởi thi sĩ Czeslaw Milosz, người đoạt giải Nobel thi ca năm 1980.

 

Tháng Ba năm 1945, bài thơ đầu tay của bà, Szukam Slowa, T́m Kiếm Chữ Nghĩa, xuất hiện trên văn đàn. 1948, bà bỏ học v́ tài chánh khó khăn. Lấy chồng, thi sĩ Adam Wlodek và ly dị năm 1954.

 

Bà tham gia nhiều hoạt động chính trị, nghiêng về phía xă hội chủ nghĩa. Măi đến 1964, bà bắt đầu chống lại chủ thuyết và chính quyền Cộng Sản, bà đề cao và đ̣i hỏi quyền tự do phát biểu và phàn kháng.

 

Bà làm việc trong ban chủ bút của tạp chí văn hóa hàng tuần Zycie Literackie từ 1953 đến 1981. Phát hành khoảng 20 tác phẩm thơ.

 

Bà qua đời ngày 1 tháng Hai năm 2012 tại tư gia ở Kraków, thọ 88 tuổi. bà ra đi trong giấc ngủ một cách an b́nh.

 

Bà tiếp tục làm thơ cho đến cuối đời. Bài thơ cuối cùng được đăng tải trong năm 2012.

 

Cuốn thơ cuối cùng của bà sẽ ấn hành vào tháng Tư, năm 2015: Map: Collected and Last Poems.

 

2. Thơ.

 

Vào thế kỷ 20, thi ca thế giới mở rộng và đi sâu vào nhiều góc cạnh của đời sống, tâm lư, vô thức, ư thức và sáng tạo nhiều kỷ thuật diễn đạt và tŕnh bày thơ.

Wislawa Szymborska đă chọn cho ḿnh con đường thi ca, không phải riêng rẻ, chỉ vượt trội hơn sáng tác đương thời về những phương diện:

- Hài hước

- Đơn giản

- Thao thức

Szymborska thường xuyên sử dụng sự thành thật tự trọng trong văn chương văn học để sáng tác. Những  mỉa mai, nghịch lư, mâu thuẫn và cách diễn tả được bà tŕnh bày đơn giản dù những chủ đề  rất triết học và đầy những ám ảnh. Thơ bà trải rộng từ xă hội, chính trị cho đến tâm lư tâm linh. Cũng như những thi sĩ lớn đương đại, cần phải lưu tâm đến bản chất mơ hồ, âm u trong thơ của bà.

Bà chỉ cho ra đời vào khoảng trên dưới 250 bài thơ. hầu như bài nào cũng nhận được sự ái mộ và ca ngợi của giới thưởng ngoạn. Khi được báo chí và nhà phê b́nh đặt câu hỏi về số lượng ít ỏi của thơ, bà trả lời: "Tôi có một thùng rác trong nhà của tôi".

 

·        Hài hước:

 

1966, trong một cuộc phỏng vấn, bà đă cho biết, bà làm thơ từ lúc nhỏ. Bà viết những bài thơ ngắn và nếu bố bà thích bài thơ nào, bà sẽ đ̣i ít tiền. Bà nói rằng để lấy được tiền của bố, thơ của bà phải dí dỏm, không có nhiều lời trữ t́nh. Chính bà, từ trẻ đă thích những câu chuyện khôi hài.

Sự khôi hài của bà có mực thước. Người đọc không t́m ra ư tứ bật tiếng cười lớn, chỉ là nụ cười thú vị và ngầm đồng thuận những cay đắng phi lư trong cơi nhân sinh. Đặc biệt, có khi là nụ cười châm biếm, chê trách nhưng không có ḷng giận dữ hoặc oán hận. Thông thường là những nụ cười hết sức băn khoăn.

"....Có lẽ, chỉ có hai người trong một ngàn người

Thích thơ

như họ thích phở gà

thích lời khen, thích màu xanh

thích khăn quàng quen thuộc

thích lối sống cá nhân

thích vuốt ve chó.

 

Thơ

nhưng thơ là ǵ?

......

Tôi không biết, nhưng bám lấy thơ

như vịn lan can cầu thang, đứng vững."

 

( Niektorzy lubia poezje. Ít người thích thơ.)

 

·        Đơn giản:

 

Về h́nh thức, bà chú trọng về sự linh hoạt của ngôn ngữ để diễn tả những khám phá khác thường, được quan sát bởi quan điểm lạ thường, trong đời sống hàng ngày.

Bà không chuộng sự cầu kỳ, bóng bẩy và phức tạp hóa ư tứ thơ. bà ít khi tạo chữ mới. Chú tâm về ư nghĩa liên tưởng và biểu tượng.

"... Kỳ thi về lịch sử nhân loại

Tôi ấp úng trả bài lanh quanh.

Một con khỉ lắng nghe, nh́n tôi chế giễu

Con kia thái độ lơ là

nhưng khi tôi không biết trả lời câu hỏi

khi nhắc nhở bằng cách dịu dàng

rung dây xích. "

 

( Dwie Malpy Bruegla.)

 

Con khỉ của Darwin và lịch sử nhân loại; con khỉ bị xiềng xích; Con khỉ rung dây xích nhắc nhở câu trả lời ; những móc nối giữa các h́nh ảnh tạo ra sự nhột nhạt của kiến thức con người về chính thân phận của ḿnh.

Trong bài thơ "Việt Nam", bà đơn giản hóa mọi chuyện, chỉ dùng câu đối thoại.

Bà mẹ Việt Nam, hỏi điều ǵ cũng trả lời: Không biết. Kể cả sinh mệnh cá nhân, làng xóm, quốc gia. Nhưng khi hỏi đến những đứa con của mẹ:

 

" Chúng có phải là con của bà không?"

" Vâng."

Một bài thơ ngắn đă đủ nói lên cá tính của mẹ Việt nam. Bà cho rằng người mẹ Việt Nam hy sinh cả cuộc đời miễn là bảo vệ được con ḿnh.

Đôi khi, đọc thơ bà, cảm thấy khó hiểu, nếu không đứng xa ra để nh́n trọn vẹn một cảnh lớn hoặc không liên kết với một diễn biến trong lịch sử hoặc trong huyền tích. Như bài thơ "Tháp Babel".

Sự cực đoan và thiển cận của người xây tháp Babel với ư định chọc trời, gây ra hỗn loạn ngôn ngữ, không c̣n hiểu nhau. Đưa vào chuyện t́nh của Tháp Babel, Na Wieezy Babel, khiến đối thoại giữa hai người yêu nhau trở thành khó hiểu. Họ nói cùng ngôn ngữ mà không thật sự đối thoại. Có mấy kẻ yêu nhau lại hiểu nhau rơ ràng? Bài "Đám Tang", những câu nói chuyện tṛ thường khi gặp nhau ở đám tang, được bà sử dụng "mơ hồ", không rơ ai nói với ai hoặc nói về điều ǵ. Những câu đối đáp có khi ngoài miệng, có khi trong ḷng, khiến cho nội dung trở thành phức tạp, nói lên sự nhiêu khê của xă hội loài người..

 

Bà cố ư dùng sự đơn giản của ngôn ngữ và thể thơ để độc giả có thể t́m sâu, khám phá những tư duy và ư niệm bên trong h́nh thức. Có thể dùng hai câu thơ trong bài "Pod Jedna gwiadka, Dưới một ngôi sao nhỏ," để tóm lược phương pháp diễn đạt của bà: "...Tôi mượn chữ nghĩa nặng kư, rồi khổ công tái tạo để chúng được nhẹ nhàng hơn.."

 

·        Thao Thức.

 

Không có một nghệ sĩ nào thành danh trên thế giới mà không thể hiện nội lực qua bản lănh thao thức về nhân sinh. Wislawa Szynborska cũng không ngoại lệ. Những điều bà thao thức bao gồm từ những chuyện trọng đại của linh hồn qua đến những chi tiết linh tinh trong xă hội hoặc những suy tư thầm kín của tâm lư. Những việc đó không có ǵ lạ. Có lẽ, ai hay nghĩ ngợi, sẽ có cùng chủ đề. Khác nhau ở chỗ: cách diễn đạt câu trả lời hoặc diễn đạt câu không trả lời, không phải là bản thân của câu trả lời. 

Kinh nghiệm sống từng trải qua chiến tranh thứ hai, và quan điểm riêng của cá nhân, bà đă tŕnh những thao thức cá biệt vào ḍng khắc khoải chung.

 

" Phản kháng chống lại nợ

ta gọi là linh hồn

Đó là điều duy nhất

không có trong danh sách cho vay."

 

( Nic Darowane. Chẳng có ǵ tặng không.)

 

" Khi tôi phát âm chữ ' Tương Lai ' 

âm vần đầu tiên đă trở thành quá khứ."

 

( Try slowa najdziwniejsze. Ba chữ huyền hoặc nhất.)

Nhất là trong bài thơ" Spis", Danh Sách, những câu hỏi không cần trả lời, những câu hỏi không thể trả lời, những câu hỏi không đủ thời giờ để trả lời, nhưng sâu đắc nhất: câu hỏi bản chất tự nó là câu hỏi. Đặt câu hỏi về một điều ǵ không biết, tức là hỏi về một cái hỏi. Thao thức này dẫn đến thao thức kia. Thắc mắc này dẫn tiến thắc mắc khác. Câu hỏi liên tu, liên hoàn, chính là vấn mệnh của con người, từ việc nhỏ nhặt cho đến chuyện đời sau.

 

" Một số câu hỏi nào đó

tôi ghi vội trước khi đi ngủ

Khi thức dậy

không thể nào đọc được

Đôi khi tôi nghi ngờ

đây là loại mật mă

nhưng ư nghĩ này cũng là câu hỏi

một ngày nào sẽ ruồng bỏ tôi."

 

·        Mật độ ư tứ thơ.

 

Đặc điểm nổi bật trong thơ của Szymborska là sự dày đặc của h́nh ảnh, tứ thơ, tiểu ư trong câu thơ và trong bài thơ. Có lẽ, cũng như đa số thi sĩ thành danh, những bài thơ buổi đầu thường đơn giản, sinh động, tỏ lộ tài hoa. Thơ theo người, người già dần với tư duy và kinh nghiệm sống, thơ phức tạp và đặc quẹo hơn. Không phải là cô đọng, mà mật độ ư tứ chật hơn trong cùng một câu thơ và bài thơ. Như cà phê, có loăng có đậm đặc, chứa trong cùng một tách uống. Trong những bài thơ chắt lọc, bà đă cho thấy những thực tế của cuộc sống phi lư hàng ngày và sự chấp nhận, đầu hàng vô ư thức của con người như trong bài Quyền Chọn Lựa, Mozliwosci;  Nỗi Thầm Lặng Của Cây, Milczenieroslin; Lời Cảm Tạ Ngắn, Podziekowanie......

Dĩ nhiên như quí vị đă biết, uống một tách cà phê nhạt loăng và một tách cà phê keo đậm, thật là khác nhau.

 

Ngoài ra, một góc nh́n khác về Wislawa Szymborska để thấy được con người toàn diện của bà. Một nghệ sĩ tài hoa thường tài hoa về nhiều mặt.

 

Nghệ Sĩ Bưu Thiếp.

 

Bà yêu chuộng những bưu thiếp đẹp. Sưu tầm và dành dụm những bưu thiếp này để gửi cho bạn bè. Nhưng rồi, bưu thiếp có sẵn không thỏa măn những điều bà t́m đến. Từ đó, bà tự làm những bưu thiếp bằng cách cắt dán những h́nh nghệ thuật khác nhau. Những bưu thiếp này, dùng gửi cho bằng hữu. Sáng tác bưu thiếp kéo dài 40 năm. Mỗi năm vào đầu tháng 11, bà để bảng trước nhà: "Xin đừng ghé thăm tôi trong vài ngày, bởi v́ tôi đang làm nghệ sĩ". Bà dùng thời gian này để làm những bưu thiếp dùng vào dịp lễ lạc. Nhà đạo diễn Woody Allen khi nhận được bưu thiếp của bà đă phát biểu:"món quà này có ư nghĩa đối với tôi hơn những tượng vàng (Oscar) ở Hollywood".

Nhiều nơi trên thế giới đă tổ chức triển lăm bưu thiếp của bà, một sự sáng tạo được hâm mộ.

 

Có thể kết luận rằng, chính cách diễn đạt độc đáo và đặc thù về chiều sâu trong thơ đă làm bà nổi bật lên khỏi những thi sĩ hàng đầu của thế giới đương thời. Cách sử dụng tứ thơ,h́nh ảnh, diễn đạt tượng trưng nhưng gắn bó và dễ hiểu với những bi hài hiện thực, khiến cho thơ bà vượt lên châm biếm và chế diễu truyền thống đă quen thuộc, để người đọc cảm được ḷng quan tâm của một thi sĩ chân thật cùng đời sống. Không có một nghệ sĩ lớn nào mà không có ḷng quan tâm đến con người, thế hệ tương lai và nghệ thuật mai sau.

 

" Uśmiechnięci, współobjęci

spróbujemy szukać zgody,

choć różnimy się od siebie

jak dwie krople czystej wody."

......

" Bằng nụ cười, bằng tay ôm

cố t́m ra thỏa thuận

cho dù chúng ta khác nhau

như hai giọt nước trong."

 

GHI:

Những bài thơ chuyển dịch bên dưới, ngoài nguyên bản, các bản dịch Anh ngữ t́m thấy trên mạng lưới và trong các sách:

- Poems, New and Collected 1957- 1997. Wislawa Szymborska. A Harvest Book, Harcourt, Inc.

-Here. Wislawa Szymborska. Edition 2012. Mainer Books.

- Monologue Of A Dog. Wislawa Szymborska. Harcourt, Inc.

- View With A Grain Of Sand. Wislawa Szymborska. A Harvest Original, Harcourt Brace & Company.

 

 

 

1. Ít Người Thích Thơ

     Niektorzy lubią poezje

      Some People Like Poetry

 

Ít người

không phải tất cả.

Đừng kể đám đông, chỉ số ít.

Đừng kể học đường, nơi học tṛ phải học thơ

đừng kể thi sĩ,

có lẽ, trong một ngàn người, chỉ được hai người.

 

Thích thơ

như họ thích phở gà,

như thích lời khen và thích màu xanh,

như thích khăn quàng quen thuộc,

như thích lối sống cá nhân

như thích vuốt ve chó.

 

Thơ

nhưng thơ là ǵ?

Nhiều câu trả lời hời hợt

không thỏa măn câu hỏi.

Tôi cũng không biết, nhưng bám lấy thơ

như vịn lan can cầu thang, đứng vững .

 

 

2. Tóm Lược Về Linh Hồn

     Dusza

    A Little on the Soul

    A Few Words On The Soul

 

Đôi khi con người có linh hồn.

Không ai có hồn liên tục và măi măi.

 

Ngày này qua ngày kia

năm này qua năm khác

có khi sống không hồn.

 

Đôi khi

hồn tạm trú

lúc sợ hăi khi sung sướng thời ấu thơ.

Đôi khi chỉ trong lúc bất ngờ

chợt nhận ra tuổi già hiện diện.

 

Hồn ít khi hỗ trợ

những việc làm mất công,

như di chuyển đồ đạc,

khuân vát hành lư,

hoặc mang giày chật đi đường xa.

 

Thông thường hồn lẩn tránh

khi thịt da bị cắt chia

khi bị điều tra khai báo. *

 

Trong ngàn lúc tṛ chuyện

hồn tham gia một lần,

không nhất thiết v́ tôi,

hồn thích im lặng.

 

Khi thân thể bắt đầu bệnh tật đau đớn

hồn bỏ trách nhiệm thoát ly.

 

Hồn rất khó tính:

miễn cưỡng nh́n chúng ta vào đời,

tranh giành quyền lợi

những mưu đồ náo động khiến hồn chán ghét.

 

Sướng vui và buồn bă

chẳng phải hai cảm súc khác nhau.

Chỉ hiện diện trong  ta

khi cả hai thành một.

 

Nên tin cậy linh hồn

khi không có ǵ chắc chắn

khi đang thao thức mọi sự trước sau.

 

Giữa đời sống vật chất

hồn chuộng đồng hồ quả lắc gơ chuông

và gương soi, chúng luôn luôn sinh động

ngay cả khi không có ai nh́n.

 

Hồn không giải thích từ đâu đến

hoặc khi nào ra đi,

dù biết chắc bị chất vấn.

 

Có vẻ như

chúng ta cần linh hồn,

như hồn cũng cần chúng ta

v́ lư do nào đó.

 

* Đoạn 3 câu này, không chắc hiểu được ư tác giả :

Przy wypełnianiu ankiet

i siekaniu mięsa

z reguły ma wychodne.

 

 

3. Sau Kết Cuộc Là Khởi Đầu

     Koniec i poczatek

     The End and the Beginning

 

Sau mỗi khi chiến tranh

cần có người thu dọn.

 

Cho cùng, công việc này

không tự nhiên tự động thực hiện.

 

Ai đó phải cào đống đổ nát

đẩy chất hai bên đường,

cho xe chở đầy xác

có thể băng qua.

 

Ai đó phải lặn lội

trong bùn lầy, bụi tro,

trong ghế dài hư hỏng, (*)

trong mảnh vụn thủy tinh,

trong giẻ rách đẫm máu.

 

Ai đó phải nâng cao đà ngang

rồi dựng lại vách tường.

Ai đó phải sửa mới cửa sổ

rồi gắn lại cửa nhà.

 

Việc này không ăn ảnh

cần thời gian nhiều năm.

Tất cả máy ảnh truyền thông (**)

bỏ theo chiến tranh khác.

 

Cần xây lại nhiều cầu,

xây ga xe lửa mới.

Tay áo sẽ xăng lên

xăng nhiều rách tơi tả

 

Ai đó, sắp quét dọn, (***)

vẫn nhớ chuyện ngày xưa.

Ai khác đang lắng nghe

gật đầu tán đồng không chia rẽ.

Nhưng có những kẻ cạnh bên

bắt đầu chuyển đề tài

họ cho rằng chuyện này nhàm chán.

 

Thậm chí c̣n có người

đào dưới gốc bụi cây

những tranh căi rỉ sét

chỉ đổ rác mà thôi.

 

Những người hiểu biết

chuyện ǵ đă xảy ra

phải nhường bước

cho những người ít biết.

Rồi cho những người ít biết hơn.

Và sau cùng cho những người không biết ǵ cả.

 

Trong cỏ mọc khuất che

nguyên nhân và hậu quả

ai đó phải nằm dài

miệng ngậm lá cỏ

trân tráo nh́n trời mây.

 

(*) Ghế hư bật ḷi ḷ xo.

(** )Đoạn này nói về báo chí truyền thông.

(***) Tay cầm chổi = chuẩn bị quét dọn

 

 

4. Nỗi Thầm Lặng Của Cây

     Milczenieroslin ( Milczenie Roselin )

     The Silence of Plants

 

Liên hệ đơn phương giữa chúng ta

phát triển tốt đẹp.

 

Tôi biết từng lá mọc, từng cánh hoa, từng hạt nhỏ, từng nụ non và từng thân mỏng,

Tôi c̣n biết tương lai của bạn trong tháng Tư và tháng Mười Hai.

 

Dù ḷng hiếu kỳ không được đáp trả

Tôi vẫn cúi đầu ngắm vài cây thấp

và ngẩn cổ lên thưởng ngoạn cây cao.

 

Tôi biết tên bạn:

Mộc Phong, Ngưu Bàng, Rêu Tản,

Thạch Nam, Bách Xù, Tầm Gửi và Đừng-Quên-Tôi

nhưng tên tôi, các bạn không biết.

 

Chung qui, trong cùng một hành tŕnh

đi với nhau, tṛ chuyện b́nh thường,

trao đổi nhận xét, bàn luận thời tiết,

hoặc về các trạm nghỉ trên đường.

 

Không cạn đề tài, thiếu ǵ gắn bó

Cùng một số phần gần gũi bên nhau

Bóng đôi ta đổ chung một hướng

T́m hiểu nhau, cố gắng cách riêng

Kể cả những điều không biết,

vẫn có cảm ư tương thông.

 

Chỉ cần hỏi, tôi sẽ giải thích hết ḷng:

đôi mắt tôi trông thấy những ǵ,

v́ sao trái tim tôi đập nhịp,

v́ sao xác thân không mọc rễ bám sâu.

 

Nhưng làm sao trả lời

khi không được hỏi

và ngoài ra

nếu người nào trả lời

có phải đối với bạn, cũng như không?

 

Mọc lúp xúp, bụi rậm, lùm cây,

băi cỏ, lau sậy...

nói với bạn trước sau chỉ độc thoại đơn phương,

bạn không nghe được.

 

Nhưng tṛ chuyện với bạn rất cần thiết

không thể không xảy ra

trong cuộc sống khẩn trương vội vă

đừng khi nào lần lựa hẹn mai sau.

 

 

5. Quyền Lựa Chọn

     Mozliwosci

     Possibilities

 

Tôi thích phim ảnh.

Tôi thích mèo.

Tôi thích dăy sồi dọc theo Warta.

Tôi thích Dickens hơn Dostoyevsky.

Tôi thích bản thân biết thương người

hơn biết yêu nhân loại.

Tôi thích có sẵn cây kim sợi chỉ khi cần dùng.

Tôi thích màu xanh lá cây.

Tôi thích không xác nhận

trí năng gánh trách nhiệm cho tất cả.

Tôi thích trường hợp ngoại lệ.

Tôi thích ra đi sớm.

Tôi thích tṛ chuyện với bác sĩ về đề tài khác

Tôi thích h́nh minh họa đẹp cũ kỹ.

Tôi thích làm thơ châm biếm

hơn giữ ḷng chế diễu không  viết bài thơ.

Tôi thích kỷ niệm hôn nhân nhắc nhớ t́nh yêu

được  ăn mừng mỗi ngày.

Tôi thích người đạo đức,

người không hứa với tôi bất cứ điều ǵ.

Tôi thích sự tử tế tính toán hơn tin cậy khờ khạo.

Tôi thích địa cầu thuộc về dân sự.

Tôi thích đất nước bị xâm chiếm hơn đi xâm chiếm đất nước khác.

Tôi thích quyền phản đối.

Tôi thích hỏa ngục hỗn loạn hơn hỏa ngục trật tự.

Tôi thích truyện cổ tích của Grimm hơn tin trên báo trang đầu.

Tôi thích lá không có hoa hơn hoa không lá.

Tôi thích những con chó không bị cắt đuôi.

Tôi thích mắt màu lợt, v́ mắt tôi màu đậm.

Tôi thích các hộc tủ.

Tôi thích nhiều điều không đề cập ở đây,

hơn những ǵ tôi chưa nói.

Tôi thích nhiều số "không" vô trật tự,

hơn những số sắp hàng thành con số.

Tôi thích thời giờ làm côn trùng hơn thời giờ làm ngôi sao.

Tôi thích ' cầu mong may mắn ' *

Tôi thích không phải hỏi bao giờ và bao lâu.

Tôi thích xem xét ngay cả quyền chọn lựa

sự sinh tồn có lư do riêng.

 

* Knock on wood: thành ngữ. 

 

 

6. Mây

Chmury

Clouds

 

Để diễn tả đám mây

cần phải rất vội vă -

chỉ v́ trong khoảnh khắc

mây thay dạng đổi h́nh.

 

Đặc tính của mây:

không bao giờ lập lại:

h́nh dạng, màu sắc, tư thế và diễn biến.

 

Không cưu mang trí nhớ nặng nề

mây trôi nổi dễ dàng trên thực tại.

 

Nh́n mặt đất, phải làm chứng điều ǵ?

khi chuyện xảy ra mây vội tan bốn hướng.

 

So với mây

đời sống dường như cố hữu

hầu như thường trực, hầu như muôn đời.

 

Gần gũi với mây

viên đá giống như anh em

có thể tin tưởng

thật ra họ cách xa, như bà con hời hợt  .

 

Hăy để mọi người sinh tồn nếu họ muốn,

rồi chết, hết người này đến người kia:

Mây vô tư không để ư

những ǵ xảy ra

dưới đó.

 

Cả đời sống của bạn

và tôi, vẫn chưa đủ

cho mây kiêu sa lướt qua.

 

Mây không phải tan biến khi chúng ta chết.

Mây không cần ai nh́n, vẫn nổi trôi

 

 

7. Việt Nam

 

- " Này bà, bà tên ǵ?"

- " Không biết."

- " Bà mấy tuổi? Bà đến từ nơi nào?"

- "Không biết."

- "Tại sao bà đào cái hầm này?"

- "Không biết."

- " Bà núp dưới đây bao lâu?"

- "Không biết."

- " Tại sao bà cắn tay tôi?"

- " Không biết."

- " Có hiểu chúng tôi không làm hại bà không?" - - -- "Không biết."

- " Bà ở phe nào?"

- "Không biết."

- " Trong chiến tranh, bà phải chọn lựa."

- "Không biết"

- " Làng xóm của bà c̣n hay không?"

- "Không biết."

- "Chúng có phải là con của bà?"

 - "Vâng."

 

 

8. Nh́n Thấu Ruột Gan Thế Giới

      Świat umieliśmy kiedyś…

     We Knew the World Backwards and 

      Forwards

 

Nh́n thấu hết ruột gan thế giới:

Thu gọn chỉ trong một bắt tay,

Diễn xuất dễ dàng qua nụ cười,

Tầm thường như kinh nguyện,

lập lại ḷng thật thà cố hữu. *

 

Lịch sử không hoan hô những chiến thắng phô trương:

- chỉ tung cát bẩn mù vào mắt.

Đường trước mặt dẫn về nơi vô định,

nước giếng nhiễm trùng, bánh ăn mốc meo.

 

Quyền lợi chiến tranh trở thành kiến thức thế giới:

- rất lớn, làm sao vừa một bắt tay,

rất khó, làm sao nụ cười diễn xuất,

rất lạ lùng, như lời kinh lập lại ḷng thật thà. *

 

(*) Câu này chuyển dịch xa nguyên bản.

 

 

9. Một Nhóm Người

     Jacys Ludzie

     Some People

 

Một nhóm người chạy trốn nhóm người khác.

Từ vài quốc gia dưới ánh mặt trời

và dưới những đám mây.

 

Họ bỏ lại sau lưng tất cả

đồng ruộng, bầy chó, đàn gà,

gương soi, hiện đang lửa cháy.

 

Lưng mang bao gói và b́nh bầu,

càng rỗng dần mỗi ngày càng thêm nặng.

 

Trong lặng lẽ: có người kiệt sức ngă lăn,

trong hỗn loạn: bánh ḿ ai bị cướp giật,

và đứa trẻ chết v́ có kẻ bạo hành. (*)

 

Trước mặt họ luôn luôn có đường đi sai lạc,

có cầu dẫn sai lầm

qua ḍng sông lạ kỳ nước đỏ.

Bốn bề, súng bắn, có lúc gần kề, có lúc xa xôi

trên không trung máy bay đảo lộn.

 

Tàng h́nh được th́ hay biết mấy

hoặc hóa thành tảng đá xám tro

nhưng tốt hơn, đừng xuất hiện

trong một lúc hoặc một thời gian dài.

 

Chuyện ǵ khác rồi sẽ xảy ra, chỉ chưa biết ở đâu và chuyện ǵ?

Người nào đó sẽ đối đầu với họ, chỉ chưa biết ai và khi nào?

có bao nhiêu sắp đặt và bao nhiêu mưu tính?

Nếu phải chọn lựa

có lẽ sẽ chọn không làm kẻ thù

và cho họ vài con đường sống sót.

 

(*) Hai bản Anh ngữ khác nhau:

- someone tries to shake a limp child back to life.

- and a dead child somebody's shaking.

Câu thứ hai gần với bản chính:

i czyjeś martwym dzieckiem potrząsanie.

 

 

10. Bốn Giờ Sáng

       Czwarta nad ranem

       Four in the Morning

 

Giờ này từ đêm sang ngày

Giờ này từ bên này sang bên kia

Giờ này cho những người quá ba mươi tuổi.

 

Giờ này sẵn sàng cho gà gáy.

Giờ này trái đất trở mặt với ta. (*)

Giờ này gió thổi từ những ngôi sao tắt lịm.

Giờ này nếu chúng ta biến mất, sẽ vô tăm tích

 

Giờ trống vắng

im ắng, phù phiếm

giờ tận cùng dưới hai mươi bốn giờ

 

Khó có ai thấy vui lúc 4 giờ sáng

nếu đàn kiến thấy vui giờ này

chúc mừng con kiến. Rồi chờ đến 5 giờ

nếu chúng ta c̣n sống

 

(*) hai câu Anh ngữ dịch khác nhau:

 - The hour when the earth takes back its warm embrace.

  - The hour when earth betrays us.

Câu dưới gần gũi với bản chính hơn.

- Godzina, kiedy ziemia zapiera nas.

 

 

11. Hai Con Khỉ Của Brueghel

        Dwie Malpy Bruegla

        Two Monkeys by Brueghel

        Brueghel's Two Monkeys

 

Tôi mơ thấy trong kỳ thi ra trường:

trên thành cửa sổ hai con khỉ ngồi đeo xích

sau lưng chúng bên ngoài trời xanh đẹp ngất ngây

và biển nhấp nhô như khỉ đang tắm.

 

Kỳ thi về lịch sử nhân loại.

Tôi ấp úng trả bài lanh quanh.

 

Một con khỉ lắng nghe nh́n tôi chế giễu

Con kia thái độ lơ là -

nhưng khi tôi không biết trả lời câu hỏi

khỉ nhắc nhở bằng cách dịu dàng

rung dây xích.

 

 

12. Tháp Babel

        Na wieezy Babel

        The Tower of Babel

 

"Mấy giờ rồi?"

 

"Dạ vâng, em  rất vui vẻ; chỉ thiếu một chiếc chuông trên cổ để rung lên khi anh đi ngủ."

 

"Em có biết trời sắp băo không? Gió thổi tường rung rinh; tháp gầm lên như sư tử, cánh cổng lay động bản lề kêu cót két."

 

"Làm sao anh có thể quên? Em  đang mặc áo đầm xám trơn, cài dây trên vai."

 

"Ngay lúc đó, vô số tiếng nổ rúng động trời đất"

 

"Làm thế nào, em vào được không? Rốt cuộc, anh không ở một ḿnh."

 

" Bất ngờ anh thấy được  màu sắc trước khi có thị giác."

 

"Tiếc quá, anh không thể hứa với em."

 

" Em nói đúng, đó là một giấc mơ."

 

" Tại sao anh nói dối, tại sao gọi em bằng tên cô ấy, anh vẫn c̣n yêu cô?"

 

" Dĩ nhiên, anh muốn em ở lại."

 

" Em không nên trách móc. Đáng lẽ em phải tự đoán ra."

 

" Em vẫn c̣n nhớ anh ấy?"

 

" Nhưng em không đến nổi khóc."

 

" Chỉ vậy thôi sao?"

 

" Không có ai ngoài trừ anh."

 

" Ít nhất, em đă thành thật."

 

" Đừng nghĩ ngợi, em sẽ rời thành phố."

 

" Đừng quá lo, anh sẽ đi."

 

" Anh có bàn tay thật đẹp."

 

" Chuyện xưa rồi, may mà lưỡi dao cắt qua không trúng xương."

 

" Đừng bận ḷng, anh yêu, đừng để ư."

 

"Anh không biết, không quan tâm lắm, bây giờ là mấy giờ."

 

GHI: Bài này có nhiều đoạn dịch khác nhau trong Anh ngữ. Xin chiếu theo bản chính.

 

 

13. Chẳng Có Ǵ Tặng Không

         Nic Darowane 

         Nothing's a Gift

 

Chẳng có ǵ là quà tặng. Tất cả đều vay mượn.

Tôi ngập nợ đến mang tai.

Bắt buộc phải

tự ḿnh trả lại,

từ bỏ đời tôi cho tôi được sống.

 

Sự việc sắp xếp thế này:

Trái tim cần phải trả lại

lá gan cũng vậy,

và từng ngón chân, ngón tay.

 

Quá muộn để hủy bỏ giao ước,

Món nợ sẽ phải trả,

Tôi sẽ bị bốc lột,

chính xác hơn, bị lột da.

 

Tôi lang thang khắp nơi

giữa đám đông những con nợ

một số người vát nặng gánh oằn vai

trả nợ ngóc đầu lên không nổi (*)

Một số khác dù muốn hay không

bị tính sổ cho từng giấy nợ  .

 

Nợ đ̣i áp lực nặng nề

lên từng sớ gân sợi thịt trong ta

Không lông mao nào, không cuốn lá nào

giữ được măi măi.

 

Kiểm kê nợ, vô cùng tỉ mỉ,

hàm ư chúng ta sẽ chẳng c̣n ǵ

ngoài hai bàn tay trắng.

 

Tôi không thể nhớ

ở đâu, khi nào, tại sao

Tôi lại đồng ư cho kẻ khác

mở tài khoản nợ dưới tên tôi.

 

Phản kháng chống lại nợ

ta gọi là linh hồn.

Đó là điều duy nhất

không có trong danh sách cho vay.

 

GHI:

(*) Off the wing >< On the wing

 

 

14. Lời Cảm Tạ Ngắn

        Podziekowanie

        Thank You Note

 

Tôi nợ những người tôi không thương mến

rất nhiều.

 

Bù lại, biết được

những kẻ khác cần họ nhiều hơn

khiến tôi nhẹ nhơm.

 

Tôi vui mừng v́ không phải chó sói

trong đàn cừu của họ.

 

Với họ, tôi cảm thấy b́nh an

với họ, tôi hưởng được  tự do-

và điều này, t́nh không thể ban phát

hoặc tước đoạt.

 

Tôi không cần chờ  họ

tựa cửa sổ trông cửa lớn.

Gần giống như bệnh nhân

chờ đồng hồ mặt trời.

Tôi hiểu

những khuyết điểm của t́nh

và tha thứ

những ǵ yêu không bao giờ tha thứ.

 

Từ lúc gặp gỡ đến khi viết thư

không phải sẽ miên viễn,

chỉ vài ngày hoặc đôi tuần mà thôi.

 

Đi chơi với họ luôn luôn thoải mái,

nghe ḥa nhạc,

thăm viếng nhà thờ,

ngắm phong cảnh đẹp.

 

Khi chúng tôi chia cách

xa bảy núi trăm sông,

đây những sông những núi

có tên trên bản đồ.

 

Ơn nghĩa của họ,

cho tôi sống không gian ba chiều,

một không gian không trữ t́nh, không hoa mỹ

nhưng thực tế, dưới chân trời luân lưu

 

Họ không biết

hai tay trắng mang được bao nhiêu.

"Tôi không nợ họ ǵ cả"

t́nh  sẽ trả lời

câu hỏi để trống này."

 

 

15. Quảng Cáo

        Prospekt

        Advertisement

        The brochure

 

Tôi là viên thuốc an thần,

có hiệu quả ở nhà,

có hiệu lực ở văn pḥng,

có thể giúp thi cử,

hoặc giúp làm nhân chứng trước ṭa,

tôi cẩn thận khi dán lại ly bể,

chỉ cần bạn chịu uống ,

tôi sẽ chảy tan dưới lưỡi,

dễ nuốt xuống

với nước.

 

Tôi  biết đối phó với rủi ro,

xoay sở khi gặp khốn khó,

xoa dịu những bất công,

thắp sáng khi Thượng Đế đi vắng.

hoặc chọn chiếc mũ tang phù hợp khuôn mặt bạn.*

C̣n chần chờ ǵ -

hăy tin vào phản ứng hóa chất thiện tâm.

 

Bạn  vẫn c̣n trẻ (nam/nữ)

nên sắp xếp cách nào. **

Ai nói

chấp nhận đời sống cần ḷng can đảm?

 

Hăy cho tôi thời gian trống trải của bạn.

Tôi sẽ lót nó vào giấc ngủ.

Bạn sẽ nhớ ơn tôi

đă giúp bạn thành công. ***

 

Bán cho tôi linh hồn của bạn.

Sẽ không c̣n ai tranh giành.

 

Sẽ không c̣n ma quỉ nào t́m đến.

 

GHI:

(*) Hai bản anh ngữ khác nhau:

- or pick up the widows veil that suits your face

- To pick a mournful hat to suit your face

Nguyên bản:

- dobrać do twarzy kapelusz żałobny

Câu dưới gần nghĩa với bản chính

(**)

- it's not too late to learn how to unwind
- You should settle somehow.

- powinieneś (powinnaś) urządzić się jakoś.

Câu dưới gần bản chính hơn.

(***) Thành ngữ  fall/land on your feet.

 

 

16. Căn Nhà

     Của Người Đàn Ông Tuyệt Vời

       Dom wielkiego człowieka

       A Great Man's House

 

Viết chữ mạ vàng trên đá cẩm thạch:

" Nơi đây người đàn ông tuyệt vời sinh sống, làm việc và qua đời."

Những lối đi quanh nhà, ông tự tay trải sỏi.

Băng ghế này, đừng sờ, ông đục từ tảng đá.

Và - cẩn thận, qua ba bậc cấp- bước vào nhà.

 

Ông vào đời vừa vặn thời thế.

Những ǵ đă qua, đều qua nhà này.

Không phải trong nhà trợ cấp,

Không phải trong khu sinh hoạt, chưa trang bị trống trơn,

giữa những hàng xóm xa lạ,

trên tầng mười lăm

nơi học sinh khó đến khi đi thực học.

 

Trong pḥng này ông trầm tư,

trong buồng này ông ngủ nghỉ,

ở đàng kia ông tiếp khách quen.

 

H́nh chân dung, ghế bành, bàn viết, ống điếu, trái cầu, ống sáo, thảm cũ, pḥng kính.

Nơi đây ông chào hỏi thợ may và thợ đóng giày

họ cung cấp cho ông giày dép và y phục.

 

Không giống như h́nh ảnh cất trong hộp,

cây viết khô mực trong ly nhựa không,

áo quần ngoài tiệm mua về treo đầy trong tủ,

có cửa sổ nh́n ra trời mây, ít thấy bộ hành.

 

Ông ta hạnh phúc hay buồn bă?

Không phải điều quan tâm.

Ông viết tâm sự trong thư từ

không nghĩ có ngày thư bị mở đọc.

Ông viết nhật kư đúng đắn và chân thành

không sợ bị mất bị sửa đổi.

Điều lo lắng nhất là sao chổi băng qua.

Ngày tận thế trong bàn  tay Thiên Chúa.

 

Ông may mắn không chết trong bệnh viện,

dưới tấm vải trắng, không biết ai là ai.

Ông vẫn c̣n có người bên cạnh

ghi nhớ lời trăn trối.

 

Ông tham dự vào đời

Như thể cuộc sống được tái sử dụng:

Ông gửi sách để bị trả về

v́ không xóa tên người chết trong sổ địa chỉ.

Và cây con ông trồng vườn sau nhà

vẫn tiếp tục cao lớn như Juglans regia

và Quercus Ruba và Ulmus và Larix

và Fraxinus Exelsior.

 

 

17. Tiếng Sét Ái T́nh

        Miłość od pierwszego wejrzenia

        Love at First Sight

 

Hai người đều bất ngờ khuất phục

bởi đam mê tràn ngập gắn bó nhau.

Đời thêm đẹp v́ mơ bền vững

nhưng hoang mang t́nh lại đẹp hơn.

 

Trước hôm đó chưa hề gặp gỡ,

giữa hai người chẳng có chuyện ǵ.

Ngoài đường phố, hành lang, thang cấp,

dẫu chạm mặt hoài không chắc biết nhau?

 

Tôi muốn hỏi

có lần nào họ nhớ

mặt đối mặt

qua gương cửa xoay tṛn?

Hoặc nói "xin lỗi" chen trong đám đông?

Hoặc nói "lầm số"  qua điện thoại?

- Nhưng tôi biết câu trả lời

Không, họ không nhớ.

 

Họ vô cùng kinh ngạc

trong một thời gian dài

duyên phận đùa với họ.

 

Lúc này chưa trọn vẹn

định mệnh c̣n ngần ngừ,

tiến gần rồi rút lui,

giữa đường yêu cản trở

ngăn chận tiếng cười duyên

rồi tránh qua một bên.

 

Có dấu hiệu, tin báo

dù họ chưa nhận ra.

Không chừng ba năm trước

hoặc Thứ Ba tuần rồi

chiếc lá nào xao xuyến

đậu vai này sang vai kia?

Có ǵ mất nay t́m thấy lại.

Ai biết, có thể là trái banh

rơi trong bụi rậm thời thơ ấu?

 

Trên nắm cửa và chuông kêu,

nơi người nào sờ vào

sẽ chạm dấu tay người sờ trước.

Hành lư sắp cạnh nhau trong pḥng đợi.

Có thể là đêm họ có chung giấc mơ

rồi quên bẵng khi thức dậy.

 

Mỗi khởi đầu

chẳng qua chỉ là tiếp tục,

và cuốn sách hậu quả

luôn luôn mở nửa chừng.

 

 

18. Ly Dị

       Rozwód

       Divorce

 

Đối với trẻ em, sự kết thúc đầu tiên của cuộc đời .

Đối với con mèo, có ông  chủ mới.

Đối với con chó, có bà chủ mới.

Đối với đồ đạc trên lầu, dời chỗ qua lại, ồn ào. *

Đối với tường, trống sạch, sau khi gỡ h́nh xuống.

Đối với hàng xóm nhiều chuyện, hưng phấn sự nhàm chán.

Đối với xe hơi, tốt hơn nên có hai.

Đối với sách truyện, thơ - được rồi, muốn lấy ǵ th́ lấy.

Tệ hơn khi đối với tự điển bách khoa, máy thâu phát h́nh,

và cẩm nang hướng dẫn viết văn,

nơi tên hai người c̣n bằng chứng quan hệ -

bởi dính líu nhau qua liên tự "và"

hoặc dấu chấm hết đă chia ĺa họ.

 

GHI:

* Trên lầu = trên cầu thang.

 

 

19. Ba Chữ Huyền Hoặc Nhất

        Trzy słowa najdziwniejsze

        The Three Oddest Words

 

Khi tôi phát âm chữ "Tương Lai,"

âm vần đầu tiên đă trở thành quá khứ.

 

Khi tôi phát âm chữ "Im Lặng,"

đă làm mất hiệu quả.

 

Khi tôi phát âm chữ "Hư Vô,"

đă tạo ra điều ǵ không có vật vô sinh nào sở hữu

 

 

20. Điện Thoại

        Słuchawka

        Receiver

 

Mơ thấy tôi thức dậy

bởi tiếng điện thoại reo.

 

Trong mơ tôi tin chắc

người chết nào đang kêu.

 

Mơ thấy tôi đưa tay

bắt lấy điện thoại.

 

Có điều lạ, ống nghe

không giống như b́nh thường,

nó trở nên nặng nề

như níu chặt vật ǵ,

như mọc trong vật ǵ,

quấn rễ bám chung quanh.

Tôi phải xé tang hoang cả mặt đất

để lấy nó.

 

Mơ thấy những vùng vẫy đời tôi

vô dụng.

 

Mơ thấy sự yên tĩnh,

sau khi tiếng chuông ngưng.

 

Mơ thấy tôi ch́m vào giấc ngủ

rồi thức dậy lần nữa.

 

 

21. Tạp Ghi

      Notatka

      A Note

 

Đời sống là cách duy nhất

để được bao che bởi lá cây,

đuổi kịp hơi thở trên cát,

lên cao bằng cánh bay;

 

để có con chó

hoặc vuốt ve lông nó ấm mềm;

 

để than đau đớn

từ mọi thứ không đớn đau; 

 

để lấn chen vào sự việc

lạc lơng trong cảnh tượng,

t́m lỗi nhỏ nhất trong những sai lầm;

 

Một cơ hội lạ thường

một thời để nhớ

những lời chuyện tṛ

khi đèn tắt;

 

Nếu chỉ có một lần

vấp phải đá trợt chân,

bị ướt đẫm trong mưa xối xả,

đánh mất ch́a khóa trong cỏ dày;

mắt dơi theo tia lửa trong gió;

 

vẫn tiếp tục không biết

điều ǵ đó quan trọng.

 

 

22. Đám Tang

      Pogrzeb

      Funeral

 

"thật quá bất ngờ, ai biết trước được"

"sống căng thẳng c̣n hút thuốc nữa, tôi đă nhắc anh ta nhiều rồi"

"cũng b́nh thường, cảm ơn bạn"

"bó hoa này cần mở ra"

"anh của anh ta cũng bị bệnh tim, chắc di truyền trong gia đ́nh"

"tôi không nhận ra bạn để bộ râu này"

"tại anh ta thôi, chuyện ǵ cũng lộn xộn"

"anh lạ mặt đang phát biểu, tôi không thấy anh ấy"

"Kazek đang ở Warsaw, Tadek đă xuất ngoại"

"bạn khôn quá, mang theo dù che"

"cho dù anh ta giỏi nhất trong đám, rồi sao nữa"

"đó là pḥng thông thương, chắc Baska không vừa ư"

"dĩ nhiên, anh ta nói đúng, nhưng không phải lư do"

"cánh cửa này sơn, đoán thử bao nhiêu tiền"

"hai ḷng đỏ trứng, một muỗng đường"

" không phải việc của anh ta, anh ta muốn cái ǵ"

"chỉ màu xanh và chỉ số nhỏ"

"năm lần rồi, chẳng trả lời ǵ cả"

"được rồi, tôi có thể có,bạn cũng có thể có như vậy"

"cuối cùng vẫn tốt, cô ta vẫn có việc làm"

"không, tôi không rơ, chắc nhờ người quen "

" nh́n ông linh mục, giống như Belmondo"

" tôi chưa bao giờ đến khu nghĩa địa này"

"đêm qua tôi mơ thấy anh ta, không hiểu chuyện ǵ"

"con gái anh ta coi cũng được"

"tất cả chúng ta đều chờ đến phiên thôi"

" gửi lời chúc tôi đến bà góa phụ, tôi cần phải đi"

"nghe rất long trọng như trong tiếng La Tinh"

"cái ǵ qua rồi cho qua luôn"

"chào nha"

"có lẽ cần uống một ly rượu"

"nhớ gọi điện thoại, nói chuyện sau"

"số bốn hay số mười hai"

"tôi đi lối này"

"chúng ta không cùng đường"

 

 

23. Phong Thái Khán Giả Mù

       Uprzejmość Niewidomych

       The Courtesy of the Blind

 

Một thi sĩ đọc thơ cho người mù.

Không ngờ trước, lại khó khăn như vậy.

Giọng ông run run.

Đôi tay run rẩy.

 

Cảm thấy từng câu thơ

như thử thách đối đầu bóng tối.

 

Ông phải tranh đấu với bản thân,

khi không có sắc màu và ánh sáng.

 

Cuộc phiêu lưu không thật trong thơ

cho tinh tú, b́nh minh, cầu ṿng, mây, mặt trăng, đèn điện,

cho dưới nước cá óng ánh bơi

cho ó điểu vút cao lên đỉnh trời tĩnh lặng.

 

Dù ǵ đă quá muộn để ngưng lại - Ông đọc thơ

về cậu bé mặc áo khoát vàng trên cánh đồng xanh,

những nóc nhà đỏ nh́n thấy từ thung lũng

những con số rộn rịp trên áo cầu thủ đá banh,

một người kỳ dị khỏa thân đứng sau cửa khép hở.

 

Ông muốn bỏ bớt - dù không thể nào -

tất cả thần thánh vẽ trên trần nhà thờ

vẫy tay từ xe lửa lúc chia ly,

ống kính hiển vi, ṿng tṛn phản chiếu sáng,

màn ảnh, gương soi, những tập h́nh.

 

Nhung tuyệt diệu là ḷng tử tế khán giả mù

hết sức kiên nhẫn và quảng đại.

Lắng nghe, mỉm cười rồi vỗ tay.

 

Hơn nữa, c̣n có người lần ṃ đến

mở cuốn sách ra

xin chữ kư, không bao giờ thấy.

 

 

24. Một Ngày Sau Chúng Ta Khi Không C̣n Nữa

       Nazajutrz - bez nas

       The Day After - Without Us

 

Buổi sáng dự báo sẽ hơi lạnh và sương mù.

Mây đen

sẽ đến từ phương tây.

Sẽ không nh́n thấy rơ.

Xa lộ trơn trợt.

 

Rồi ngày sẽ dần dần

mang khí ấm đến từ phương bắc

có lẽ nơi này sẽ thấy nắng lên.

Tuy nhiên v́ gió, đôi khi thổi mạnh và dữ dội,

có thể mặt trời phải nhường cho băo mưa.

 

Đêm đến

quang đăng khắp cả miền,

có một chút cơ hội mưa nhỏ

chỉ trong vùng đông nam.

Nhiệt độ sẽ giảm mạnh,

trong khi khí áp tăng cao.

 

Ngày hôm sau

hứa hẹn một ngày nắng

mặc dù những ai c̣n sống

nên mang theo dù.

 

 

25. Thật Ra, Mỗi Câu Thơ

        Właściwie każdy wiersz

        In Fact Every Poem

 

Thật ra mỗi câu thơ

đều có thể xem "quan trọng".

 

Chỉ một câu là đủ

viết thể hiện tại,

thể quá khứ và kể cả thể tương lai;

 

đủ cho bất cứ những ǵ

sinh ra từ chữ nghĩa

sẽ bắt đầu kêu lên, tỏa sáng,

run rẩy, phiêu bồng,

trong khi có vẻ

như không đổi thay

nhưng chiếc bóng đă di động;

 

đủ để nói về

người nào bên cạnh người nào

hoặc người nào bên cạnh vật ǵ;

 

về Ali nuôi con mèo nhỏ

hoặc đă mất con mèo;

 

hoặc về những Ali khác

mèo con hoặc không có mèo

do những sách vở ḷng

lật trang v́ gió thổi;

 

đủ nếu nh́n vào trong

thấy tác giả xây núi đồi tạm bợ

và thung lũng tạm thời;

 

nếu trong trường hợp này

ông ám chỉ thiên đàng

dường như chắc chắn và vĩnh viễn;

 

nếu câu thơ xuất hiện bởi bàn tay viết

ít ra biết một điều

là của người nào đó;

 

nếu mực đen giấy trắng

ít ra trong ư niệm,

có lư do nghiêm túc hoặc ngớ ngẩn,

dấu hỏi được đặt ra (?)

và nếu câu trả lời,

sẽ có dấu hai chấm (:)

 

 

26. Không Có Ǵ Lập Lại

        Nic dwa razy

       Nothing Twice

 

Không có ǵ lập lại giống nhau

và sẽ không xảy ra. V́ lư do này

chúng ta sinh ra không được huấn luyện

và chết đi không theo luật lệ thường xuyên.

 

Ngay cả, học sinh

ngu nhất thế giới

sẽ không thể lập lại lớp học đă dạy

chỉ một lần trong mùa đông hoặc mùa hè.

 

Không bao giờ có ngày lập lại,

không có hai đêm tương đồng,

không có hai nụ hôn giống hệt,

không có hai mắt nh́n giống nhau.

 

Hôm qua, khi có người nhắc tên em

lớn tiếng bên cạnh

tôi cảm giác như đóa hoa hồng

vừa ném vào cửa sổ.

 

Hôm sau, khi bên nhau

tôi quay mặt vào tường, tự hỏi

Hoa hồng? Hay là giống hoa hồng?

Phải chăng là hoa hoặc viên đá?

 

Tại sao chúng ta đối với thời giờ phù du

bằng bối rối lo âu không cần thiết?

Thời gian sẽ qua, ta phải vượt qua

mọi sự sẽ tốt đẹp.

 

Bằng nụ cười, bằng tay ôm

cố t́m ra thỏa thuận

cho dù chúng ta khác nhau

như hai giọt nước trong.

 

GHI:

2 bản dịch có rất nhiều chỗ khác nhau. bản dịch của Clare Cavanagh và Stanishlaw Baranczak dịch thoát. Bản kia dịch sát hơn.

 

 

27. Say Rượu

        Przy Winie

        Drinking Wine

 

Anh ta nh́n, cho tôi cảm giác tuyệt vời

tôi giữ lấy làm chút t́nh riêng biệt

Hạnh phúc thay, tôi nuốt v́ tinh tú.

 

Tôi hóa thân trở thành

h́nh ảnh đang phản chiếu

trong mắt anh,

Tôi nhảy, tôi múa

run rẫy trên đôi cánh không ngờ.

 

Bàn vẫn là chiếc bàn

rượu vẫn rượu trong ly

ly đứng trên bàn.

Tôi tưởng tượng

đến độ không tin nổi,

tưởng tượng nhập vào máu.

 

Tôi nói những ǵ anh ấy muốn nghe:

Có đàn kiến chết v́ t́nh yêu

dưới chùm sao Bồ Công lóng lánh.

Tôi thề rằng khi rưới rượu lên

đóa hoa hồng trắng sẽ hát.

 

Tôi cười, nghiêng đầu

cẩn thận, như  thử một sáng kiến.

Tôi nhảy, tôi múa

trong thịt da sửng sốt

trong ṿng tay sáng tạo ra tôi.

 

Eva từ xương sườn, Venus từ bọt biển,

Minerva từ chiếc đầu Jupiter-

tất cả đều có thật.

 

Khi anh không nh́n tôi nữa

tôi t́m h́nh tôi phản chiếu trên tường.

Chỉ  thấy một chiếc đinh

nơi tấm ảnh đă gỡ xuống.

 

 

28. Danh Sách

        Spis

        List

 

Tôi biên soạn danh sách các câu hỏi

nhưng không c̣n mong đợi câu trả lời,

hoặc giả chúng đi trước thời đại

hoặc tôi không có giờ t́m hiểu.

Danh sách ghi câu hỏi rất dài,

bao gồm chuyện tầm thường, chuyện quan trọng, nhưng không muốn làm phiền các bạn,

chỉ nói ra đây một ít câu:

Cái ǵ có thật

cái ǵ tưởng chắc chắn là không

đối với khán giả,* (trong hí trường này)

minh tinh và minh tinh phụ,

cả hai cần có vé đi vào

và đi ra;

C̣n thế giới đang sống

tôi sẽ không đủ thời giờ *

so sánh với sinh vật khác; *

C̣n những sách vở giấy tờ

viết về tương lai;

Khi nào sẽ chấm dứt chiến tranh

rồi những ǵ sẽ thay thế vào đó ;

Ngón tay ai đang đeo nhẫn

ăn cắp của tôi - đánh mất;

Nơi nào ư muốn tự do,

được hoặc không được hành xử

cùng một lúc;

C̣n nhóm người kia

chúng ta có thật sự biết nhau;

C̣n M. đă cố nói ǵ với tôi

khi cô không c̣n nói được nữa;

V́ sao tôi làm điều xấu

cho người tốt;

và cần phải làm ǵ

để không tái phạm?

Một số câu hỏi nào đó

tôi ghi vội trước khi đi ngủ.

Khi thức dậy

không thể nào đọc ra.

Đôi khi tôi nghi ngờ

đây là loại mật mă,

nhưng ư nghĩ này cũng là câu hỏi

một ngày nào, sẽ không cần trả lời. (sẽ rời bỏ tôi.)

 

Ghi:

(*) Xem lại bản chính.

 

 

29. Chuyện Không Ngờ Khi Họp Mặt

        Niespodziane Spotkanie

        Unexpecting Meeting

 

Chúng tôi đối xử với nhau rất lịch sự

chào nhau tử tế sau bao năm cách xa

 

Bạn cọp uống sữa

Bạn diều hâu dạo bộ lanh quanh

Bạn cá mập trầm ḿnh trong nước

Bạn chó sói ngáp trước chuồng trống không

Bạn rắn lủi đầu tránh tia chớp sáng

Bạn khỉ hứng chí, bạn công khoe sắc x̣e lông

Bạn dơi quen thói bay gây phiền nhiễu

 

Giữa lúc chuyện tṛ chợt rơi vào im lặng

Nh́n nhau ái ngại cười ruồi.

 

Dân ta

không biết cách nói chuyện .

 

 

30. Ví Dụ

        Przyklad

        Example

 

Cơn băo

trút hết lá trên cây đêm qua

ngoại trừ một chiếc lá

c̣n lại

đong đưa trên cành cây trơ trụi

 

Với ví dụ này

chứng tỏ được bạo lực

cố nhiên

như câu chuyện diễu kể chơi

 

 

31. Ư Tưởng.

        Pomysl

        Idea

 

Một ư tưởng đến với tôi

gieo vần điệu, phải chăng để làm thơ?

Tôi nói - Tốt lắm, ở lại đây, đôi ta cần tṛ chuyện.

Hăy cho tôi biết về bạn nhiều hơn.

          Ư tưởng th́ thầm vào tai tôi đôi lời.

Ô, vậy à, tôi nói, nghe rất thú vị.

Những vấn đề này nằm trong tâm trí đă lâu.

Nhưng viết thành thơ? Chưa, chắc chắn chưa được.

          Ư tưởng th́ thầm vào tai tôi đôi lời.

Tôi đáp trả - Đối với bạn có vẻ như vậy

bạn đánh giá tôi quá cao về sở trường và tài năng.

Thậm chí tôi không biết bắt đầu từ đâu.

          Ư tưởng th́ thầm vào tai tôi đôi lời.

Tôi nói - Bạn lầm rồi, bài thơ ngắn gọn súc tích

khó sáng tác hơn bài thơ dài.

Đừng quấy rầy, đừng nài nỉ, không viết được đâu.

          Ư tưởng th́ thầm vào tai tôi đôi lời.

Thôi được, v́ bạn nói hoài, tôi sẽ cố gắng thử.

Nhưng xin báo trước những ǵ sẽ xảy ra.

Tôi sẽ viết, sẽ xé bỏ, và quăng vào thùng rác.

          Ư tưởng th́ thầm vào tai tôi đôi lời.

Tôi nói - Bạn nói đúng, chắc có những thi sĩ khác.

Một số người làm bài thơ này hay hơn tôi.

Tôi có thể cung cấp cho bạn tên và địa chỉ.

          Ư tưởng th́ thầm vào tai tôi đôi lời.

Đương nhiên, tôi ghen tỵ với họ.

Chúng tôi ghen tỵ nhau, ngay cả bài thơ kém hơn.

Bài thơ này cũng vậy... Có lẽ phải như vậy...

          Ư tưởng th́ thầm vào tai tôi đôi lời

Đúng thế, phải có những phẩm chất mà bạn đă nói.

V́ vậy, tốt hơn nên thay đổi đề tài.

Bạn có muốn uống cà phê không?

          Ư tưởng chỉ thở dài.

          Ư tưởng bắt đầu tiêu tan.

          Ư tưởng biến mất.

 

 

32. Trí Nhớ Khiến Đời Phiền Phức

         Hard Life With Memory

        Trudne życie z pamięcią

 

Tôi là khán giả tồi đối với trí nhớ.

Nàng muốn tôi lắng nghe liên tục nàng nói,

nhưng tôi cuống quít, bồn chồn

lúc nghe lúc không

lúc ra, lúc vào rồi lại đi ra.

 

Nàng kiểm soát tôi toàn thể thời giờ và chú ư

Khi tôi ngủ, nàng không có trở ngại ǵ

ban ngày th́ khác, khiến nàng bực bội.

 

Nàng háo hức gợi ư bằng thư từ h́nh ảnh

khuấy động chuyện xưa dù quan trọng hay không,

xoay mắt tôi nh́n những nơi thiếu sót,

về những người chết tôi đă quen.

 

Trong chuyện nàng kể, tôi luôn luôn trẻ hơn.

cũng tốt thôi, nhưng sao kể măi cùng câu chuyện.

Mỗi gương soi cho tôi thông tin khác.

Nàng tức giận khi tôi nhún vai xem thường.

 

Rồi trả đũa bằng cách lôi ra lỗi lầm cũ,

nặng nề nhưng dễ quên.

Nh́n sâu vào mắt, theo dơi phản ứng.

Sau đó, an ủi, chuyện có thể tệ hơn.

 

Nàng muốn tôi chỉ sống cho nàng và với nàng

Tốt nhất trong căn pḥng tối khóa kín,

nhưng hôm nay dự định tôi vẫn ra nắng mặt trời,

mây ḥ hẹn, những con đường đón măi bước chân.

 

Đôi lúc tôi chán ngán nàng.

Gợi ư chia tay. Từ bây giờ đến vĩnh viễn.

Khi ấy, nàng mỉm cười thương hại,

v́ biết rằng đó là ngày cuối của đời tôi.

 

 

33. Không Đọc Sách

         Nieczytanie

         Nonreading

 

Tiệm sách không cung cấp

thiết bị điều khiển cách không cho tác phẩm Proust,

bạn không thể đổi qua

trận túc cầu,

hoặc chương tŕnh đố giải, có thưởng xe Volvo.

 

Chúng ta sống lâu hơn

nhưng kém chính xác

và ư kiến ngắn lại.

 

Chúng ta đi nhanh hơn, xa hơn, thường xuyên hơn,

nhưng đem về bản kính ảnh (1) thay v́ kỷ niệm.

Nơi này, tôi với vài người bạn

Nơi kia, có lẽ người chồng trước

Đây này, tất cả trần truồng

có lẽ nơi nào đó trên băi tắm.

 

Bảy hộp bản kính ảnh - đáng tiếc.

Không thể nào bỏ bớt hoặc tóm gọn,

hoặc tốt hơn in thành h́nh.

Xem qua loạt ảnh gọi là "Búp bê"

chị dâu tôi nói là người khác  thuộc về P. (2)

 

Sao cũng được, không quan trọng ǵ, ông ấy là ai

Dường như  ông ấy viết nhiều năm trên giường.

Trang này qua trang kia, (4)

tốc độ giới hạn.

Nhưng chúng ta vẫn chạy số năm (5)

và, cầu may mắn (3), măi măi tốt lành.

 

Ghi:

(1) Slide

(2) Nói đến nhà văn Ba Lan Boleslaw Prus (1847-1912.)

(3) Knock on wood: thành ngữ.

(4) Bản Ba Lan và Anh ngữ có dị biệt. Không hiểu viết sao cho chỉnh.

(5) Hộp số. Xe tay số.

 

 

34. Con Mèo

Trong Căn Chung Cư Trống

          Cat in an Empty Apartment

         Kot w pustym mieszkaniu

 

Chết đói - không thể để xảy ra cho mèo

V́ mèo có thể làm được ǵ

trong căn pḥng trống vắng?

Leo lên tường chăng?

hay cọ lưng vào bàn ghế?

Không có ǵ ở đây thay đổi,

thế mà có đổi thay.

Dường như không có ǵ di dời

thế mà có di chuyển.

và đến đêm đèn không mở sáng.

 

Tiếng chân trên cầu thang

nhưng không phải chân quen.

Bàn tay sắp cá lên trên đĩa

không phải bàn tay trước kia từng làm.

 

Có ǵ ở đây chưa bắt đầu

giờ này như thường lệ

Có ǵ chưa xảy ra

đáng lẽ phải xảy đến.

Có người từng ở đây

rồi đột nhiên biến mất

và quyết tâm vắng mặt.

 

Xem kỹ các tủ áo

mỗi kệ đều nh́n qua.

Dỡ thảm lên t́m kiếm

vẫn không thấy được ǵ.

Vi phạm luôn quy lệ

xả  giấy tờ bừa băi.

C̣n ǵ khác để làm?

Chỉ ngủ và chờ đợi.

 

Hăy chờ anh ta quay trở về,

đợi anh ta xuất hiện.

Sau đó anh sẽ hiểu

không thể để mèo chết đói.

 

Tiến đến gần anh ta

giả bộ bất đắc dĩ

từ tốn,

bằng bước chân bị xúc phạm

Khi bắt đầu, đừng nhảy đựng, đừng kêu mèo nheo.

 

 

35. Độc Thoại Của Chó Bị Gài Vào Lịch Sử

    Monolog psa zaplątanego w dzieje

    Monologue of a Dog Ensnared in History

 

Giữa vô số chó, ông chủ tuyển chọn tôi.

Có chứng minh thư tốt, máu lai lang sói.

Sống trên cao nguyên, thở hương thiên nhiên:

với băi cỏ xanh mặt trời nắng ấm, 

cùng dăy Vâm Sam sau những cơn mưa,

và ḥn đất sâu dưới nhiều lớp tuyết.

 

Tôi có nhà ở, có người phục vụ,

được ăn,  được tắm, được chải lông,

được dẫn đi bộ khoe duyên dáng.

Tuy vậy, có sự nể nang không thể quen.

Họ đều biết, tôi là con chó.

 

Chó hạ tiện nào cũng có chủ nuôi.

Tuy nhiên, phải cẩn thận khi so sánh.

Ông chủ tôi là người độc đáo.

Có một đám đông đi từng bước theo sau

ông nh́n họ đăm đăm khiến họ sợ hăi.

 

Với tôi lúc nào họ cũng cười

giấu giếm ḷng ganh tỵ.

Bởi v́ chỉ có tôi

được nhảy cởn đón chào ông,

chỉ có tôi được cắn ống quần ông khi tạm biệt.

Chỉ có tôi được phép

được găi được vuốt ve

gối đầu lên đùi ông.

Chỉ có tôi được giả vờ nhắm mắt

khi ông cúi xuống nói th́ thầm.

 

Mặt khác, ông thường giận dữ, lớn tiếng.

Cằn nhằn, quát tháo người ta

vội vă đời xuôi ngược.(1)

Tôi nghĩ ông chỉ thích tôi mà thôi

măi măi sẽ không có ai khác.

 

Bổn phận của tôi: đọi chờ và tin tưởng.

V́ ông xuất hiện ngắn ngủi rồi vắng mặt lâu ngày.

Tôi không biết, điều ǵ đă giữ ông dưới thung lũng.

Tôi đoán, chắc là chuyện buôn bán cấp thời,

ít ra là khẩn trương

giống như tôi, chiến đấu với mèo

tất cả là hành vi không cần lư lẽ.

 

Số phận và định mệnh tôi bất ngờ đổi thay

Một mùa xuân đến

ông không trở về. (2)

Tất cả chuyện nhà trở nên hỗn loạn.

Hành lư , tủ, rương, chất đống vào xe.

Bánh chạy xe rít lên khi xuống dốc

rồi lặng im sau khúc quanh.

 

Trên sân thượng, đốt cháy đồ bỏ và giẻ rách,

áo màu vàng , băng tay có huy hiệu đen

và rất nhiều thùng giấy méo mó

để rơi ra lá cờ.

 

Trôi dạt theo t́nh cảnh hỗn mang ,

nhiều kinh ngạc hơn tức giận.

Tôi cảm thấy bất an với bộ lông.

Làm con chó thất lạc,

bị  họ dùng chổi

xô đẩy xuống cầu thang.

 

Người nào đó bứt đứt ṿng nạm bạc đeo cổ,

người khác đá bát cơm đă trống sạch nhiều ngày.

Rồi người sau cùng trước khi lái xe đi khuất,

nhoài người ra khỏi cửa

bắn tôi hai lần.

 

Mặc dù hắn bắn không trúng chỗ hiểm

tôi vẫn chết nhưng kéo dài đớn đau

trong tiếng kêu của đám ruồi bu đến

Tôi, con chó của ông chủ.

 

(1) Wall to wall: thành ngữ.

(2) Một mùa xuân đến

     không phải xuân của tôi.

 

( Xin xem phần Ghi tài liệu, có các bản chính Ba Lan và bản Anh ngữ.)

 

 

 

*   *   *

Phụ Lục:

Chuyển Dịch Ảnh Trong Thơ

 

 

Càng suy nghĩ về chuyển dịch thơ, tôi càng có cảm giác, có lẽ chuyển dịch bằng h́nh ảnh sẽ giải quyết được phần nào vấn nạn: Khó hiểu hoặc khó cảm của một bài thơ dịch. Chỉ nghĩ thôi, không có ǵ chứng minh.

 

Dĩ nhiên, có những dịch giả thơ rất nghiêm túc và rất tài t́nh, ví dụ như nhà văn Diễm Châu, ông là một trong những người dịch thơ tài hoa. Một số dịch giả khác mà tôi ngưỡng mộ ví dụ như ông Thân Trọng Sơn, Nhà văn Nguyễn Nam Trân, Ông Hoàng Ngọc Biên, Thi sĩ Hoàng Hưng, Thi sĩ Chân Phương, Nhà văn Nam Dao,...v...v..Những bạn dịch của tôi như nhà thơ Lư Ốc BR, nhà thơ Vũ Tiến Lập, nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam, nhà thơ Thận Nhiên.v..v..... và c̣n nhiều dịch giả nữa nhưng không thể viết hết tên vào bài viết ngắn này. Những người dịch đă bỏ công mang đến cho văn chương Việt biết bao lời hay ư đẹp hữu ích. Giúp cho người không có thời giờ, không có cơ hội, không am tường sinh ngữ, những món ăn tinh thần hiếm quí. (Khi tôi c̣n trẻ, lớn lên với văn chương miền Nam. Phần lớn không phải Sáng Tạo, không phải Vơ Phiến, B́nh Nguyên Lộc....mà chính là những truyện, sách dịch và sách của Nguyễn Hiến Lê. Tôi vô cùng biết ơn những dịch giả mà xấu hổ thay, tôi không c̣n nhớ tên.)

 

Nhưng đa phần những bài thơ ngoại, khó hiểu, khó cảm không phải v́ người dịch mà v́ bản thân bài thơ mang nhiều ư tưởng, nhất là h́nh ảnh, xa lạ đối với người đọc Việt ngữ. Cá tính ngôn ngữ ngoại về văn phạm và cách diễn đạt theo phong thái ngoại vẫn là trọng tâm tranh căi của chuyển dịch. Nhất là truyền thống văn phạm của mỗi ngôn ngữ; cách truyền thông theo tập quán và thói quen của mỗi dân tộc, sẽ là trở ngại hầu như muôn thuở cho chuyển dịch, nhất là dịch thơ. Dịch sát những cá tính này, người Việt khó cảm cho dù có thể hiểu bài thơ.

 

Từ kinh nghiệm của hội họa và nhiếp ảnh, h́nh ảnh là một loại ngôn ngữ toàn cầu. Yếu tính này cho thấy h́nh ảnh diễn tiến trong câu thơ, bài thơ qua chữ nghĩa là một đoạn phim câm trong tưởng tượng.

 

Từ tầm nh́n căn bản nói trên, tôi đi t́m cách chuyển dịch thơ qua chuyển dịch h́nh ảnh.

 

( Tôi ghi lại những suy nghĩ này với ư định làm rơ với bản thân trên chữ nghĩa v́ chỉ suy nghĩ mông lung, thường dẫn đến mù mờ. Thứ hai, giữ những điều này để xem lại con đường đă đi, bao xa, lạc lối chỗ nào, hướng nào đang bước đến? Hoàn toàn là dọ dẫm, sờ soạn, cứ bắt đầu như vậy.)

 

Bắt đầu từ hôm nay, 15 tháng 10 năm 2014, tôi sẽ chú trọng đến:

 

- Ảnh hoặc dăy ảnh tương đương giữa hai ngôn ngữ.

- Ảnh hoặc dăy ảnh đồng dạng giữa hai ngôn ngữ.

- Ảnh hoặc dăy ảnh biểu tượng, tượng trưng của ngôn ngữ nội đối với ngôn ngữ ngoại.

- Ảnh hoặc dăy ngôn ngữ nội có khả năng giải thích ảnh hoặc dăy ảnh khó hiểu hoặc đặc thù của ngôn ngữ ngoại.

- Chú thích những sự việc đặc biệt hoặc không chuyển dịch được.

 

Dĩ nhiên tất cả h́nh ảnh nói trên, đều cưu mang trong văn tự hoặc câu cú diễn đạt. Dĩ nhiên không phải lúc nào cũng cần phải chọn lựa h́nh ảnh. Những câu thơ THƯỜNG, đọc xong, hiểu liền. Chỉ phải suy tư khi gặp những câu thơ THẤM và câu thơ THẤU. Nhất là những câu thơ Thấm, thường phải dụng h́nh, dụng biểu tượng. Những ẩn ngữ hoặc ẩn tứ trong câu thơ Thấm khiến cho việc chuyển dịch thường gặp trắc trở. Những câu thơ Thấu, có khi rất dễ nhưng có khi rất khó v́ nó đến từ trực giác của mỗi dân tộc, thể hiện qua ngôn ngữ. Ví dụ câu thơ của Nguyễn Du, "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay." Chuyển dịch câu này qua ngôn ngữ khác, dễ lâm vào chuyện "Canh gà thọ xương." V́ vậy, sự chính xác trong dịch thơ quan trọng nhưng chưa quan trọng bằng sự cảm và hiểu bài thơ.

Dịch đúng chữ chưa hẳn là dịch đúng tứ thơ. Dịch tứ thơ trong một đoạn, thường khi gặp chữ trong câu, nếu dịch sát nghĩa sẽ không phù hợp, hoặc không nói được điều muốn nói. Đôi khi phải chọn trường hợp viết lại câu thơ cho hợp với tứ thơ trong đoạn. Như vậy đưa đến hoàn cảnh, tứ thơ và h́nh ảnh trong câu thơ phải thay đổi.

 

Ví dụ:

Bài thơ Niespodziane Spotkanie, Unexpecting Meeting, của thi sĩ Wislawa Szymborska, được vài bản dịch qua Anh ngữ, so với bản chính tiếng Ba Lan, cho thấy:

 

1- Bản dịch Anh ngữ có nhiều chỗ khác nhau. Nhưng diễn tiến và câu chuyện vẫn cho người đọc một cảnh nh́n chung. Ư nghĩa trong vài chi tiết có thể dị biệt, nhưng tổng thể vẫn như vậy.

 

Câu hỏi là v́ sao các dịch giả lại chọn cách diễn đạt khác nhau từ một câu thơ chính?

 

V́ mỗi dịch giả khác nhau, từ cách cảm nhận ư và tứ thơ cho đến cách diễn đạt trở lại. Qua màn lọc trí tuệ, kinh nghiệm và cá tính của mỗi dịch giả, không thể không có sự đồng dạng hoặc bị biệt.

 

Mỗi dịch giả sẽ có một phương pháp chuyển dịch, hoặc một số từ ngữ quen thuộc hay ngôn từ địa phương hoặc cách chọn chữ diễn tả, mà một người khác đọc vào sẽ luôn luôn thấy khuyết điểm hoặc không vừa ư. V́ vậy, dịch thuật là một nghệ thuật công phu mà bạc bẽo. 

 

2- Đọc một bài thơ ngoại ngữ, có lẽ, sẽ không bao giờ lănh hội toàn diện sự sâu sắc, thâm trầm của bài thơ, nhất là bài thơ của những tác giả lớn. Đừng nói chi đến thưởng thức văn phong, đúng nghĩa từng chữ theo tự điển, chuyện này dường như hiếm hoi. Đ̣i hỏi này thuộc về một tài năng phi thường.

 

Đọc thơ ngoại, có lẽ để thưởng thức ư tưởng và tâm t́nh của thi sĩ, nhất là những thi sĩ thành danh. T́m gặp những khía cạnh lạ lùng và sâu thẳm trong tâm tư của họ. Ngoài ra, c̣n thưởng thức cách diễn tả của mỗi cá tính và bản lănh của mỗi thi sĩ. Được ít nhiều như vậy, đă không uổng công.

 

3- Theo ư riêng của tôi, chuyển dịch là cố gắng cảm nhận và t́m hiểu, áp sát ư nghĩa và tâm t́nh của thi sĩ trong từng câu thơ, đoạn thơ và bài thơ. Chỉ gần sát thôi, sẽ không bao giờ nhập vào được. Sau đó, chọn cách diễn đạt lại. Dịch sát nghĩa hay dịch thoát là do sự chọn lựa của người dịch, tùy bài, tùy từng câu thơ.

 

4- Qua những bản dịch khác nhau so với bản chính, thấy ra dịch thơ khác hơn dịch văn xuôi ở chỗ: Cảm nhận của người dịch và người đọc rất quan trọng. Nếu dịch một bài thơ mà người đọc không hiểu được, bài thơ dịch đă không hoàn tất mục đích của dịch. Nếu người đọc hiểu được nhưng không cảm nhận điều hay lẽ đẹp trong bài thơ, nhất là những bài thơ giá trị, nổi tiếng của các thi sĩ lớn, th́ dịch không đáp ứng được giá trị của nghệ thuật.

 

5- Dịch tự nó mang bản chất phi lư, mâu thuẫn nội tại: Dịch thông thường là không thể đúng, chưa nói tới có người cho rằng dịch là phản, nhất là dịch thơ. Ngược lại, dịch lại cần thiết để "thông ngôn" cho thế giới. Có thể chấp nhận một cách tương đối: Dịch là thông ngôn không hoàn chỉnh nhưng cần thiết. Nói một cách khác, biết dịch là phải đối diện với sai lầm, cho dù công kỹ tới đâu, nhưng vẫn dịch v́ sở thích và nhu cầu. Kẻ dịch, cố gắng tránh sai lầm. Người đọc bài thơ dịch biết sẽ có chỗ không đúng. Như vậy là đủ cho ư thức về dịch.

 

Đó là lư do chính mà tôi muốn chọn h́nh ảnh, một loại ngôn ngữ toàn cầu, dễ nhận ra , dễ cảm thấy, dù không chính xác theo nghĩa tự điển của mỗi chữ.

V́ đă có nhiều dịch giả đúng đắn và tài hoa làm công việc chuyển dịch thơ đến người đọc, việc đi t́m một cách chuyển dịch theo ư riêng chỉ v́ ṭ ṃ muốn xem giới hạn của ngôn ngữ và văn chương, v́ muốn thử nghiệm những suy tư trong sáng tác. Xin lượng thứ những sai lầm.

 

Ghi:

Hàng 1: Bản chính. ( Cá nhân tôi dốt tiếng Ba Lan, xin ghi lại cho người khác có khả năng đọc.)

Hàng 2: Chữ trong ngoặc là bản dịch của Stanislaw và Clare Cavanagh. Trích trong Poems and Collected 1957-1997 by Harvest Book

Hàng 3: Bản dịch trích The Vintage Book of Contemporary World Poetry, trang 137

Hàng 4: Chuyển thơ vào tiếng Việt.

 

Niespodziane Spotkanie

Unexpecting Meeting

 

Thơ: Wislawa Szymborska

 

Jesteśmy bardzo uprzejmi dla siebie,

(We treat each other with exceeding courtesy;)

We are very polite to each other,

Chúng tôi đối xử với nhau rất lịch sự,

 

twierdzimy, że to miło spotkać się latach.

(we say, it's great to see you after all these years.)

insist it's nice meeting after all these years.

chào rằng, rất vui khi gặp lại sau năm tháng cách xa.

 

Nasze tygrysy pija mleko.

(Our tigers drink milk.)
Our tigers drink milk.

Bạn cọp uống sữa.

 

Nasze jastrzębie chodzą pieszo.

(Our hawks tread the ground.)
Our hawks walk on the ground.

Bạn diều hâu đi trên đất.

 

Nasze rekiny toną w wodzie.

(Our sharks have all drowned)
Our sharks drown in water.

Bạn cá mập ngâm dưới nước.

 

Nasze wilki ziewają przed otwartą klatką.

(Our wolves yawn beyond the open cage.)
Our wolves yawn in front of the open cage.
Bạn chó sói ngáp trước chuồng m
ở cửa.

 

Nasze żmije otrząsneły się z błyskawic,

(Our snakes have shed their lighting,)
Our serpents have shaken off lightning,

Bạn rắn lủi đầu tránh tia chớp sáng,

 

małpy z natchnień, pawie z piór.

(our apes their flights of fancy,

our peacocks have renounced their plumes.)
monkeys--inspiration, peacocks--feathers.

bạn khỉ -- hứng khởi, bạn công -- khoe sắc lông.

 

Nietoperze jakże dawno uleciały z naszych włosów.

( The bats flews out of our hair long ago.)
The bats--long ago now--have flown out of our hair.

Bạn dơi bay quấy nhiễu đă lâu rồi

 


Milkniemy w połowie zdania

( We fall silent in midsentence,)
We fall silent in mid-phrase,

Chúng tôi rơi vào im lặng giữa lúc chuyện tṛ,

 

bez ratunku usmiechnięci.

( all smiles, past help.)
smiling beyond salvation.

cười ruồi không cứu văn được t́nh thế.

 

Nasi ludzie

( Our humans )

Our people

Dân ta

 

nie umieją mówić z sobą.

( don't know how to talk to one another.)
have nothing to say.

không biết nói chuyện với nhau.

 

 

Chuyện Không Ngờ Khi Họp Mặt

 

Chúng tôi đối xử với nhau rất lịch sự

chào nhau tử tế sau bao năm cách xa

 

Bạn cọp uống sữa

Bạn diều hâu dạo bộ lanh quanh

Bạn cá mập trầm ḿnh trong nước

Bạn chó sói ngáp trước chuồng trống không

Bạn rắn lủi đầu tránh tia chớp sáng

Bạn khỉ hứng chí, bạn công khoe sắc x̣e lông

Bạn dơi quen thói bay gây phiền nhiễu

 

Giữa lúc chuyện tṛ chợt rơi vào im lặng

Nh́n nhau ái ngại cười ruồi.

 

Dân ta

không biết cách nói chuyện .

 

Một trong những ư niệm quanh quẩn bên tôi mỗi khi nghĩ về chuyển dịch thơ, đó là h́nh ảnh quen thuộc.

 

Từ những h́nh ảnh xa lạ hoặc khó hiểu trong câu thơ ngoại, làm sao t́m ra những h́nh ảnh quen thuộc hơn đồi với người Việt hoặc/và cách ráp nối những h́nh ảnh này theo đường lối thông thường để người Việt theo dơi dễ dàng.

 

Vi dụ: Bài thơ của thi sĩ Ấn Độ Siddharth Anand, All or Nothing, chuyển sang tiếng Việt: Tất Cả hoặc Không Có Ǵ Cả hay là Được Tất Cả hoặc Mất Tất Cả. Dĩ nhiên, người Việt hiểu được. Thử chuyển All or Nothing thành Ăn Cả Ngă Về Không, có lẽ sự cảm nhận sẽ khác hơn.

Một bài thơ khác của ông, Me and My Stranger, Tôi và Kẻ Xa Lạ Trong Tôi, có lẽ sau khi đọc toàn bài thơ, ư nghĩa toàn bài sẽ làm cho ta nghĩ đến: Tôi và Tôi Nhị Trùng.

 

Tuy nhiên chuyển những h́nh ảnh xa lạ, biết mà không quen hoặc chuyển những dăy ảnh ngoại, dàn dựng theo lối ngoại ra h́nh ảnh quen thuộc hoặc cách dàn trải sắp xếp quen thấy, quen hiểu, không phải lúc nào cũng làm được. Có hai việc cần suy tư:

 

- Nếu không t́m được h́nh ảnh hoặc cách diễn tả quen thuộc th́ phải làm ǵ? Chọn lựa ra sao?

 

- Nếu có được h́nh ảnh hoặc cách diễn tả quen thuộc th́ sự xa cách với bản chính như thế nào? cách bao xa th́ c̣n chấp nhận được?

 

Từ từ suy nghĩ và thí nghiệm, chưa có câu trả lời.

 

Lại thử nghiệm một bài thơ khác của Wislawa Szymborska: Przyklad. Ví Dụ. Bản dịch Anh ngữ bởi Clare Cavanagh và Stanislaw Baranczak trong "Here" của Wislawa Szymborska. Bài thơ này tương đối dễ hiểu v́ không mang nhiều ẩn ngữ. Nhưng so với bản chính, dịch giả cũng đă thoát ra, như câu: pozartowac sobie czasem lubi = it likes its little joke from time to time. Cho thấy chuyển dịch thơ theo ư nghĩa của chữ và câu, thường khi phải "viết lại" cho đúng mạch văn trong ngôn ngữ dịch.

 

Ví Dụ

 

Wichura

A gale

Cơn băo

 

zdarla noca wszystkie liscie z drewa

stripped all the leaves from the trees last night

trút hết lá trên cây đêm qua

 

oprócz listka jednego,

except for one leaf

ngoại trừ một chiếc lá

 

pozostawionego,

left

c̣n lại

 

zeby siẹ kiwal solo na golej galẹzi

to sway solo on a naked branch.

đong đưa trên cành cây trơ trụi

 

Na tym prykladzie

With this example

Với ví dụ này

 

Przemoc demonstruje,

Violence demonstrates

chứng tỏ được bạo lực

 

ze ownszem -

that yes of course -

cố nhiên

 

pozartowac sobie czasem lubi.

it likes its little joke from time to time

như câu chuyện diễu kể chơi

 

Có lẽ, chuyển dịch thơ dụng h́nh ảnh cũng lại là câu chuyện diễu, kể chơi.

 

( Xin thưa: Sự thử nghiệm chưa biết đúng sai hay dở, sẽ đưa về đâu. Độc giả nào thấy sự sai lầm trong chuyển dịch từ bản chính, thơ của Wislawa Szymborska bằng tiếng Ba Lan, xin chỉ dạy. Quí vị có thể phản hồi trên mạng nếu có thể, để nhiều người được chia xẻ và Ngu Yên được học hỏi thêm.

 

Nếu không có nơi phản hồi, xin gửi thẳng đến email của Ngu Yên: nguyen112052@gmail.com, sự chỉ điểm của quí vị là sự cảm tạ của tôi. Nếu sau này có in thành sách, xin phép được đăng kèm email của quí vị hoàn chỉnh những lỗi lầm như sự kính trọng của người viết. Xin ghi lại các bản chính để tiện việc cho quí vị nào am tường tiếng Ba Lan khỏi mất thời giờ t́m kiếm. Những bản Anh ngữ dùng để so sánh.

 

Nếu như những bài thơ chuyển này có thể giúp cho quí vị và các bạn một chút ít ǵ, xin cứ tùy tiện sử dụng. Không cần phải ghi nguồn. Mong được đọc những bản dịch hay hơn. Chúng tôi và thế hệ sau sẽ cảm ơn quí vị và các bạn.

 

Cũng xin đứng đắn thưa, Ngu Yên không phải là dịch giả chuyên nghiệp, lại càng thiếu chuyên môn, chỉ là con chim ṭ ṃ, ngứa cổ hót chơi cho sảng khoái trước khi tắt thở. )

 

Có chim nào trước khi tắt thở

không cảm thương muốn hót đôi lời

rồi đến mùa băo trổi

tản mác xa vời xóa sạch cuộc chơi.

 

 

*   *   *

 

 

 

 

GHI:

Bản chính tiếng Ba Lan và những bản dịch bằng Anh ngữ.

 

1. Some Like Poetry

 

Some -
thus not all. Not even the majority of all but the minority.
Not counting schools, where one has to,
and the poets themselves, 
there might be two people per thousand.

Like -
but one also likes chicken soup with noodles, 
one likes compliments and the color blue, 
one likes an old scarf, 
one likes having the upper hand, 
one likes stroking a dog.

Poetry -
but what is poetry. 
Many shaky answers
have been given to this question.
But I don't know and don't know and hold on to it 
like to a sustaining railing.

( Translated by Regina Grol.)

 

Some People Like Poetry 

Some people--
that is not everybody
Not even the majority but the minority.
Not counting the schools where one must,
and the poets themselves,
there will be perhaps two in a thousand.

Like--
but we also like chicken noodle soup,
we like compliments and the color blue,
we like our old scarves,
we like to have our own way,
we like to pet dogs.

Poetry--
but what is poetry.
More than one flimsy answer
has been given to that question.
And I don't know, and don't know, and I
cling to it as to a life line.

(Translated by Walter Whipple)

 

Some People Like Poetry

 

Some people -

that means not everyone.

Not even most of them, only a few.

Not counting school, where you have to,

and poets themselves,

you might end up with something like two per thousand.

 

Like -

but then, you can like chicken noodle soup,

or compliments, or the color blue,

your old scarf,

your own way,

petting the dog.

 

Poetry -

but what is poetry anyway?

More than one rickety answer

has tumbled since that question first was raised.

But I keep on not knowing, and I cling to that

like a redemptive handrail.

 

( Translated by Stanislaw Barahczak and Clare Cavanagh.)

 

Niektorzy lubią poezje

 

Niektórzy -
czyli nie wszyscy.
Nawet nie większość
wszystkich ale mniejszość.
Nie licząc szkół, gdzie się musi,
i samych poetów,
będzie tych osób
chyba dwie na tysiąc.


Lubią -
ale lubi się także
rosół z makaronem,
lubi się komplementy
i kolor niebieski,
lubi się stary szalik,
lubi się stawiać na swoim,
lubi się głaskać psa.

Poezje -
tylko co to takiego poezja.
Niejedna chwiejna odpowiedz
na to pytanie już padła.
A ja nie wiem i nie wiem
i trzymam się tego
jak zbawiennej poręczy.

 

2. A Few Words On The Soul

 

We have a soul at times.
No one’s got it non-stop,
for keeps.

Day after day,
year after year
may pass without it.

Sometimes
it will settle for awhile
only in childhood’s fears and raptures.
Sometimes only in astonishment
that we are old.

It rarely lends a hand
in uphill tasks,
like moving furniture,
or lifting luggage,
or going miles in shoes that pinch.

It usually steps out
whenever meat needs chopping
or forms have to be filled.

For every thousand conversations
it participates in one,
if even that,
since it prefers silence.

Just when our body goes from ache to pain,
it slips off-duty.

It’s picky:
it doesn’t like seeing us in crowds,
our hustling for a dubious advantage
and creaky machinations make it sick.

Joy and sorrow
aren’t two different feelings for it.
It attends us
only when the two are joined.

We can count on it
when we’re sure of nothing
and curious about everything.

Among the material objects
it favors clocks with pendulums
and mirrors, which keep on working
even when no one is looking.

It won’t say where it comes from
or when it’s taking off again,
though it’s clearly expecting such questions.

We need it
but apparently
it needs us
for some reason too.

( Translated from the Polish by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh.)

 

 A Little on the Soul

 

Periodically one has a soul.
Nobody has it all the time and forever.

 

Day after day, year after year
can pass without it.

 

Sometimes only in rapture
and in fears of childhood
it dwells within longer.
Sometimes only in the astonishment,
that we have become old.

 

It rarely assists us
in strenuous pursuits,
such as moving furniture,
carrying suitcases
or tromping through a road in tight shoes.

 

While filling in forms
and chopping meat
it usually takes the day off.

 

In a thousand of our conversations
it participates in one,
and not even necessarily in one,
preferring silence.

 

When our bodies start aching more and more,
it silently leaves the ward.

It's fussy:
it doesn't see us immediately in a crowd,
it sickens at our attempts at mere advantage
and the shrill clamor of business.

 

Joy and sorrow
are not all that different to it.
Only in the combination of them
does it stand up.

 

We can rely on it,
when we are certain of nothing,
and when everything seizes us.

 

Among all material objects
it likes best clocks with pendulums
and mirrors, which work fervently,
Even when nobody looks.

 

It doesn't say where it comes from
and when it will disappear next,
But it clearly awaits such questions.

 

It looks like,
as much as we need it,
also it
needs us for something too.

  

Translated from the Polish by Rick Hilles and Maja Jablonsk

 

Dusza

Duszę się miewa.
Nikt nie ma jej bez przerwy i na zawsze.

Dzień za dniem,rok za rokiem
może bez niej minąć.

Czasem tylko w zachwytach
i lękach dzieciństwa
zagnieżdża się na dłużej.
Czasem tylko w zdziwieniu,
że jesteśmy starzy.

Rzadko nam asystuje
podczas zajęć żmudnych,
jak przesuwanie mebli,
dźwiganie walizek,
czy przemierzanie drogi w ciasnych butach.

Przy wypełnianiu ankiet
i siekaniu mięsa
z reguły ma wychodne.

Na tysiąc naszych rozmów uczestniczy w jednej
a i to niekoniecznie, bo woli milczenie.

Kiedy ciało zaczyna nas boleć i boleć,
cichcem schodzi z dyżuru.

Jest wybredna:niechętnie widzi nas w tłumie,
mierzi ją nasza walka o byle przewagę
i terkot interesów.

Radość i smutek
to nie są dla niej dwa różne uczucia.
Tylko w ich połączeniu jest przy nas obecna.

Możemy na nią liczyć
kiedy niczego nie jesteśmy pewni,
a wszystkiego ciekawi.

Z przedmiotów materialnych
lubi zegary z wahadłem
i lustra, które pracują gorliwie,
nawet gdy nikt nie patrzy.

Nie mówi skąd przybywa
i kiedy znowu nam zniknie,
ale wyraźnie czeka na takie pytania.

Wygląda na to,
że tak jak ona nam,
również i my
jesteśmy jej na coś potrzebni. 

 

3. The End and The Begining

 

After every war
someone has to clean up.
Things won’t
straighten themselves up, after all.

Someone has to push the rubble
to the side of the road,
so the corpse-filled wagons
can pass.

Someone has to get mired
in scum and ashes,
sofa springs,
splintered glass,
and bloody rags.

Someone has to drag in a girder
to prop up a wall.
Someone has to glaze a window,
rehang a door.

Photogenic it’s not,
and takes years.
All the cameras have left
for another war.

We’ll need the bridges back,
and new railway stations.
Sleeves will go ragged
from rolling them up.

Someone, broom in hand,
still recalls the way it was.
Someone else listens
and nods with unsevered head.
But already there are those nearby
starting to mill about
who will find it dull.

From out of the bushes
sometimes someone still unearths
rusted-out arguments
and carries them to the garbage pile.

Those who knew
what was going on here
must make way for
those who know little.
And less than little.
And finally as little as nothing.

In the grass that has overgrown
causes and effects,
someone must be stretched out
blade of grass in his mouth
gazing at the clouds. 

 

( Bản dịch Joanna Trzeciak.)

 

The End and The Beginning

 

After every war

someone's got to tidy up.

Things won't pick

themselves up, after all.

 

Someone's got to shove

the rubble to the roadsides

so the carts loaded with corpses

can get by.

 

Someone's got to trudge

through sludge and ashes,

through the sofa springs,

the shards of glass,

the bloody rags.

 

Someone's got to lug the post

to prop the wall,

someone's got to glaze the window,

set the door in its frame.

 

No sound bites, no photo opportunities

and it take years.

All the cameras have gone

to other wars.

 

The bridges need to be rebuilt,

the railroad stations, too.

Shirt sleeves will be rolled

to shreds.

 

Someone, broom in hand,

still remember how it was.

Someone else listen, nodding

his unshattered head.

But others are bound to be bustling nearby

who'll find all that

a little boring.

 

From time to time someone still must

dog up a rusted argument

from underneath a bush

and haul it off to the dump.

 

Those who knew

what this was all about

must make way for those

who know little.

And less than that.

And at last nothing less

than nothing.

 

Someone's got to lie there

in the grass that covers up

the causes and effects

with a cornstalk in his teeth,

gawking at clouds.

 

(Trích The vintage Book of Contemporary Poetry, 144. )

 

The End and the Beginning

After every war
someone must clean up.
No sort of orderliness
happens by itself.

Someone has to push the rubble
to the side of the roads
so that the wagons full of corpses
can get through.

Someone has to wade through
the slime and ashes,
the couch springs,
the glass splinters
and bloody rags.

Someone has to drag in a beam
to support a wall,
someone must glaze a window
and hang the door on hinges.

This is not photogenic
and takes years.
All the cameras have already driven off
to another war.

The bridges have to be built again
and the station, too.
Sleeves will be in tatters
from being rolled up.

Someone with mop in hand
still remembers how it was.
Someone is listening,
nodding with a head not torn off.
But already people are
beginning to congregate,
who will be bored by all this.

From time to time someone must still
dig up a rusted argument
from underneath a bush
and haul it to the garbage dump.

Those who knew
what this was all about
must make way for those
who know little.
And less than little.
And finally as much as nothing.

In the grass, which has grown over
the causes and effects,
someone must lie
with an stalk of grass in his teeth
and gaze at the clouds.

( Translated by Walter Whipple.)

 

Koniec i poczatek


Po każdej wojnie
ktoś musi posprzątać.
Jaki taki porządek
sam się przecież nie zrobi.

Ktoś musi zepchnąć gruzy
na pobocza dróg,
żeby mogły przejechać
wozy pełne trupów.

Ktoś musi grzęznąc
w szlamie i popiele,
sprężynach kanap,
drzazgach szkła
i krwawych szmatach.

Ktoś musi przywlec belkę
do podparcia ściany,
ktoś oszklić okno
i osadzić drzwi na zawiasach.

Fotogeniczne to nie jest
i wymaga lat.
Wszystkie kamery wyjechały już
na inną wojnę.

Mosty trzeba z powrotem
i dworce na nowo.
W strzępach będą rękawy
od zakasywania.

Ktoś z miotłą w rękach
wspomina jeszcze jak było.
Ktoś słucha
przytakując nie urwaną głową.
Ale już w ich pobliżu
zaczną kręcić się tacy,
których to będzie nudzić.

Ktoś czasem jeszcze
wykopie spod krzaka
przeżarte rdzą argumenty
i poprzenosi je na stos odpadków.

Ci, co wiedzieli
o co tutaj szło,
musza ustąpić miejsca tym,
co wiedzą mało.
I mniej niż mało.
I wreszcie tyle co nic.

W trawie, która porosła
przyczyny i skutki,
musi ktoś sobie leżeć
z kłosem w zębach
i gapić się na chmury.

 

4. The Silence of Plants

 

Our one-sided acquaintance

grows quite nicely.

 

I know what a leaf, petal, ear, cone, stalk is,

what April and December do to you.

 

Although my curiosity is not reciprocal,

I specially stoop over some of you,

and crane my neck at  others.

 

I've got a list of names for you:

maple, burdock, hepatica,

mistletoe, heath, juniper, forget-me-not,

but you have none for me.

 

We're traveling together.

But fellow passengers usually chat,

exchange remarks at least about the weather,

or about the stations rushing past.

 

We wouldn't lack  for topics: we've got a lot in common.

The cast shadows based on the same laws.

We try to understand things, each in our own way,

and what we don't know brings us closer too.

 

I'll explain as best I can, just ask me:

what seeing with two eyes is like,

what my heart beats for,

and why my body isn't rooted down.

 

But how to answer unasked questions,

while being furthermore a being so totally

a nobody to you.

 

Undergrowth, coppices, meadows, rushes -

everything I tell you is a monologue,

and it's not you  who listens.

 

Talking with you is essential and impossible.

Urgent in this hurried life

and postponed to never.

 

(Translated byStanislaw Barahczak and Clare Cavanagh.)

 

The Silence of Plants

 

A one-sided relationship is developing quite well between you and me.
I know what a leaf, petal, kernel, cone, and stem are,
and I know what happens to you in April and December.

Though my curiosity is unrequited,
I gladly stoop for some of you, 
and for others I crane my neck.

I have names for you:
maple, burdock, liverwort,
eather, juniper, mistletoe, and forget-me-not;
but you have none for me.

After all, we share a common journey.
When traveling together, it's normal to talk,
exchanging remarks, say, about the weather,
or about the stations flashing past.

We wouldn't run out of topics 
for so much connects us.
The same star keeps us in reach.
We cast shadows according to the same laws.
Both of us at least try to know something, 
each in our own way,
and even in what we don't know 
there lies a resemblance.

Just ask and I will explain as best I can:
what it is to see through my eyes,
why my heart beats,
and how come my body is unrooted.

But how does someone answer questions 
which have never been posed,
and when, on top of that
the one who would answer 
is such an utter nobody to you?

Undergrowth, shrubbery, 
meadows, and rushes…
everything I say to you is a monologue,
and it is not you who's listening.

A conversation with you is necessary 
and impossible,
urgent in a hurried life
and postponed for never.

(Trnaslated by Joanna Trezeciak.)

 

Milczenieroslin ( Milczenie Roselin )

Jednostronna znajomość między mną a wami
rozwija się nie najgorzej.

Wiem co listek, co płatek, kłos, szyszka, łodyga,
i co się z wami dzieje w kwietniu, a co w grudniu.

Chociaż moja ciekawość jest bez wzajemności,
nad niektórymi schylam się specjalnie,
a ku niektórym z was zadzieram głowę.

Macie u mnie imiona:
klon, łopian, przylaszczka,
wrzos, jałowiec, jemioła, niezapominajka,
a ja u was żadnego.

Podróż nasza jest wspólna.
W czasie wspólnych podróży rozmawia się przecież,
wymienia się uwagi choćby o pogodzie,
albo o stacjach mijanych w rozpędzie.

Nie brakłoby tematów, bo łączy nas wiele.
Ta sama gwiazda trzyma nas w zasięgu.
Rzucamy cienie na tych samych prawach.
Próbujemy coś wiedzieć, każde na swój sposób,
a to, czego nie wiemy, to też podobieństwo.

Objaśnię jak potrafię, tylko zapytajcie:
co to takiego oglądać oczami,
po co serce mi bije
i czemu moje ciało nie zakorzenione.

Ale jak odpowiadać na niestawiane pytania,
jeśli w dodatku jest się kimś
tak bardzo dla was nikim.

Porośla, zagajniki, łąki i szuwary - 
wszystko, co do was mówię, to monolog,
i nie wy go słuchacie.

Rozmowa z wami konieczna jest i niemożliwa. 
Pilna w życiu pospiesznym
i odłożona na nigdy. 


5. Possibilities

 

I prefer movies.
I prefer cats.
I prefer the oaks along the Warta.
I prefer Dickens to Dostoyevsky.
I prefer myself liking people
to myself loving mankind.
I prefer keeping a needle and thread on hand, just in case.
I prefer the color green.
I prefer not to maintain
that reason is to blame for everything.
I prefer exceptions.
I prefer to leave early.
I prefer talking to doctors about something else.
I prefer the old fine-lined illustrations.
I prefer the absurdity of writing poems
to the absurdity of not writing poems.
I prefer, where love's concerned, nonspecific anniversaries
that can be celebrated every day.
I prefer moralists
who promise me nothing.
I prefer cunning kindness to the over-trustful kind.
I prefer the earth in civvies.
I prefer conquered to conquering countries.
I prefer having some reservations.
I prefer the hell of chaos to the hell of order.
I prefer Grimms' fairy tales to the newspapers' front pages.
I prefer leaves without flowers to flowers without leaves.
I prefer dogs with uncropped tails.
I prefer light eyes, since mine are dark.
I prefer desk drawers.
I prefer many things that I haven't mentioned here
to many things I've also left unsaid.
I prefer zeroes on the loose
to those lined up behind a cipher.
I prefer the time of insects to the time of stars.
I prefer to knock on wood.
I prefer not to ask how much longer and when.
I prefer keeping in mind even the possibility
that existence has its own reason for being. 

 

(Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavavagh.)

 

Possibilities

I prefer the cinema.
I prefer cats.
I prefer oak-trees by the Warta.
I prefer Dickens to Dostoyevsky.
I prefer myself liking humans
to myself loving humanity.
I prefer having a thread with a needle close at hand.
I prefer green.
I prefer not claiming that
the intellect should be blamed for everything.
I pefer exceptions.
I prefer leaving before.
I prefer talking to doctors about something else.
I prefer old marked illustrations.
I prefer being laughable because of writing poems 
to being laughable because of not writing them.
I prefer odd anniversaries in love life,
to be celebrated every day.
I prefer moralists 
who do not promise me anything.
I prefer calculated goodness to goodness that is too gullible.
I prefer the earth in civvy street.
I prefer conquered countries to the conquering ones. 
I prefer having my objections.
I prefer the hell of chaos to the hell of order.
I prefer Grimm tales to the first pages of newspapers.
I prefer leaves without flowers to flowers without leaves.
I prefer dogs with their tails unclipped.
I prefer fair eyes since mine are dark.
I prefer drawers.
I prefer many things I have not listed above
to many others unlisted here.
I prefer noughts that are loose
to those queueing for a digit.
I prefer insect time to stellar time.
I prefer touching wood.
I prefer not asking how much longer and when.
I prefer considering even such a possibility
that existence has its reasons.

 

(Translated by Mikolaj Sekrecki.)

 

Mozliwosci

 

Wolę kino.
Wolę koty.
Wolę dęby nad Wartą.
Wolę Dickensa od Dostojewskiego.
Wolę siebie lubiącą ludzi
niż siebie kochającą ludzkość.
Wolę mieć w pogotowiu igłę z nitką.
Wolę kolor zielony.
Wolę nie twierdzić,
że rozum jest wszystkiemu winien.
Wolę wyjątki.
Wolę wychodzić wcześniej.
Wolę rozmawiać z lekarzami o czymś innym.
Wolę stare ilustracje w prążki.
Wolę śmieszność pisania wierszy
od śmieszności ich niepisania.
Wolę w miłości rocznice nieokrągłe,
do obchodzenia na co dzień.
Wolę moralistów,
którzy nie obiecują mi nic.
Wolę dobroć przebiegłą od łatwowiernej za bardzo.
Wolę ziemię w cywilu.
Wolę kraje podbite niż podbijające.
Wolę mieć zastrzeżenia.
Wolę piekło chaosu od piekła porządku.
Wolę bajki Grimma od pierwszych stron gazet.
Wolę liście bez kwiatów niż kwiaty bez liści.
Wolę psy z ogonem nie przyciętym.
Wolę oczy jasne, ponieważ mam ciemne.
Wolę szuflady.
Wolę wiele rzeczy, których tu nie wymieniłam,
od wielu również tu nie wymienionych.
Wolę zera luzem
niż ustawione w kolejce do cyfry.
Wolę czas owadzi od gwiezdnego.
Wolę odpukać.
Wolę nie pytać jak długo jeszcze i kiedy.
Wolę brać pod uwagę nawet tę możliwość,
że byt ma swoją rację.

 

6. Clouds

 

I’d have to be really quick
to describe clouds -
a split second’s enough
for them to start being something else.

Their trademark:
they don’t repeat a single 
shape, shade, pose, arrangement.

Unburdened by memory of any kind, 
they float easily over the facts.

What on earth could they bear witness to? 
They scatter whenever something happens.

Compared to clouds, 
life rests on solid ground, 
practically permanent, almost eternal.

Next to clouds
even a stone seems like a brother, 
someone you can trust, 
while they’re just distant, flighty cousins.

Let people exist if they want,
and then die, one after another:
clouds simply don't care
what they're up to
down there.

And so their haughty fleet
cruises smoothly over your whole life
and mine, still incomplete.

They aren't obliged to vanish when we're gone.
They don't have to be seen while sailing on.

(Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh) 

 

Chmury


Z opisywaniem chmur 
musiałabym się bardzo śpieszyć -
już po ułamku chwili 
przestają być te, zaczynają być inne.

Ich właściwością jest 
nie powtarzać się nigdy
w kształtach, odcieniach, pozach i układzie.

Nie obciążone pamięcią o niczym, 
unoszą się bez trudu nad faktami.

Jacy tam z nich świadkowie czegokolwiek -
natychmiast rozwiewają się na wszystkie strony.

W porównaniu z chmurami 
życie wydaje się ugruntowane, 
omalże trwałe i prawie że wieczne.

Przy chmurach
nawet kamień wygląda jak brat, 
na którym można polegać, 
a one, cóż, dalekie i płoche kuzynki.

Niech sobie ludzie będą, jeśli chcą,
a potem po kolei każde z nich umiera,
im, chmurom nic do tego
wszystkiego
bardzo dziwnego.

Nad całym Twoim życiem
i moim, jeszcze nie całym,
paradują w przepychu, jak paradowały.

Nie mają obowiązku razem z nami ginąć.
Nie muszą być widziane, żeby płynąć. 

 

7. Vietnam

"Woman, what's your name?"  "I don't know."
"How old are you?  Where are you from?"  "I don't know."
"Why did you dig that burrow?"  "I don't know."
"How long have you been hiding?"  "I don't know."
"Why did you bite my finger?"  "I don't know."
"Don't you know that we won't hurt you?"  "I don't know."
"Whose side are you on?"  "I don't know."
"This is war, you've got to choose."  "I don't know."
"Does your village still exist?"  "I don't know."
"Are those your children?"  "Yes."

 

8. We Knew the World Backwards and Forwards

 

We knew the world backwards and forwards 
So small it fit in a handshake 
So easy it could be described in a smile 
As plain as the echoes of old truths and a prayer


History did not greet us with triumphant fanfare 
It flung dirty sand in our eyes 
Ahead of us were distant roads leading nowhere 
Poisoned wells, bitter bread


The spoils of war is our knowledge of the world 
So large it fits in a handshake 
So hard it could be described in a smile 
As strange as the echoes of old truths and a prayer
.

 

( Translated from the Polish by Joanna Trzeciak )

 

Świat umieliśmy kiedyś…

 

 Świat umieliśmy kiedyś na wyrywki: 
- był tak mały, że się mieścił w uścisku dwu rąk, 
tak łatwy, że się dawał opisać uśmiechem, 
tak zwykły, jak w modlitwie echo starych prawd

 

Nie witała historia zwycięską fanfarą: 
- sypnęła w oczy brudny piach. 
Przed nami były drogi dalekie i ślepe, 
zatrute studnie, gorzki chleb. 
 

Nasz łup wojenny to wiedza o świecie: 
- jest tak wielki, że się mieści w uścisku dwu rąk, 
tak trudny, że się daje opisać uśmiechem, 
tak dziwny, jak w modlitwie echo starych prawd

 

9. Some People

 

Some people flee some other people.
In some country under a sun
and some clouds.

 

They abandon something like all they’ve got,
sown fields, some chickens, dogs,
mirrors in which fire now preens.

 

Their shoulders bear pitchers and bundles.
The emptier they get, the heavier they grow.

 

What happens quietly: someone’s dropping from exhaustion.
What happens loudly: someone’s bread is ripped away,
someone tries to shake a limp child back to life.

 

Always another wrong road ahead of them,
always another wrong bridge
across another oddly reddish river.
Around them, some gunshots, now nearer, now farther away,
above them a plane sort of circles.

 

Some invisibility would come in handy,
some grayish stoniness,
or, better yet, some nonexistence
for a shorter or a longer while.

 

Something else will happen, only where and what.
Someone will come at them, only when and who,
in how many shapes, with what intentions.
If he has a choice,
maybe he won’t be the enemy
and will let them live some sort of life.

 

( Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh. )

 

Some People

 

Some people fleeing some other people. 
In some country under the sun 
and some clouds. 

They leave behind some of their everything, 
sown fields, some chickens, dogs, 
mirrors in which fire now sees itself reflected. 

On their backs are pitchers and bundles, 
the emptier, the heavier from one day to the next. 

Taking place stealthily is somebody's stopping, 
and in the commotion, somebody's bread somebody's snatching 
and a dead child somebody's shaking. 

In front of them some still not the right way, 
nor the bridge that should be 
over a river strangely rosy. 
Around them, some gunfire, at times closer, at times farther off, 
and, above, a plane circling somewhat. 

Some invisibility would come in handy, 
some grayish stoniness, 
or even better, non-being 
for a little or a long while.

Something else is yet to happen, only where and what? 
Someone will head toward them, only when and who, 
in how many shapes and with what intentions? 
Given a choice, 
maybe he will choose not to be the enemy and 
leave them with some kind of life.

 

( Translated by Joanna Trzeciak.)

 

Jacys Ludzie

 

Jacyś ludzie w ucieczce przed jakimiś ludźmi.
W jakimś kraju pod słońcem
i niektórymi chmurami.

Zostawiają za sobą jakieś swoje wszystko,
obsiane pola, jakieś kury, psy,
lusterka, w których właśnie przegląda się ogień.

Mają na plecach dzbanki i tobołki,
im bardziej puste, tym z dnia na dzień cięższe.

Odbywa się po cichu czyjeś ustawanie,
a w zgiełku czyjeś komuś chleba wydzieranie
i czyjeś martwym dzieckiem potrząsanie.

Przed nimi jakaś wciąż nie tędy droga,
nie ten, co trzeba most
nad rzeką dziwnie różową.
Dokoła jakieś strzały, raz bliżej, raz dalej,
w górze samolot trochę kołujący.

Przydałaby się jakaś niewidzialność,
jakaś bura kamienność,
a jeszcze lepiej niebyłość
na pewien krótki czas albo i długi.

Coś jeszcze się wydarzy, tylko gdzie i co.
Ktoś wyjdzie im naprzeciw, tylko kiedy, kto,
w ilu postaciach i w jakich zamiarach.
Jeśli będzie miał wybór,
może nie zechce być wrogiem
i pozostawi ich przy jakimś życiu. 

 

10. Four a.m.

 

The hour between night and day.
The hour between toss and turn.
The hour of thirty-year-olds.

The hour swept clean for rooster's crowing.
The hour when the earth takes back its warm embrace.
The hour of cool drafts from extinguished stars.
The hour of do-we-vanish-too-without-a-trace.

Empty hour.
Hollow. Vain.
Rock bottom of all the other hours.

No one feels fine at four a.m.
If ants feel fine at four a.m.,
we're happy for the ants. And let five a.m. come
if we've got to go on living.


 ( Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh )

 

Four in the Morning

 

The hour from night to day.

The hour from side to side.

The hour for those past thirty.

 

The hour swept clean to the crowing of cocks.

The hour when earth betrays us.

The hour when wind blows from extinguished stars.

The hour of and-what-if-nothing-remains-after -us.

 

The hollow hour.

Blank, empty.

The very pit of all other hours.

 

No one feels good at hour in the morning

- three cheers for the ants. And let five o'clock come

If we're to go on living.

 

(Translated by Magus J. Krynski and Robert A. Maguire )

 

Czwarta nad ranem

 

Godzina z nocy na dzień.
Godzina z boku na bok.
Godzina dla trzydziestoletnich.

Godzina uprzątnięta pod kogutów pianie.
Godzina, kiedy ziemia zapiera nas.
Godzina, kiedy wieje od wygasłych gwiazd.
Godzina a-czy-po-nas-nic-nie-pozostanie. 

Godzina pusta.
Głucha, czcza.
Dno wszystkich innych godzin.

Nikomu nie jest dobrze o czwartej nad ranem.
Jeśli mrówkom jest dobrze o czwartej nad ranem
- pogratulujmy mrówkom. I niech przyjdzie piąta,
o ile mamy dalej żyć.

11. Brueghel's Two Monkeys


This is what I see in my dreams about final exams: 
two monkeys, chained to the floor, sit on the windowsill, 
the sky behind them flutters, 
the sea is taking its bath.


The exam is History of Mankind. 
I stammer and hedge.


One monkey stares and listens with mocking disdain, 
the other seems to be dreaming away -- 
but when it's clear I don't know what to say 
he prompts me with a gentle 
clinking of his chain.

 

 ( Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanag)

 

Two Monkeys by Brueghel

(trans. từ tiếng Ba Lan của Magnus Kryski)

 

I keep dreaming of my graduation exam:

in a window sit two chained monkeys,

beyond the window floats the sky,

and the sea splashes.

 

I am taking an exam on the history of mankind:

I stammer and flounder.

 

One monkey, eyes fixed upon me, listens ironically,

the other seems to be dozing--

and when silence follows a question,

he prompts me

with a soft jingling of the chain.

 

Dwie Malpy Bruegla

 

Tak wygląda mój wielki maturalny sen:
siedzą w oknie dwie małpy przykute łańcuchem,
za oknem fruwa niebo
i kąpie się morze.

Zdaję z historii ludzi.
Jąkam się i brnę.

Małpa wpatrzona we mnie, ironicznie słucha,
druga niby to drzemie —
a kiedy po pytaniu nastaje milczenie,
podpowiada mi
cichym brzękaniem łańcucha. 

 

12. The Tower of Babel

 

"What time is it?" "Oh yes, I'm so happy;
all I need is a little bell round my neck
to jingle over you while you're asleep."
"Didn't you hear the storm? The north wind shook
the walls; the tower gate, like a lion's maw,
yawned on its creaking hinges." "How could you
forget? I had on that plain gray dress
that fastens on the shoulder." "At that moment,
myriad exploswns shook the sky." "How could I
come in? You weren't alone, affer all." "I glimpsed
colors older than sight itself" "Too bad
you can't promise me." "You're right, it must have been
a dream." "Why all these lies; why do you call me
by her name; do you still love her?" "Of course,
I want you to stay with me." "I can't
complain. I should have guessed myself."
"Do you still think about him?" "But I'm not crying."
"That's all there is?" "No one but you."
"At least you're honest." "Don't worry,
I'm leaving town." "Don't worry,
I'm going." "You have such beautiful hands."
"That's ancient historv; the blade went through,
but missed the bone." "Never mind, darling,
never mind." "I don't know
what time it is, and I don't care.

 

( Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh )

 

Na wieezy Babel

 

- Która godzina? - Tak, jestem szczęśliwa,

i brak mi tylko dzwoneczka u szyi,

który by brzęczał nad Tobą, gdy śpisz.

- Więc nie słyszałaś burzy? Murem targnął wiatr,

wieża ziewnęła jak lew, wielką bramą

na skrzypiących zawiasach. - Jak to, zapomniałeś?

Miałam na sobie zwykłą szarą suknię

spinaną na ramieniu. - I natychmiast potem

niebo pękło w stubłysku. - Jakże mogłam wejść,

przecież nie byłeś sam. - Ujrzałem nagle

kolory sprzed istnienia wzroku. - Szkoda,

że nie możesz mi przyrzec. - Masz słuszność,

widocznie to był sen. - Dlaczego kłamiesz,

dlaczego mówisz do mnie jej imieniem,

kochasz ją jeszcze? - O tak, chciałbym,

żebyś została ze mną. - Nie mam żalu,

powinnam była domyślić się tego.

- Wciąż myślisz o nim? - Ależ ja nie płaczę.

- I to juź wszystko? - Nikogo jak ciebie.

- Przynajmniej jesteś szczera. - Bądź spokojny,

wyjadę z tego miasta. - Bądź spokojna,

odejdę stąd. - Masz takie piękne ręce.

- To stare dzieje, ostrze przeszło

nie naruszając kości. - Nie ma za co,

mój drogi, nie ma za co. - Nie wiem

i nie chcę wiedzieć, która to godzina.

 

13. Nothing's A Gift

 

Nothing's a gift, it's all on loan.

I'm drowning in debts up to my ears.

I'll have to pay for myself

with my self,

give up my life for my life.

 

Here's how it's arranged:

The heart can be repossessed,

the liver, too,

and each single finger and toe.

 

Too late to tear up the terms,

my debts will be repaid,

and I'll be fleeced,

or, more precisely, flayed.

 

I move about the planet

in a crush of other debtors.

some are saddled with the burden

of paying off their wings.

Others must, willy-nilly,

account for every leaf.

 

Every tissue in us lies

on the debit side.

Not a tentacle or tendril

is for keeps.

 

The inventory, infinitely detailed,

implies we'll be left

not just empty-handed

but handless too.

 

I can't remember

where, when, and why

I let someone open

this account in my name.

 

We call the protest against this

the soul.

And it's the only item

not included on the list.

 

(Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh)

 

Nothing's a Gift

 

Nothing's a gift, everything is borrowed.
I'm drowning in debts up to my ears.
I will be forced
to pay for myself with myself,
to give my life for my life.

It has been appointed
that the heart must be returned,
and the liver, too,
and each individual finger.

It's too late to cancel the contract.
Debts will be extracted from me
along with my skin.

I wander this earth
amid a throng of fellow debtors.
Some are burdened by the obligation
of paying off their wings.
Others, like it or not,
are charged for their leaves

 

The Debt side encumbers
each tissue in us.
There is no eyelash, no petiole
to keep forever.

The register is meticulous
and it's evident that
we are to be left with nothing.

I can't remember
where, when and why
I consented to open
this account.

The protest against this account
is what we call the soul.
And it is the only thing
not on the list.

 

( Translated by Walter Whipple.)

 

Nic Darowane 

 

Nic darowane, wszystko pożyczone.
Tonę w długach po uszy.
Będę zmuszona sobą
zapłacić za siebie,
za życie oddać życie.

Tak to już urządzone,
że serce do zwrotu
i wątroba do zwrotu
i każdy palec z osobna.

Za późno na zerwanie warunków umowy.
Długi będą ściągnięte ze mnie
wraz ze skórą.

Chodzę po świecie
w tłumie innych dłużników.
Na jednych ciąży przymus
spłaty skrzydeł.
Drudzy chcąc nie chcąc
rozliczą się z liści.

Po stronie Winien
wszelka tkanka w nas.
żadnej rzęski, szypułki
do zachowania na zawsze.

Spis jest dokładny
i na to wygląda,
że mamy zostać z niczym.

Nie mogę sobie przypomnieć
gdzie, kiedy i po co
pozwoliłam otworzyć sobie
ten rachunek.

Protest przeciwko niemu
nazywamy duszą.
I to jest to jedyne,
czego nie ma w spisie.

 

14. Thank You Note

 

i owe so much
to those i don't love

 

the relief as i agree
that someone else needs them more

 

the happiness that i am not
the wolf to their sheep

 

the peace i feel with them
the freedom -
love can neither give
nor take that

 

i don't wait for them
as in window-to-door-and-back
almost as patient
as a sundial
i understand
what love can't
and forgive
as love never would

 

from a rendezvous to a letter
is just a few days or weeks
not an eternity

 

trips with them always go smoothly
concerts are heard
cathedrals visited
scenery is seen

 

and when seven hills and rivers
come between us
the hills and rivers
can be found on any map

 

the deserve the credit
if i live in three dimensions
in nonlyrical and nonrhetorical space
with a genuine, shifting horizon

 

they themselves don't realize
how much they hold in their empty hands

 

( Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh)

 

Thank You Note

 

"i don't owe them a thing"
would be love's answer
to this open question

    

I owe a lot to those I don't love. 
Relief, with which I approve 
that they are closer to someone else. 

Joy that it's not me who the wolf 
among their sheeps. 

I have peace with them 
and I am free with them, 
and this is what love can 
neither give nor take. 

I don't wait for them 
from window to door. 
Patient 
almost like a solar clock, 
I understand 
what love doesn't, 
I forgive, 
what love would never forgive. 

Between a meeting and a letter 
there is not an eternity, 
but simply a few days or weeks. 

My journeys with them are always successful, 
concerts heard, 
cathedrals visited, 
landscapes clear. 

And when we're separated 
by seven mountains and rivers, 
they are mountains and rivers 
well known from the maps. 

It's only thanks to them, 
that I live in three dimensions, 
in space unlyrical and unrhetorical, 
with real since stable horizon. 

They don't know themselves, 
how much they carry in their empty hands. 

'I don't owe them anything' - 
love would say 
about this open topic.

 

( Translated by Fatih  Akgul.)

 

Podziekowanie

 

Wiele zawdzięczam 
tym, których nie kocham.

 

Ulgę, z jaką się godzę, 
że bliżsi są komu innemu.

 

Radość, że nie ja jestem 
wilkiem ich owieczek.

 

Pokój mi z nimi 
i wolność mi z nimi, 
a tego miłość ani dać nie może, 
ani brać nie potrafi.

 

Nie czekam na nich

od okna do drzwi.

Cierpliwa

prawie jak słoneczny zegar.

Rozumiem,

czego miłość nie rozumie.

Wybaczam,

czego miłość nie wybaczyłaby nigdy

 

Od spotkania do listu 
nie wieczność upływa, 
ale po prostu kilka dni albo tygodni.

 

Podróże z nimi zawsze są udane, 
koncerty wysłuchane, 
katedry zwiedzone, 
krajobrazy wyraźne.

 

A kiedy nas rozdziela 
siedem gór i rzek, 
są to góry i rzeki 
dobrze znane z mapy.

 

Ich zasługą, 
jeżeli żyję w trzech wymiarach, 
w przestrzeni nielirycznej i nieretorycznej 
z prawdziwym, bo ruchomym horyzontem.

 

Sami nie wiedzą, 
ile niosą w rękach pustych. 
"Nic im nie jestem winna" - 
powiedziałaby miłość 
na ten otwarty temat.

 

15. Advertisement  

 

i am a tranquillizer
i am effective at home
i work in the office
i can take exams
or the witness stand
i mend broken cups with care
all you have to do is take me
let me melt beneath your tongue
just gulp me
with a glass of water

i know how to handle misfortune
how to take bad news
i can minimize injustice
lighten up god's absence
or pick up the widows veil that suits your face
what are you waiting for - 
have faith in my technical compassion

you're still a young man/woman
it's not too late to learn how to unwind
who said
you have to take it on the chin?

let me have your abiss
i'll cushion it with sleep

you'll thanks me for giving you
four paws to fall on

sell me your soul
there are no other takers
there is no devil any more

 

(Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh)

 

The brochure

I’m your transquilizer.
I work at home, 
I’m effective in the office, 
I take exams,
I carefully glue the broken mugs – 
Just take me,
Dissolve me under your tongue, 
Just swallow me,
Just wash me down with water.
I know what to do with misery,
How to bear bad news,
To minimize injustice,
To lighten the absence of God,
To pick a mournful hat to suit your face.
What are you waiting for – 
trust the chemical mercy.
You are still young,
You should settle somehow.
Who said
that life should be lived with courage?
Give me your abyss –
I will line it with sleep,
You will be grateful to me
For feet to land on.
Sell me your soul.
No other buyer will come up.
There is no other devil

 

( http://forum.mlingua.pl/showthread.php?t=16198)

 

 Prospekt

  

Jestem pastylka na uspokojenie, 
Działam w mieszkaniu, 
skutkuję w urzędzie, 
siadam do egzaminów, 
staje na rozprawie, 
starannie sklejam rozbite garnuszki - 
tylko mnie zażyj, 
rozpuść pod językiem, 
tylko mnie połknij, 
tylko popij wodą.

Wiem, co robić z nieszczęściem, 
jak znieść złą nowinę, 
zmniejszyć niesprawiedliwość, 
rozjasnić brak Boga, 
dobrać do twarzy kapelusz żałobny. 
Na co czekasz - 
zaufaj chemicznej litości.

Jesteś jeszcze młody (młoda), 
powinieneś (powinnaś) urządzić się jakoś. 
Kto powiedział, że życie ma być odważnie przeżyte?

Oddaj mi swoją przepaść - 
wymoszczę ją snem, 
będziesz mi wdzięczny (wdzięczna) 
za cztery łapy spadania.

Sprzedaj mi swoją duszę. 
Inny się kupiec nie trafi.

Innego diabła już nie ma.

 

16. A Great Man's House

 

It was written in marble in golden letters:
here a great man lived and worked and died.
He laid the gravel for these paths personally.
This bench — do not touch — he chiseled by himself
out of stone.
And — careful, three steps — we're going inside.

He made it into the world at just the right time.
Everything that had to pass, passed in this house.
Not in a high rise,
not in square feet, furnished yet empty,
amidst unknown neighbors,
on some fifteenth floor,
where it's hard to drag school field trips.

In this room he pondered,
in this chamber he slept,
and over here he entertained guests.
Portraits, an armchair, a desk, a pipe, a globe, a flute,
a worn-out rug, a sun room.
From here he exchanged nods with his tailor and
shoemaker
who custom made for him.

This is not the same as photographs in boxes,
dried out pens in a plastic cup,
a store-bought wardrobe in a store-bought closet,
a window, from which you can see clouds better
than people.

Happy? Unhappy?
That's not relevant here.
He still confided in his letters,
without thinking they would be opened on their
way.
He still kept a detailed and honest diary,
without the fear that he would lose it during a
search.
The passing of a comet worried him most.
The destruction of the world was only in the hands
of God.

He still managed not to die in the hospital,
behind a white screen, who knows which one.
There was still someone with him who remembered
his muttered words.

He partook of life
as if it were reusable:
he sent his books to be bound;
he wouldn't cross out the last names of the dead from
his address book.
And the trees he had planted in the garden behind
the house
grew for him as Juglans regia
and Quercus rubra and Ulmus and Larix
and Fraxinus excelsior.

( Translated, from the Polish, by Joanna Trzeciak)

 

The Great Man's House

 

The marble tells us in golden syllables:

Here the great man lived, and worked, and died.

Here are the garden paths where he personally scattered the gravel.

Here's the bench - don't touch - he hewed the stone himself.

And here - watch the steps - we enter the house.

 

He managed to come into the world at what was still a fitting time.

All that was to pass passed in this house.

Not in housing projects,

not in furnished but empty quarters,

among unknown neighbors,

on fifteenth floors

that student field trip rarely reach.

 

In this room he thought,

in this alcove he slept,

and here he entertained his guests.

Portraits, armchair, desk, pipe, globe,

flute, well-worn carpet, glassed-in porch.

Here he exchanged bows with the tailor and shoemaker

who made his coats and boots to order.

 

It's not the same as photographs in boxes,

dried-out ballpoint pens in plastic cups,

store-bought clothes in store-bought closets,

a window that looks out on clouds, not passersby.

 

Was he happy? Sad?

That's not the point.

He still made confessions in letters

without thinking they'd be opened en route.

He still kept a careful, candid diary

knowing it wouldn't be seized in a search.

The thing that most frighten him was a comet's flight.

The world's doom lay then in God's hand alone.

 

He was lucky enough to die not in a hospital,

not behind some white, anonymous screen.

There was still someone there at his bedside to memorize

his mumbled words.

 

As if he had been given

a reusable life:

he sent out books to be bound,

he didn't strike the names of the dead from his ledgers.

And the trees that he planted in the garden by his house

still grew for him as Juglans regia

and Quercus rubra, and Ulmus, and Larix,

and Fraxinus exelsior.

 

Dom wielkiego człowieka

 

 Wypisano w marmurze złotymi zgłoskami:
Tu mieszkał i pracował, i zmarł wielki człowiek.
Te ścieżki osobiście posypywał żwirem.
Tę ławkę - nie dotykać - sam wykuł z kamienia.
I - uwaga, trzy schodki - wchodzimy do wnętrza.

 

Jeszcze w stosownym czasie zdążył przyjść na świat.
Wszystko, co miało mijać, minęło w tym domu.
Nie w blokach,
nie w metrażach umeblowanych a pustych, wśród nieznanych sąsiadów,
na piętnastych piętrach,
dokąd trudno by było wlec wycieczki szkolne.

 

W tym pokoju rozmyślał,
w tej alkowie spał,
a tu przyjmował gości.

Portrety, fotel, biurko, fajka, globus, flet,
wydeptany dywanik, oszklona weranda.
Stąd wymieniał ukłony z krawcem albo szewcem,
co szyli mu na miarę.

 

To nie to samo, co fotografie w pudełkach,
zeschnięte długopisy w plastykowym kubku,
konfekcja z magazynu w szafie z magazynu,
okno, skąd lepiej widzi się chmury niż ludzi.

 

Szczęśliwy? Nieszczęśliwy?
Nie o to tu chodzi.
Jeszcze zwierzał się w listach,
bez myśli, że po drodze zostaną otwarte.

Prowadził jeszcze dziennik dokładny i szczery,
bez lęku, że go straci przy rewizji.
Najbardziej niepokoił go przelot komety.
Zagłada świata była tylko w rękach Boga.

 

Udało mu się umrzeć jeszcze nie w szpitalu,
za białym parawanem nie wiadomo którym.
Był jeszcze przy nim ktoś, kto zapamiętał
wymamrotane słowa.

 

Jakby przypadło mu w udziale życie
wielokrotnego użytku:
książki słał do oprawy,
nie wykreślał z notesu nazwisk osób zmarłych.
A drzewa, które sadził w ogrodzie za domem,
rosły mu jeszcze jako juglans regia
i quercus rubra i ulmus i larix
i fraxinus exscelsior

 

17. Love at First Sight

 

They're both convinced
that a sudden passion joined them.
Such certainty is more beautiful,
but uncertainty is more beautiful still.

Since they'd never met before, they're sure
that there'd been nothing between them.
But what's the word from the streets, staircases, hallways--
perhaps they've passed by each other a million times?

I want to ask them
if they don't remember--
a moment face to face
in some revolving door?
perhaps a "sorry" muttered in a crowd?
a curt "wrong number"caught in the receiver?--
but I know the answer.
No, they don't remember.

They'd be amazed to hear
that Chance has been toying with them
now for years.

Not quite ready yet
to become their Destiny,
it pushed them close, drove them apart,
it barred their path,
stifling a laugh,
and then leaped aside.

There were signs and signals,
even if they couldn't read them yet.
Perhaps three years ago
or just last Tuesday
a certain leaf fluttered
from one shoulder to another?
Something was dropped and then picked up.
Who knows, maybe the ball that vanished
into childhood's thicket?

There were doorknobs and doorbells
where one touch had covered another
beforehand.
Suitcases checked and standing side by side.
One night. perhaps, the same dream,
grown hazy by morning.

Every beginning
is only a sequel, after all,
and the book of events
is always open halfway through.

 

Love at First Sight

Both are convinced
that a sudden surge of emotion bound them together.
Beautiful is such a certainty,
but uncertainty is more beautiful.

Because they didn't know each other earlier, they suppose that
nothing was happening between them.
What of the streets, stairways and corridors
where they could have passed each other long ago?

I'd like to ask them
whether they remember-- perhaps in a revolving door
ever being face to face?
an "excuse me" in a crowd
or a voice "wrong number" in the receiver.
But I know their answer:
no, they don't remember.

They'd be greatly astonished
to learn that for a long time
chance had been playing with them.

Not yet wholly ready
to transform into fate for them
it approached them, then backed off,
stood in their way
and, suppressing a giggle,
jumped to the side.

There were signs, signals:
but what of it if they were illegible.
Perhaps three years ago,
or last Tuesday
did a certain leaflet fly
from shoulder to shoulder?
There was something lost and picked up.
Who knows but what it was a ball
in the bushes of childhood.

There were doorknobs and bells
on which earlier
touch piled on touch.
Bags beside each other in the luggage room.
Perhaps they had the same dream on a certain night,
suddenly erased after waking.

Every beginning
is but a continuation,
and the book of events
is never more than half open.

-translated by Walter Whipple 

 

Love at First Sight

 

They’re both convinced
that a sudden passion joined them.
Such certainty is beautiful
but uncertainty is more beautiful still.

 

Since they’d never met before, they’re sure
that there’d been nothing between them.
But what’s the word from the streets, staircases, hallways –
perhaps they’ve passed each other by a million times?

 

I want to ask them
if they don’t remember –
a moment face to face
in some revolving door?
perhaps a “sorry” muttered in a crowd?
a curt “wrong number” caught in the receiver? –
but I know the answer.
No, they don’t remember.

 

They’d be amazed to hear
that Chance has been toying with them
now for years.

 

Not quite ready yet
to become their Destiny,
it pushed them close, drove them apart,
it barred their path,
stifling a laugh,
and then leaped aside.

 

There were signs and signals
even if they couldn’t read them yet.
Perhaps three years ago
or just last Tuesday
a certain leaf fluttered
from one shoulder to another?
Something was dropped and then picked up.
Who knows, maybe the ball that vanished
into childhood’s thickets?

 

There were doorknobs and doorbells
where one touch had covered another
beforehand.
Suitcases checked and standing side by side.
One night perhaps some dream
grown hazy by morning.

 

Every beginning
is only a sequel, after all,
and the book of events
is always open halfway through.


Translated by Stanisław Barańczak and Clare Cavanagh

 

miłość od pierwszego wejrzenia

 

Oboje są przekonani, 
że połączyło ich uczucie nagłe. 
Piękna jest taka pewność, 
ale niepewność piękniejsza. 

Sądzą, że skoro nie znali się wcześniej, 
nic między nimi nigdy się nie działo, 
A co na to ulice, schody, korytarze, 
na których mogli się od dawna mijać? 

Chciałabym ich zapytać, 
czy nie pamietają - 
może w drzwiach obrotowych 
kiedyś twarzą w twarz? 
jakieś "przepraszam" w ścisku? 
głos "pomyłka" w słuchawce? 
- ale znam ich odpowiedź. 
Nie, nie pamietają. 

Bardzo by ich zdziwiło, 
że od dłuższego już czasu 
bawił się nimi przypadek. 

Jeszcze nie całkiem gotów 
zamienić się dla nich w los, 
zbliżał ich i oddalał, 
zabiegał im drogę 
i tłumiąc chichot 
odskakiwał w bok. 

Były znaki, sygnały, 
cóż z tego, że nieczytelne. 
Może trzy lata temu 
albo w zeszły wtorek 
pewien listek przefrunął 
z ramienia na ramię? 
Było coś zgubionego i podniesionego. 
Kto wie, czy już nie piłka 
w zaroślach dzieciństwa? 

Były klamki i dzwonki, 
na których zawczasu 
dotyk kładł się na dotyk. 
Walizki obok siebie w przechowalni. 
Był może pewnej nocy jednakowy sen, 
natychmiast po zbudzeniu zamazany. 

Każdy przecież początek 
to tylko ciąg dalszy, 
a księga zdarzeń 
zawsze otwarta w połowie.

 

18. Divorce

 

For the kids it’s the first ending.
For the cat a new master.
For the dog a new mistress.
For the furniture stairs, noise, moving to and fro.
For the walls faint outlines left by the taken down art.
For the neighbours a topic, a break in boredom.
For the car better it was two.
For the novels, poetry - agreed, take your pick.
Worse off are the encyclopedia, the home theatre,
and the writers style manual,
with its clues in regards to two names - 
should they still be connected by a conjunction,
or separated by a full stop.

 

(translated by lare avasnagh & Stanislaw Barranczak.)

 

Divorce

 

For the kids the first ending of the world.
For the cat a new master.
For the dog a new mistress.
For the furniture stairs, thuds, my way or the highway.
For the walls bright squares where pictures once hung.
For the neighbors new subjects, a break in the boredom.
For the car better if there were two.
For the novels, the poems--fine, take what you want.
Worse with encyclopedias and VCRs,
not to mention the guide to proper usage,
which doubtless holds pointers on two names--
are they still linked with the conjunction "and"
or does a period divide them.

Rozwód

 

Dla dzieci pierwszy w życiu koniec świata.

Dla kotka nowy Pan.

Dla pieska nowa Pani.

Dla mebli schody, łomot, wóz i przewóz.

Dla ścian jasne kwadraty po zdjętych obrazach.

Dla sąsiadów z parteru temat, przerwa w nudzie.

Dla samochodu lepiej gdyby były dwa.

Dla powieści, poezji – zgoda, bierz co chcesz.

Gorzej z encyklopedią i sprzętem wideo,

no i z tym poradnikiem poprawnej pisowni,

gdzie chyba są wskazówki w kwestii dwojga imion -

czy jeszcze łączyć je spójnikiem „i”,

czy już rozdzielać kropką.

 

19. The Three Oddest Words

 

When I pronounce the word Future,
the first syllable already belongs to the past.

When I pronounce the word Silence,
I destroy it.

When I pronounce the word Nothing,
I make something no non-being can hold.

 

( Translated by S. Baranczak & C. Cavanagh.)

 

Trzy słowa najdziwniejsze

 

Kiedy wymawiam słowo Przyszłość,

pierwsza sylaba odchodzi już do przeszłości.

 

Kiedy wymawiam słowo Cisza,

niszczę ją.

Kiedy wymawiam słowo Nic,

stwarzam coś, co nie mieści się w żadnym niebycie

 

20. Receiver

 

I dream that i'm woken

by the telephone.

 

I dream the certeainty

that someone dead is calling.

 

I dream that i reach

for the receiver.

 

Only the receiver's not how it used to be,

it's gotten heavy

as if had grabbed onto something,

grown into something,

and wrapped its roots around it.

I'd have to rip the whole Earth

out with it.

 

I dream my useless

struggles.

 

I dream the quiet,

since the ringing's stopped.

 

I dream i fall asleep

and wake up again.

 

( Translated by Clare Cavanagh and Stanislaw Baranczak.)

 

Słuchawka

 

Śni mi sie, że się budzę,
bo słyszę telefon.

 

Śni mi się pewność,
że dzwoni umarły.

 

Śni mi się, że wyciągam rękę
po słuchawkę.

 

Tylko że ta słuchawka
nie taka jak była,
stała się ciężka,
jakby do czegoś przywarła,
w coś wrosła,
coś oplotła korzeniami.
Musiałabym ją wyrwać
razem z całą Ziemią.

 

Śni mi się mocowanie moje
nadaremne.

 

Sni mi się cisza,
bo zamilknął dzwonek.

 

Śni mi się, że zasypiam
i budzę się znowu.

 

21. A Note

 

Life — the only way
to grow leaves,
catch a breath on the sand,
rise on wings;
 
to be a dog,
or to stroke a dog’s warm fur;
 
to tell pain
from everything that is not pain;
 
to inhabit events,
get lost in the sights,
look for the smallest among mistakes.
 
An exceptional chance
to remember for a while,
what was discussed 
when the lights were out;
 
and to trip over a stone 
at least once,
get drenched in some rain,
lose keys in the grass;
 
and let the eyes follow a spark in the wind; 

and perpetually not to know
something important.

~ Translated from the Polish by Danuta E. Kosk-Kosicka

 

A Note

Life is the only way
to get covered in leaves,
catch your breath on the sand,
rise on wings;

to be a dog,
or stroke its warm fur;

to tell pain
from everything it's not;

to squeeze inside events,
dawdle in views,
to seek the least of all possible mistakes.

An extraordinary chance
to remember for a moment
a conversation held
with the lamp switched off;

and if only once
to stumble upon a stone,
end up soaked in one downpour or another,

mislay your keys in the grass;
and to follow a spark on the wind with your eyes;
and to keep on not knowing
something important.” 

(translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanaugh

 

Notatka

 

„Życie – jedyny sposób
aby obrastać liśćmi,
łapać oddech na piasku,
wzlatywać na skrzydłach,

 

być psem,
albo głaskać go po ciepłej sierści;

 

odróżniać ból
od wszystkiego co nim nie jest;

 

mieścić się w wydarzeniach,
podziewać w widokach,
poszukiwać najmniejszej między omyłkami.

 

Wyjątkowa okazja,
żeby przez chwilę pamiętać,
o czym się rozmawiało
przy zgaszonej lampie;

 

i żeby raz przynajmniej
potknąć się o kamień,
zmoknąć na którymś deszczu,


zgubić klucze w trawie;
i wodzić wzrokiem za iskrą na wietrze;

 

i bez ustanku czegoś ważnego
nie wiedzieć”.

 

22. Funeral

 

"so suddenly, who could have seen it coming"

"stress and smoking, I kept telling him"

"not bad, thanks, and you"

"these flowers need to be unwrapped"

"his brother's heart gave out, too, it runs in family"

"I'd never know you in that beard"

"he was asking for it, always mixed up in something"

"that new guy was going to make a speech, I don't see him"

"Kazek's in Warsaw, Tadek has gone aboard"

"you were smart, you brought the only umbrella"

"so what if he was more talented than they were"

"no, it's a walk-through room, Barbara won't take it"

"of course. he was right, but that's no excuse"

"with body work and paint, just guess how much"

"two egg yolks and a tablespoon of sugar"

"none of his business, what was in it for him"

"only in blue and just small sizes"

"five times and never any answer"

"all right, so I could have, but you could have, too"

"good thing that at least she still had a job"

"don't know, relatives, I guess"

"that priest looks just like Belmondo"

" I've never been in this part of the grounds"

"I dreamed about him last night, I had a feeling"

"his daughter's not bad looking"

"the way of all flesh"

"give my best to the widow, I've got to run"

"it all sounded so much more solemn in Latin"

"what's gone is gone"

"goodbye"

"I could sure use a drink"

"give me a call"

"which bus goes downtown"

"I'm going this way"

"We're not"

 

( Translated by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh.)

 

Funeral

 

"so suddenly, who would've expected this"
"stress and cigarettes, I was warning him"
"fair to middling, thanks"
"unwrap these flowers"
"his brother snuffed because of his ticker too, must be running in the family"
"I'd never recognise you with your beard"
"it's all his fault, he was always up to some funny business"
"the new one was to give a speech, can't see him, though"
"Kazek's in Warsaw and Tadek abroad"
"you're the only wise one here, having an umbrella"
"it won't help him now that he was the most talented of them all"
"that's a connecting room. Baśka won't like it"
"he was right, true, but that's not the reason for"
"with door varnishing, guess how much"
"two eggs and a spoonful of sugar"
"none of his business, what was the point then"
"blue and small sizes only"
"five times and never a single answer"
"I'll give your that, I could've, but so could you"
"so good at least she had that job"
"I've no idea, must be relatives"
"the priest, very much like Belmondo"
"I've never been to this part of the cemetery"
"I saw him in my dream last week, must've been a premonition"
"pretty, that little daughter"
"we're all going to end up this way"
"give mine to the widow, I've got to hurry to"
"but still it sounded more solemn in Latin"
"you can't turn back the clock"
"goodbye"
"how about a beer"
"give me a ring, we'll have a chat"
"number four or number twelve"
"me, this way"
"we, that way".

 

( Translated by przełożył Mikołaj Sekrecki.)

 

Pogrzeb

"tak nagle, kto by się tego spodziewał"
"nerwy i papierosy, ostrzegałem go"
"jako tako, dziękuję"
"rozpakuj te kwiatki"
"brat też poszedł na serce, to pewnie rodzinne"
"z tą brodą to bym pana nigdy nie poznała"
"sam sobie winien, zawsze się w coś mieszał"
"miał przemawiać ten nowy, jakoś go nie widzę"
"Kazek w Warszawie, Tadek za granicą"
"ty jedna byłaś mądra, że wzięłaś parasol"
"cóż z tego, że był najzdolniejszy z nich"
"pokój przechodni, Baśka się nie zgodzi"
"owszem, miał rację, ale to jeszcze nie powód"
"z lakierowaniem drzwiczek, zgadnij ile"
"dwa żółtka, łyżka cukru"
"nie jego sprawa, po co mu to było"
"same niebieskie i tylko małe numery"
"pięć razy, nigdy żadnej odpowiedzi"
"niech ci będzie, że mogłem, ale i ty mogłeś"
"dobrze, że chociaż ona miała tę posadkę"
"no, nie wiem, chyba krewni"
"ksiądz istny Belmondo"
"nie byłam jeszcze w tej części cmentarza"
"śnił mi się tydzień temu, coś mnie tknęło"
"niebrzydka ta córeczka"
"wszystkich nas to czeka"
"złóżcie wdowie ode mnie, muszę zdążyć na"
"a jednak po łacinie brzmiało uroczyściej"
"było, minęło"
"do widzenia pani"
"może by gdzieś na piwo"
"zadzwoń, pogadamy"
"czwórką albo dwunastką"
"ja tędy"
"my tam"

 

23. The Courtesy of the Blind

 

A poet reads his lines to the blind.

He hadn’t guessed that it would be so hard.

 His voice trembles.

His hands shake.

 

He senses that every sentence

is put to the test of darkness.

He must muddle through alone,

without colors or lights.

 

A treacherous endeavor

for his poem’s stars,

dawn, rainbows, clouds, their neon lights, their moon,

for the fish so silvery thus far beneath the water

and the hawk so high and quiet in the sky.

 

He reads  – since it’s too late to stop now – 

about the boy in a yellow jacket on a green field,

red roofs that can be counted in the valley,

the restless numbers on soccer players shirts,

and the naked stranger standing in a half-shut door.

 

He would like to skip  – although it can’t be done – 

all the saints on that cathedral ceiling,

the parting wave from a train,

the microscope lens, the ring casting a glow,

the movie screens, mirrors, the photo albums.

 

But great is the courtesy of the blind,

great is their forbearance, their largesse.

They listen, smile and applaud.

 

One of them even comes up

with a book turned wrong side out

asking for an unseen autograph

 

Uprzejmość Niewidomych

 

Poeta czyta wiersze niewidomym.
Nie przewidywał, że to takie trudne.
Drży mu głos.
Drżą mu ręce.

 

Czuje, że każde zdanie
wystawione jest tutaj na próbę ciemności.
Będzie musiało radzić sobie samo,
bez świateł i kolorów.

 

Niebezpieczna przygoda
dla gwiazd w jego wierszach,
zorzy, tęczy, obłoków, neonów, księżyca,
dla ryby do tej pory tak srebrnej pod wodą
i jastrzębia tak cicho, wysoko na niebie.

 

Czyta - bo już za późno nie czytać -
o chłopcu w kurtce żółtej na łące zielonej,
o dających się zliczyć czerwonych dachach w dolinie,
o ruchliwych numerach na koszulkach graczy
i nagiej nieznajomej w uchylonych drzwiach.

 

Chciałby przemilczeć - choć to niemożliwe -
tych wszystkich świętych na stropie katedry,
ten pożegnalny gest z okna wagonu,
to szkiełko mikroskopu i promyk w pierścieniu
i ekrany i lustra i album z twarzami.

 

Ale wielka jest uprzejmość niewidomych,
wielka wyrozumiałość i wspaniałomyślność.
Słuchają, uśmiechają się i klaszczą.

 

Ktoś z nich nawet podchodzi
z książką otwartą na opak
prosząc o niewidzialny dla siebie autograf. 

 

24. The Day After - Without Us

 

The morning is expected to be cool and foggy.

Rainclouds

will move in from the west.

Poor visibility.

Slick highways.

 

Gradually as the day progresses

high pressure fronts from the north

make local sunshine likely.

Due to winds, though, sometimes strong and gusty,

sun may give way to storms.

 

At night

clearing across the country,

with a slight change of precipitation

only in the southeast.

Temperatures will drop sharply,

while barometric reading rise.

 

The next day

promises to be sunny,

although those still living

should bring umbrellas.

 

( Translated by Clare Cavanagh and Stanishlaw Baranczak.)

 

Nazajutrz - bez nas

 

Poranek spodziewany jest chłodny i mglisty.

Od zachodu

zaczną przemieszczać się deszczowe chmury.

Widoczność będzie słaba.

Szosy śliskie.

 

Stopniowo, w ciągu dnia,

pod wpływem klina wyżowego od północy

możliwe już lokalne przejaśnienia.

Jednak przy wietrze silnym i zmiennym w porywach

mogą wystąpić burze.

 

W nocy

rozpogodzenie prawie w całym kraju,

tylko na południowym wschodzie

niewykluczone opady.

Temperatura znacznie się obniży,

za to ciśnienie wzrośnie.

 

Kolejny dzień

zapowiada się słonecznie,

chociaż tym, co ciągle żyją

przyda się jeszcze parasol.

 

 

25. In Fact Every Poem

 

In fact every poem

might be called "Moment".

 

One phrase is enough

in the present tense,

the past and even future;

 

it's enough so that anything

borne on words

begins to rustle, sparkle,

flutter, float,

while seeming

to stay changeless

but with a shifting shadow;

 

it's enough that there is talk

of someone next to someone

or someone next to something;

 

about Sally who has a kitty

or no longer has a kitty;

 

or about other Sallys

kitties or nor kitties

from other primers

ruffled by the wind;

 

it's enough if within eyeshot

an author places temporary hills

and makeshift valleys;

 

if on this occasion

he hints at a heaven

apparently firm and enduring;

 

if there appears beneath a writing hand

at least one thing

that is called someone's

 

if in black on white,

at least in thought,

for some serious or silly reason,

question mark are placed,

and if in response,

a colon:

 

( Translated by Clare Cavanagh and Stanishlaw Baranczak.)

 

 

Właściwie każdy wiersz

 

Właściwie każdy wiersz

mógłby mieć tytuł ,,Chwila".

 

Wystarczy jedna fraza

w czasie teraźniejszym,

przeszłym, a nawet przyszłym;

 

wystarczy, że cokolwiek

niesione słowami

zaszeleści, zabłyśnie,

przefrunie, przepłynie,

czy też zachowa

rzekomą niezmienność,

ale z ruchomym cieniem;

 

wystarczy, że jest mowa

o kimś obok kogoś

albo kimś obok czegoś;

 

o Ali, co ma kota,

albo już go nie ma;

 

albo o innych Alach

kotach i nie kotach

z innych elementarzy

kartkowanych przez wiatr;

 

wystarczy, jeśli w zasięgu spojrzenia

autor umieści tymczasowe góry

i nietrwałe doliny;

 

jeśli przy okazji

napomknie o niebie

tylko z pozoru wiecznym i statecznym;

 

jeśli się zjawi pod piszącą ręką

bodaj jedyna rzecz

nazwane rzeczą czyjąś;

 

jeśli czarno na białym,

czy choćby w domyśle,

z ważnego albo błahego powodu,

postawione zostaną znaki zapytania,

a w odpowiedzi -

jeżeli dwukropek:

 

26. Nothing Twice

 

Nothing can ever happen twice. 
In consequence, the sorry fact is 
that we arrive here improvised 
and leave without the chance to practice.

 

Even if there is no one dumber, 
if you're the planet's biggest dunce, 
you can't repeat the class in summer: 
this course is only offered once.

 

No day copies yesterday, 
no two nights will teach what bliss is 
in precisely the same way, 
with exactly the same kisses.

 

One day, perhaps, some idle tongue 
mentions your name by accident: 
I feel as if a rose were flung 
into the room, all hue and scent.

 

The next day, though you're here with me, 
I can't help looking at the clock: 
A rose? A rose? What could that be? 
Is it a flower or a rock?

 

Why do we treat the fleeting day 
with so much needless fear and sorrow? 
It's in its nature not to stay: 
Today is always gone tomorrow.

 

With smiles and kisses, we prefer 
to seek accord beneath our star, 
although we're different (we concur) 
just as two drops of water are
.

 

( Translated by Clare Cavanagh and Stanishlaw Baranczak.)

 

Nothing Twice

 

Nothing happens twice
and nothing will.  For this reason, we were born without training
and we will die without a routine. 

Even if we were the dumbest students in the world
we won’t repeat
any winter nor any summer.

No day will ever repeat, there aren’t any two similar nights, no two of the same kisses,
no two identical gazes into the eyes. 

Yesterday, when your name
was spoken next to me aloud, it was for me as if a rose
fell in through an open window. 

Today, when we’re together, I turned my face towards the wall. Rose? What does a rose look like?
Is it a flower? Or maybe a stone?
Why do you, evil hour,
get confused with an unnecessary anxiety? You do – so then you must pass. You will pass – so then it’s beautiful.

Smiling, half-embracing, we’ll try to find agreement,
although we’ll differ from each other
like two drops of clear water. 

 

Nic dwa razy

  

Nic dwa razy się nie zdarza 
i nie zdarzy. Z tej przyczyny 
zrodziliśmy się bez wprawy 
i pomrzemy bez rutyny.

 

Choćbyśmy uczniami byli 
najtępszymi w szkole świata, 
nie będziemy repetować 
żadnej zimy ani lata.

 

Żaden dzień się nie powtórzy, 
nie ma dwóch podobnych nocy, 
dwóch tych samych pocałunków, 
dwóch jednakich spojrzeń w oczy.

 

Wczoraj, kiedy twoje imię 
ktoś wymówił przy mnie głośno, 
tak mi było, jakby róża 
przez otwarte wpadła okno.

 

Dziś, kiedy jesteśmy razem, 
odwróciłam twarz ku ścianie. 
Róża? Jak wygląda róża? 
Czy to kwiat? A może kamień?


Czemu ty się, zła godzino, 
z niepotrzebnym mieszasz lękiem? 
Jesteś - a więc musisz minąć. 
Miniesz - a więc to jest piękne.

 

Uśmiechnięci, współobjęci 
spróbujemy szukać zgody, 
choć różnimy się od siebie 
jak dwie krople czystej wody.

 

27.Drinking Wine

 

He looked, and gave me beauty,
and I took it as if mine.
Happy, I swallowed a star.

 

I allowed myself to be
invented in the likeness
of the reflection in his eyes.
I am dancing, dancing
in the flutter of sudden wings.

 

A table is a table,
wine is wine in a glass
that is just a glass and stands
standing on a table. While
I am imaginary
to the point of no belief,
imaginary
to the point of blood.

 

I am telling him
what he wants to hear: ants
dying of love under
the constellation of the dandelion.
I swear that a white rose,
sprinkled with wine, sings.

 

I am laughing, tilting
my head carefully
as if checking an invention.
I am dancing, dancing
in astonished skin, in
an embrace that creates me.

 

Eve from a rib, Venus from sea-foam,
Minerva from Jove’s head —
all were more real than I.

 

When he stops looking at me
I search for my reflection
on a wall. And I see only
a nail from which a picture
has been removed.

 

(Translated by Grazưna Drabik and Sharon Olds.)

 

Drinking Wine

 

He looked at me, bestowing beauty,
and I took it for my own.
Happy, I swallowed a star.

 

I let him invent me
in the image of the reflection
in his eyes. I dance, I dance
in an abundance of sudden wings.

 

A table is a table, wine is wine
in a wineglass, which is a wineglass
and it stands standing on a table
but I am a phantasm,
a phantasm beyond belief,
a phantasm to the core.

 

I tell him what he wants to hear—

about ants dying of love
under a dandelion's constellation.
I swear that sprinkled with wine
a white rose will sing.

 

I laugh, and tilt my head
carefully, as if I were testing
an invention. I dance, I dance
in astounded skin, in the embrace
that creates me.

 

Eve from a rib, Venus from sea foam,
Minerva from the head of Jove
were much more real.

 

When he's not looking at me,
I search for my reflection
on the wall. All I see
is a nail on which a painting hung.

 

( Transl. Joanna Trzeciak.)  

 

Przy Winie

 

Spojrzał, dodał mi urody,
a ja wzięłam ją jak swoją.
Szczęśliwa, połknęłam gwiazdę.

Pozwoliłam się wymyślić
na podobieństwo odbicia
w jego oczach. Tańczę, tańczę
w zatrzęsieniu nagłych skrzydeł.

Stół jest stołem, wino winem
w kieliszku, co jest kieliszkiem
i stoi stojąc na stole.
A ja jestem urojona,
urojona nie do wiary,
urojona aż do krwi.

Mówię mu, co chce : o mrówkach
umierających z miłości
pod gwiazdozbiorem dmuchawca.
Przysięgam, że biała róża,
pokropiona winem, śpiewa.

Śmieję się, przechylam głowę
ostrożnie, jakbym sprawdzała
wynalazek. Tańczę, tańczę
w zdumionej skórze, w objęciu,
które mnie stwarza.
Ewa z żebra, Venus z piany,
Minerwa z głowy Jowisza
były bardziej rzeczywiste.

Kiedy on nie patrzy na mnie,
szukam swojego odbicia
na ścianie. I widzę tylko
gwóźdż, z którego zdjęto obraz.

 

28. List

 

I’ve made a list of questions 
to which I no longer expect answers,
since it’s either too early for them, 
or I won’t have time to understand.

The list of questions is long, 
and takes up matters great and small, 
but I don’t want to bore you, 
and will just divulge a few:

What was real
and what scarcely seemed to be 
in this auditorium, 
stellar and substellar, 
requiring tickets both to get in 
and get out;

What about the whole living world, 
which I won’t succeed
in comparing with a different living world; 

What will the papers
write about tomorrow;

When will wars cease, 
and what will take their place;

Whose third finger now wears 
the ring
stolen from me — lost;

Where’s the place of free will, 
which manages to be and not to be 
simultaneously;

What about those dozens of people —
did we really know each other; 

What was M. trying to tell me 
when she could no longer speak;

Why did I take bad things 
for good ones 
and what would it take 
to keep from doing it again?

There are certain questions
I jotted down just before sleep.

On waking
I couldn’t make them out.

Sometimes I suspect 
that this is a genuine code, 
but that question, too, 
will abandon me one day.

 

translated from Polish by Stanislaw Baranczak        

 and Clare Cavanagh       

 

Spis

 

Sporządziłam spis pytań, 
na które nie doczekam się już odpowiedzi, 
bo albo za wcześnie na nie, 
albo nie zdołam ich pojąć.

Spis pytań jest długi, 
porusza sprawy ważne i mniej ważne, 
a że nie chcę was nudzić, 
wyjawię tylko niektóre:

Co było rzeczywiste, 
a co się ledwie zdawało 
na tej widowni 
gwiezdnej i podgwiezdnej, 
gdzie prócz wejściówki 
obowiązuje wyjściówka;

Co z całym światem żywym, 
którego nie zdążę 
z innym żywym porównać;

O czym będą pisały 
nazajutrz gazety;

Kiedy ustaną wojny
i co je zastąpi;

Na czyim teraz palcu 
serdeczny pierścionek 
skradziony mi —zgubiony;

Gdzie miejsce wolnej woli, 
która potrafi być i nie być 
równocześnie;

Co z dziesiątkami ludzi -
czy myśmy naprawdę się znali;

Co próbowała mi powiedzieć M., 
kiedy już mówić nie mogła;

Dlaczego rzeczy złe 
brałam za dobre 
i czego mi potrzeba, 
żeby się więcej nie mylić?

Pewne pytania 
notowałam chwilę przed zaśnięciem. 
Po przebudzeniu 
już ich nie mogłam odczytać.

Czasami podejrzewam, 
że to szyfr właściwy. 
Ale to też pytanie, 
które mnie kiedyś opuści.

 

31. Idea

 

An idea came to me
for a little poem? a poem?
That’s good—I say—stay, let us talk.
You have to tell me more about yourself.
              To which it whispers a few words in my ear.
Oh, that—I say—that is interesting.
These matters have long been at my heart.
But to write a poem about them? No, certainly not.
              To which it whispers a few words in my ear.
It only seems to you—I reply—
you overestimate my strength and my gifts.
I wouldn’t even know where to start.
              To which it whispers a few words in my ear.
You are mistaken—I say—a short, concise poem
is much harder to write than one that is long.
D
on’t torment me, don’t insist, for it won’t work.
              To which it whispers a few words in my ear.
Well, okay, I will try, since you’re so stubborn.
But  I must warn you what the outcome will be.
I will write, rip it up and throw it out.
              To which it whispers a few words in my ear.
You are right—I say—there are still other poets.
Some of them will do this better than me.
I can give you the names, the addresses.
              To which it whispers a few words in my ear.
Yes, certainly, I will be jealous of them.
We’re jealous of each other’s poems, even when they’re weak.
And this one probably should . . . perhaps it must have. . .
              To which it whispers a few words in my ear.
That’s right, it must have the features that you named.
And so let's change the subject.
Would you like some coffee?

            To which it only sighed.

            And started to disappear.

            And disappeared.

( Bản dịch A. Duszenko.)

 

An Idea

 

An idea came to me

for a rhyme? a poem?

Well, fine - I say - stay awhile, we'll talk.

Tell me a little more about yourself.

          So it whispered a few words in my ear.

Ah, so that's the story - I say - intriguing.

These matters have long weighed upon my heart.

But a poem about them? I don't think so.

          So it whispered a few words in my ear.

It may seem that way - I reply -

but you overestimate my gifts and powers.

I wouldn't even know where to start.

          So it whispered a few words in my ear.

You're wrong - I say - a short, pithy poem

is much harder than a long one.

Don't pester me, don't nag, it won't turn out.

          So it whispered a few words in my ear.

All right then. I'll try, since you insist.

But don't say I didn't warn you.

I write, tear it up, and toss it out.

          So it whispered a few words in my ear.

You're right - I say - there are always other poets.

Some of them can do it better.

I'll give you names and addresses.

          So it whispered a few words in my ear.

Of course I'll envy them.

We envy even the weak poems.

But this one should...it ought to have...

          So it whispered a few words in my ear.

Exactly, to have the qualities you've listed.

So let's change the subject.

How about a cup of coffee?

 

It just sighed.

 

And starred vanishing.

 

and vanished.

 

( Trnslated by Clare Cavanagh and Stanislaw Baranczak.)

 

Pomysl

 

Przyszedl mi pewien pomysl

na wierszyk? na wiersz?

To dobrze - mowie - zostan, pogadamy.

Musisz mi wiecej o sobie powiedziec.

          Na co on szeptem kilka slow na ucho.

Ach, o to chodzi - mowie - to ciekawe.

Od dawna juz te sprawy leza mi na sercu.

Ale zeby wiersz o nich? Nie, na pewno nie.

          Na co on szeptem kilka slow na ucho.

Tak ci sie tylko zdaje - odpowiadam -

przeceniasz moje sily i zdolnosci.

Nawet bym nie wiedziala, od czego mam zaczac.

          Na co on szeptem kilka slow na ucho.

Mylisz sie - mowie - wiersz zwiezly i krotki

o wiele trudniej napisac niz dlugi.

Nie mecz mnie, nie nalegaj, bo to sie nie uda.

          Na co on szeptem kilka slow na ucho.

Niech ci bedzie, sprobuje, skoro sie upierasz.

Ale z gory uprzedzam, co z tego wyniknie.

Napisze, przedre i wrzuce do kosza.

          Na co on szeptem kilka slow na ucho.

Masz racje - mowie - sa przeciez inni poeci.

Niektorzy zrobia to lepiej ode mnie.

Moge ci podac nazwiska, adresy.

          Na co on szeptem kilka slow na ucho.

Tak, naturalnie, bede im zazdroscic.

My sobie zazdroscimy nawet wierszy slabych.

A ten chyba powinien...chyba musi miec...

          Na co on szeptem kilka slow na ucho.

No wlasnie, miec te cechy, ktore wyliczyles.

Wiec lepiej zmienmy temat.

Napijesz sie kawy?

          Na co on westchnal tylko.

          I zaczal znikac.

          I zniknal.

 

32. Hard Life With Memory

 

I’m a poor audience for my memory.
She wants me to attend her voice nonstop,
but I fidget, fuss,
listen and don’t,
step out, come back, then leave again.

She wants all my time and attention.
She’s got no problem when I sleep.
The day’s a different matter, which upsets her.

She thrusts old letters, snapshots at me eagerly,
stirs up events both important and un-,
turns my eyes to overlooked views,
peoples them with my dead.

In her stories I’m always younger.
Which is nice, but why always the same story.
Every mirror holds different news for me.

She gets angry when I shrug my shoulders.
And takes revenge by hauling out old errors,
weighty, but easily forgotten.
Looks into my eyes, checks my reaction.
Then comforts me, it could be worse.

She wants me to live only for her and with her.
Ideally in a dark, locked room,
but my plans still feature today’s sun,
clouds in progress, ongoing roads.

At times I get fed up with her.
I suggest a separation. From now to eternity.
Then she smiles at me with pity,
since she knows it would be the end of me too.

 

Trudne życie z pamięcią

 

Jestem złą publicznością dla swojej pamięci. 
Chce, żebym bezustannie słuchała jej głosu, 
a ja się wiercę, chrząkam, 
słucham i nie słucham, 
wychodzę, wracam i znowu wychodzę. 
Chce mi bez reszty zająć uwagę i czas. 
Kiedy śpię, przychodzi jej to łatwo. 
W dzień bywa różnie, i ma o to żal. 

Podsuwa mi gorliwie dawne listy, zdjęcia, 
porusza wydarzenia ważne i nieważne, 
przywraca wzrok na prześlepione widoki, 
zaludnia je moimi umarłymi. 

W jej opowieściach jestem zawsze młodsza. 
To miłe, tylko po co bez przerwy ten wątek. 
Każde lustro ma dla mnie inne wiadomości. 
Gniewa się, kiedy wzruszam ramionami. 

Mściwie wtedy wywleka wszystkie moje błędy, 
ciężkie, a potem lekko zapomniane. 
Patrzy mi w oczy, czeka, co ja na to. 
W końcu pociesza, że mogło być gorzej. 

Chce, żebym żyła już tylko dla niej i z nią. 
Najlepiej w ciemnym, zamkniętym pokoju, 
a u mnie ciągle w planach słońce teraźniejsze, 
obłoki aktualne, drogi na bieżąco. 

Czasami mam jej towarzystwa dosyć. 
Proponuję rozstanie. Od dzisiaj na zawsze. 
Wówczas uśmiecha się z politowaniem, 
bo wie, że byłby to wyrok i na mnie.

 

33. Nonreading

 

Bookstores don't provide
a remote control for Proust,
you can't switch
to a soccer match,
or a quiz show, win a Cadillac.

We live longer
but less precisely
and in shorter sentences. 

We travel faster, farther, more often,
but bring back slides instead of memories.
Here I am with some guy.
There I guess that's my ex.
Here everyone's naked
so this must be a beach.

Seven volumes—mercy.
Couldn't it be cut or summarized,
or better yet put into pictures.
There was that series called "The Doll,"
but my sister-in-law says that's some other P.*

And by the way, who was he anyway.
They say he wrote in bed for years on end.
Page after page
at a snail's pace.
But we're still going in fifth gear
and, knock on wood, never better.”

 

( Translated by Clare Cavanagh and Stanislaw Baranczak.)

 

Nieczytanie

Do dzieła Prousta
nie dodają w księgarni pilota,
nie można się przełączyć
na mecz piłki nożnej
albo na kwiz, gdzie do wygrania volvo.

Żyjemy dłużej,
ale mniej dokładnie
i krótszymi zdaniami.

Podróżujemy szybciej, częściej, dalej,
choć zamiast wspomnień przywozimy slajdy.
Tu ja z jakimś facetem.
Tam chyba mój eks.
Tu wszyscy na golasa,
więc gdzieś pewnie na plaży.

Siedem tomów – litości.
Nie dałoby się tego streścić, skrócić,
albo najlepiej pokazać w obrazkach.
Szedł kiedyś serial pl. Lalka,
ale bratowa mówi, że kogoś innego na P.

Zresztą, nawiasem mówiąc, kto to taki.
Podobno pisał w łóżku całymi latami.
Kartka za kartką,
z ograniczoną prędkością.
A my na piątym biegu
i - odpukać – zdrowi.

 

34. Cat in an Empty Apartment

 

Dying--you wouldn't do that to a cat.

For what is a cat to do

in an empty apartment?

Climb up the walls?

Brush up against the furniture?

Nothing here seems changed,

and yet something has changed.

Nothing has been moved,

and yet there's more room.

And in the evenings the lamp is not on.

 

One hears footsteps on the stairs,

but they're not the same.

Neither is the hand

that puts a fish on the plate.

 

Something here isn't starting

at its usual time.

Something here isn't happening

as it should.

Somebody has been here and has been,

and then has suddenly disappeared

and now is stubbornly absent.

 

All the closets have been scanned

and all the shelves run through.

Slipping under the carpet and checking came to nothing.

The rule has even been broken and all the papers scattered.

What else is there to do?

Sleep and wait.

 

Just let him come back,

let him show up.

Then he'll find out

that you don't do that to a cat.

Going toward him

faking reluctance,

slowly,

on very offended paws.

And no jumping, purring at first.

 

(Translated by Joanna Trezeciak.)

 

A Cat in am Empty Apartment
 

Die? One does not do that to a cat.
Because what's a cat to do
in an empty apartment?
Climb the walls.
Caress against the furniture.
It seems that nothing has changed here,
but yet things are different.
Nothing appears to have been relocated,
yet everything has been shuffled about.
The lamp no longer burns in the evenings.

 

Footsteps can be heard on the stairway,
but they're not the ones.
The hand which puts the fish on the platter
is not the same one which used to do it.

 

Something here does not begin
at its usual time.
Something does not happen quite
as it should
Here someone was and was,
then suddenly disappeared
and now is stubbornly absent.

All the closets were peered into.
The shelves were walked through.
The rug was lifted and examined.
Even the rule about not scattering
papers was violated.

 

What more is to be done?
Sleep and wait.

 

Let him return,
at least make a token appearance.
Then he'll learn
that one shouldn't treat a cat like this.
He will be approached
as though unwillingly,
slowly,
on very offended paws.
With no spontaneous leaps or squeals at first.

 

(Translated by Walter Whipple)

 

A Cat in an Empty Apartment

 

Die—you can’t do that to a cat.
Since what can a cat do
in an empty apartment?
Climb the walls?
Rub up against the furniture?
Nothing seems different here
but nothing is the same.
Nothing’s been moved
but there’s more space.
And at nighttime no lamps are lit.

Footsteps on the staircase,
b