NGU YÊN

 

Thơ Thế Giới Hiện Tại

kỳ một:  

Joan Barrett Roberts,

Margaret Atwood,

Yehuda Amichai

 

chuyển thơ

 

 

Thi ca không có phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo, học vấn, địa vị xă hội...nhưng có biên giới ngôn ngữ.

Ngôn ngữ có thể so sánh, có thể đồng dạng, có thể mang chung ư nghĩa nhưng vô cùng khác nhau ở cá tính. Dịch thuật không bao giờ có thể đạt được nguyện vọng và hoàn tất mục đích v́ không cách nào chuyển dịch được cá tính của một ngôn ngữ.

Cá tính của một ngôn ngữ là cá tính của một dân tộc, của tích lũy lịch sử thăng trầm, của vận mạng đất nước, của hàng tỷ tỷ sinh hoạt chi li hàng ngày mà tự động tự nhiên thành h́nh.

Trên văn bản thơ, cá tính ngôn ngữ thể hiện trong cấu trúc của câu cú và cách sử dụng nghĩa bóng, nghĩa rộng, nghĩa mới của một chữ thông dụng.

Trong tinh thần thơ, cá tính ngôn ngữ thể hiện bản chất, tính t́nh và thói quen chung của dân tộc.

Tính yếu của thơ là chữ nghĩa, là tinh hoa của ngôn ngữ nhưng thẩm mỹ của thơ vượt ra ngoài ngôn ngữ để kết hợp chung với cái đẹp của đời sống.

Một thi sĩ dâng hiến cái đẹp, dù tài danh cách mấy cũng bị giới hạn trong một đời người và khả năng làm người của thi sĩ, do đó cái đẹp có tính cá biệt.

Dịch thuật chẳng những không dịch được cá tính ngôn ngữ, c̣n đành phải chịu thua thẩm mỹ cá biệt của mỗi thi sĩ, nhất là thi sĩ bất tử.

Làm thơ chưa hẳn là thi sĩ. Thi sĩ phải sống trong sâu thẳm của sáng tạo và suy tư về một cách diễn đạt thơ có sức sống lâu dài. Một thi sĩ chân chính thà sống như một bài thơ hơn là làm thơ. Và đa số thường không quan tâm về tên gọi thi sĩ.

"Thi-sĩ-hiện-tại" là người bị vây khốn bởi cá tính  ngôn ngữ, bởi thẩm mỹ cá biệt, bởi khả năng làm người, bởi bệnh tật và chết chóc. Cùng một lúc ư thức rơ rệt về sáng tác, sáng tạo, về những thẩm mỹ thơ cá biệt khác, về những giá trị thơ do cá tính ngôn ngữ khác hiện hữu.

Ư thức được cái không có, cái có thể có và cái không thể có, tạo thành sự mâu thuẫn, dằn vặt. Tạo ra một tâm lư vừa hối hả với thơ trong thời giờ giới hạn vừa thận trọng trong giới hạn của khả năng, với khao khát vượt lên cá tính ngông ngữ để gia nhập vào thẩm mỹ chung của nhân loại.

Thơ-hiện-tại thành h́nh như vậy.

Nói về thơ không sao rơ bằng thơ tự nói. Hăy để những thi sĩ sinh ra trong thế kỷ 20, họ mới vừa qua đời hoặc c̣n đang sống giữa chúng ta, nói cho chúng ta biết về thơ hôm nay. Họ là những thi sĩ hiện đại và hiện tại.

 

 

Joan Barrett Roberts

( Thi sĩ Hoa Kỳ. Hiện tại )

 


photo: http://www.shewrites.com

 

Bà là một nghệ sĩ tài hoa với nhiều khả năng diễn đạt nghệ thuật: Thơ, văn, truyện, nhiếp ảnh, âm nhạc và lư thuyết. Bà dạy đại học và làm những công việc liên quan về giáo dục.

Năm 2006, bà sáng lập Shadowleaves Company  (facebook.com/shadowleavs).

Hiện đang về hưu tại Ozarks, hồ Ann tại Bella Vista, tiểu bang Arkansas, USA.

 

Xuyên Qua Cửa Mở

 

em

về anh

mặc kệ

những lời

anh

nói

một chữ ẩn t́nh lạ lẫm

phơi bày nỗi thầm tư

che giấu trong bó hoa hồng

đỏ tươi bởi gai đêm bật máu

toan tính anh tan vỡ

theo những ḍng sông chảy ngược bờ

em mơ về anh

mặc kệ những lời anh nói

như chỉ ngày mưa thôi

trong tháng Mười yên tĩnh...

giấc mơ em cao ngất

nơi lửa cháy một ngày tử sinh

nhịp tim anh lăng đăng trong gió

em bay theo....

qua cánh cửa mở

lơ là những giây phút dư thừa

trong cơi hồn người ta hiếu động

t́nh em yêu thật sự vô bờ

trừ phi anh tự do

để hiểu

em

về

anh

mặc kệ

những lời

anh

nói

 

( Trích The dVerse Anthology. Voices of Contemporay World Poetry, trang 21.)

 

Through an Open Door

 

I

dream

of

you

regardless

of

what

you

say

Your new one word storyline

reveals a secret

hidden among the roses

red bleeding from night thorns

your whishes shattered

where rivers flow against the shores

I dream of you

regardless of what you say

it's only a rainy day

a quiet time in October...

aloft in my dreams

where deadly day-fires grow

your pulse lingers in the wind

will

I follow

through the open door

over looked moments unspent

among our restless souls

my true love knows no limits

unless you are free

to be

I

dream

of you regardless

of

what

you

say

 

Margaret Atwood

( Thi sĩ Gia nă Đại. 1939 - Hiện tại.)

 


photo:http://vcm.bc.ca

 

Bà sinh tại Ottawa, Ontario, Canada, năm 1939. Lên bảy tuổi, dọn về Toronto. Tốt nghiệp đại học Toronto rồi lấy bằng cao học ở Raddiffe College, Massachusetts, năm 1962.

Bà làm thơ, viết truyện ngắn, nghiên cứu, viết cho phim ảnh, viết cho phát thanh và viết cho nhi đồng. Bà làm chủ tịch hội Văn Bút Canada 1984-1986.

 

Anh và Em tâm Đầu Ư Hợp

 

Đôi ta tâm đầu ư hợp

như lưỡi câu móc vào tṛng mắt

Một lưỡi câu cá

Một tṛng mắt mở

 

You Fit Into Me

 

You fit into me
like a hook into an eye
A fish hook
An open eye

 

Tấm H́nh Của Tôi

 

Tấm h́nh chụp khá cũ.

Mới nh́n thấy giống như

một bản in

mờ: nét không rơ, nhiều lốm đốm xám

trải khắp h́nh;

 

rồi nếu bạn in lại

sẽ thấy nơi góc trái

h́nh dạng như nhánh cây: một phần

cây ( Bóng Nước hoặc Vân Sam) lấn vào 

c̣n bên phải, ở lưng chừng

chắc phải là cái dốc

thoai thoải, thấy căn nhà tiền chế.

 

Phía sau, có hồ nước,

xa hơn, có vài ngọn đồi con.

 

( H́nh chụp

một ngày sau khi xém chết đuối.

 

Tôi bơi trong hồ, giữa

h́nh, thấp hơn một chút dưới mặt nước.

 

Khó nói chính xác

nơi nào hoặc nói

tôi mập hay ốm:

qua lăng kính nước

ánh sáng làm biến dạng

 

nhưng nếu bạn nh́n lâu đủ,

trước sau ǵ

sẽ t́m thấy tôi.)

This Is A Photograph Of Me

 

It was taken some time ago.
At first it seems to be
a smeared
print: blurred lines and grey flecks
blended with the paper;

then, as you scan
it, you see in the left-hand corner
a thing that is like a branch: part of a tree
(balsam or spruce) emerging
and, to the right, halfway up
what ought to be a gentle
slope, a small frame house.

In the background there is a lake,
and beyond that, some low hills.

(The photograph was taken
the day after I drowned.

I am in the lake, in the center
of the picture, just under the surface.

It is difficult to say where
precisely, or to say
how large or small I am:
the effect of water
on light is a distortion

but if you look long enough,
eventually
you will be able to see me.)

 

Bài Ca Của Thần Nữ Điểu (*)

 

Bài ca này, mọi người

đều muốn học: bài ca

mê sảng nhân tâm:

 

bài ca giục giă đàn ông

lên thuyền vượt biển

dù thấy băi đến đầy đầu lâu.

 

bài ca không ai biết

v́ những ai đă nghe

đều chết, kẻ c̣n lại không nhớ.

Có nên kể bạn nghe điều bí ẩn

nếu tôi kể, bạn có giúp tôi thoát thân

ra  khỏi xác chim kỳ quái?

Tôi chẳng có ǵ vui

ngồi xổm trên đảo này

ngắm cảnh đẹp và hoang tưởng

với hai chị chim điên,

Tôi không thích hót

chung với họ, hăm hại dù ca hay.

 

Kể bạn nghe điều bí ẩn

chỉ một ḿnh bạn thôi.

Xin hăy đến gần. Bài ca này

 

kêu cứu: " Cứu tôi với!

chỉ có bạn , chỉ có bạn mới giúp,

bạn là người duy nhất

 

không c̣n ai." Than ôi

một bài ca xoàng xỉnh

vậy mà lần nào cũng thành công.


(*) Sirens  là ba vị thần nửa chim nửa đàn bà trong thần thoại Hy lạp. bài ca của họ thu hút đàn ông vượt biển về hoang đảo chịu chết. Bài ca kêu gọi ḷng thương xót: Cứu tôi với. Bài thơ của một trong ba nữ điểu.

 

Siren Song

 

This is the one song everyone 
would like to learn: the song
that is irresistible:

the song that forces men
to leap overboard in squadrons
even though they see the beached skulls

the song nobody knows
because anyone who has heard it
is dead, and the others can't remember.

Shall I tell you the secret
and if I do, will you get me 
out of this bird suit?

I don'y enjoy it here
squatting on this island
looking picturesque and mythical

with these two faethery maniacs,
I don't enjoy singing 
this trio, fatal and valuable.

I will tell the secret to you,
to you, only to you.
Come closer. This song

is a cry for help: Help me!
Only you, only you can,
you are unique

at last. Alas
it is a boring song
but it works every time.

 

Sự Biến Dạng của Từ Ngữ " Ngủ"

 

Em muốn được canh chừng anh đang ngủ,

việc này có lẽ không xảy ra.

Em muốn nh́n thấy anh,

khi đang ngủ. Em muốn ngủ

với anh, để lén vào

cơi anh như ngọn sóng thần kỳ thú vị

lướt qua tâm trí em

 

rồi cùng nhau băng qua khu rừng

ánh sáng trên lá xanh xao động

bởi đẫm sương trong nắng với ba mặt trăng

đi đến hang sâu nơi anh phải leo xuống

đối diện với sợ hăi khôn cùng

 

Em muốn tặng anh một cành bạch ngân,

một đóa hoa trắng nhỏ,

một lời thần chú bảo vệ anh

thoát khỏi khổ sầu khi rơi giữa chiêm bao,

từ nơi tâm điểm sầu đau

một lần nữa em theo anh leo cao lên thang cấp

rồi hóa thân thành chiếc thuyền

chèo anh về lại an toàn,

bưng trên tay một ngọn lửa

đưa đến nơi thân xác anh nằm

bên cạnh em, rồi khi anh đi vào

dễ dàng như hít một hơi thở

 

Em muốn được làm dưỡng khí

giúp anh sống giây phút phù du

Em muốn điều cần thiết này

không ai biết.

 

Variation on the Word Sleep

 

I would like to watch you sleeping,
which may not happen.
I would like to watch you,
sleeping. I would like to sleep
with you, to enter
your sleep as its smooth dark wave
slides over my head

and walk with you through that lucent
wavering forest of bluegreen leaves
with its watery sun & three moons
towards the cave where you must descend,
towards your worst fear

I would like to give you the silver
branch, the small white flower, the one
word that will protect you
from the grief at the center
of your dream, from the grief
at the center I would like to follow
you up the long stairway
again & become
the boat that would row you back
carefully, a flame
in two cupped hands
to where your body lies
beside me, and as you enter
it as easily as breathing in

I would like to be the air
that inhabits you for a moment
only. I would like to be that unnoticed
& that necessary. 

 

*   *   *

Yehuda Amichai

( Thi sĩ Do Thái. 1924- 2000.)

 


http://www.poetryfoundation.org

 

Ông chẳng những dẫn đầu trong nhiều thế hệ thi ca Do Thái, ông c̣n được xem là một trong những thi sĩ hàng đầu của thế giới kể từ giữa thập niên 1960.

Nhận lănh nhiều giải thưởng văn học và thi ca như Shlonsky Prize 1957, Brenner Prize 1969, Blalik Prize 1976, Israel Prize 1982, Giải thi ca quốc tế 1994, Malraux Prize 1995......

Thế chiến thứ hai, ông t́nh nguyện ṭng quân vào lực lượng bộ binh Anh Quốc. Giải ngủ 1946. Theo học đại học ở Jerusalem. Xuất bản tác phẩm đầu tiên Not of This Time, Not of This Place năm 1963.

Bài thơ mà ông đọc trong buổi lễ giải Nobel Ḥa B́nh của thủ tướng Do Thái Yitzhak Rabin 1994, đă được chưng bày trên tường trong bảo tàng viện tại thủ đô Tel Aviv. Người ta dựng tên đường cho ông ở nhiều thành phố Do Thái và Wurzburg.

Ông qua đời bệnh ung thư năm 2000. Thọ 76 tuổi.

 

Học Đôi Điều Qua Chiến Tranh

 

Tôi học đôi điều qua chiến tranh:

Diễn hành đúng lúc tay vung chân bước

Như máy bơm trong giếng cạn vận hành.

 

Bước đều hàng ngang chiếm vị trí giữa,

Vùi đầu vào gối, nệm lông, thân thể t́nh nhân,

Rồi gào " Mẹ ơi," khi bà không nghe được,

Rồi thét " Chúa ơi," dù không c̣n đức tin,

Cho dẫu tôi có ḷng tin vào Chúa

Không oán trách ngài cho phép chiến tranh

Như không kể chuyện người lớn kinh hoàng cho trẻ biết.

 

Học ǵ nữa, học dự trù đường lối rút lui.

Thuê khách sạn khi vào quốc gia lạ

Gần ga tàu lửa hoặc cạnh sân bay.

Ngay cả trong pḥng tổ chức đám cưới

Luôn luôn canh chừng cánh cửa tầm thường

Có bảng "Exit" chữ màu đỏ.

 

Trận chiến bắt đầu

Bằng điệu trống nhịp nhàng dùng nhảy múa rồi chấm dứt

Với câu " rút lui lúc b́nh minh." Từ bỏ ái t́nh

Rồi chiến đấu, đôi khi cả hai kết thúc như vậy.

 

Nhưng trên hết, tôi học sự khôn ngoan ngụy trang,

Đừng quá nổi bật, đừng để nhận diện,

Đừng tách xa đám đông chung quanh,

Cho dù họ không phải người thân thuộc.

 

Để lầm tưởng tôi là bụi rậm hoặc chiên cừu,

Một thân cây hoặc một bóng cây,

Một nghi vấn hoặc một nghi ngờ về nghi vấn,

Một hàng rào lung lay hoặc một tảng đá nằm im,

Một ngôi nhà hoặc một góc pḥng nhỏ.

 

Nếu biết tiên tri, tôi tắt bớt hào quang hoang tưởng

Dùng giấy đen che tin tưởng tối dần

Rồi bao bọc phép mầu bằng màn vải.

 

Khi giờ tôi đă điểm, sẽ trùm lên y phục ngụy trang màn cuối:

Màu trắng của mây và nhiều xanh da trời

Với tinh tú ngân hà vô tận.

 

What Did I Learn In The Wars

 

What did I learn in the wars:

To march in time to swinging arms and legs

Like pumps pumping an empty well.

 

To march in a row and be alone in the middle,

To dig into pillows, featherbeds, the body of a beloved woman,

And to yell "Mama," when she cannot hear,

And even if I did believe in Him

I wouldn't have told Him about the war

As you don't tell a child about grown-ups' horrors.

 

What else did I learn. I learned to reserve a path for retreat.

In foreign lands I rent a room in a hotel

Near the airport or railroad station.

And even in wedding halls

Always to watch the little door

With the "Exit" sign in red letters.

 

A battle too begins

Like rhythmical drums for dancing and ends

With a "retreat at dawn." Forbidden love

And battle, the two of them sometimes end like this.

 

But above all I learned the wisdom of camouflage,

not to stand out, not to be recognized,

Not to be apart from what's around me,

Even not from my beloved.

 

Let them think I am a bush or a lamb,

A tree, a shadow of a tree,

A doubt, a shadow of a doubt,

A house, a corner of a house.

 

If I were a prophet I would have dimmed the glow of the vision

And darkened my faith with black paper

And covered the magic with nets.

 

And when my time comes, I shall don the camouflage garb of my end:

The white of clouds and a lot of sky blue

And stars that have no end.

( Translated by Benjamin Harshaw and Barbara Harshaw.)

 

Một Người Trong Cơi Sống Riêng

 

Một người không có giờ để sống

lại có giờ cho nhiều thứ nhiêu khê.

Hắn có bao nhiêu mùa mới đủ

mỗi mùa thực hiện mỗi mục tiêu.

Cổ kinh Do Thái viết điều này lầm lẫn.

 

Hắn biết yêu biết hận cùng một lần,

biết cười biết khóc cùng đôi mắt,

gom đá, ném đá cùng một tay,

tranh căi khi yêu, yêu khi tranh căi.

Biết hận thù biết tha thứ biết thương nhớ biết lăng quên,

biết sắp xếp biết bối rối, biết ăn uống biết tiêu hóa

 điều mà lịch sử

mất nhiều năm tháng dựng lên.

 

Một người không có giờ.

Khi mất mát muốn t́m lại, khi kiếm được

lại xem thường, biết xem thường mới biết yêu, khi yêu thương

lại bắt đầu coi nhẹ.

 

Linh hồn hắn đă dạn dày,

đầy kinh nghiệm.

Chỉ h́nh hài măi măi c̣n

nghiệp dư. Hắn cố gắng rồi thất bại,

đâm ra rối trí, chẳng học được ǵ,

t́m say hóa mù quáng trong khoái lạc

và khổ đau.

 

Hắn  sẽ chết như sung rụng mùa thu,

Nhăn nhúm dù ngọt ngào sung măn,

lá rơi khô dần trên mặt đất

cành trơ trụi chĩa phương xa

nơi tất cả có thời giờ dư giả.

 

A Man In His Life

 

A man doesn't have time in his life

to have time for everything.

He doesn't have seasons enough to have

a season for every purpose. Ecclesiastes

Was wrong about that.

 

A man needs to love and to hate at the same moment,

to laugh and cry with the same eyes,

with the same hands to throw stones and to gather them,

to make love in war and war in love.

And to hate and forgive and remember and forget,

to arrange and confuse, to eat and to digest

what history

takes years and years to do.

 

A man doesn't have time.

When he loses he seeks, when he finds

he forgets, when he forgets he loves, when he loves

her begins to forget.

 

And his soul is seasoned, his soul

is very professional.

Only his body remains forever

an amateur. It tries and it misses,

gets muddled, doesn't learn a thing,

drunk and blind in its pleasures

and its pains.

 

He will die as figs die in autumn,

Shriveled and full of himself and sweet,

the leaves growing dry on the ground,

the bare branches pointing to the place

where there's time for everything.

 

( Trích Yehuda Amichai Poems. PoemHunter.com The Worled's Poetry Archive)

 

Tôi Mọc Đầy Lông Lá

 

Khắp người tôi mọc lông lá rậm rạp.

E rằng họ bắt đầu săn đuổi để lột da.

 

Chiếc áo sặc sỡ không ẩn t́nh nhắn nhủ

nh́n như sắc màu quảng cáo trong hầm ga.

 

Ban đêm thân xác trần truồng thức trong chăn chiếu,

như mở mắt bị khăn che chờ lệnh tử h́nh.

 

Tôi sẽ vô định lạc đường đi

sẽ chết v́ khao khát sống.

 

Bây giờ tôi xin được yên b́nh, như g̣ đất sau phố thành tàn phá

rồi lặng im như nghĩa địa đầy mồ.

 

I have Become Very Hairy

 

I have become very hairy all over my body.
I'm afraid they'll start hunting me because of my fur.

My multicolored shirt has no meaning of love --
it looks like an air photo of a railway station.

At night my body is open and awake under the blanket,
like eyes under the blindfold of someone to be shot.

Restless I shall wander about;
hungry for life I'll die.

Yet I wanted to be calm, like a mound with all its cities destroyed,
and tranquil, like a full cemetery. 

 

(http://www.poemhunter.com/poem/i-have-become-very-hairy/ )

 

Anh Không Chắc Lịch Sử Sẽ Tái Diễn

 

Anh không chắc lịch sử sẽ tái diễn

Nhưng anh biết rơ em sẽ không.

 

Anh vẫn nhớ thành phố đó ngăn đôi

Không chỉ giữa Do Thái và Ả Rập,

C̣n ngăn đôi giữa anh và em,

Khi đôi ta thắm thiết bên nhau.

 

Chúng ta trở nên trung tâm hiểm họa

Xây một ngôi nhà chết bởi chiến tranh

Như người sống gần bắc cực

Xây cho ḿnh tổ ấm yên lành

bằng tử thần tuyết lạnh.

 

Thành phố đă ḥa giải

Nhưng chúng ta không c̣n bên nhau.

Đến lúc này anh mới hiểu

Lịch sử đó không tái diễn bao giờ

Như anh luôn luôn biết em sẽ không lập lại.

 

I Don't Know If History Repeats Itself 

 

I don't Know if history repeats itself
But I do know that you don't.

I remember that city was didvided 
Not only between Jews and Arabs,
But Between me and you,
When we were there together.

We made ourselves a womb of dangers
We built ourselves a house of deadening wars
Like men of far north 
Who build themselves a safe warm house of deadening ice.

The city has been reunited
But we haven't been there together.
By now I know
That History doesn't repeat itself, 
As I always knew that you wouldn't.

 

(http://www.poemhunter.com/poem/i-don-t-know-if-history-repeats-itself/ )

 

Ḥa B́nh Tự Nhiên

 

Không phải ḥa b́nh khi ngưng bắn

cũng không phải ánh mắt lang sói ŕnh chiên cừu

nhưng đúng hơn

là chuyện con tim khi bảo ḥa kích động

chỉ có thể nói đến mệt chán trầm luân.

Tôi biết cách giết người, kiến thức này làm tôi khôn lớn.

Con tôi biết bắn súng giả

biết mở rồi nhắm mắt và gọi "Mẹ ơi".

Ḥa b́nh

không nghe tiếng của gươm chiến đấu

vang trong lưỡi cày

không một lời hứa

không tiếng dấu ấn đóng xuống: cứ để lơ mơ,

lơ lững, như bọt trắng hững hờ.

Một chút nghỉ ngơi cho thương tích; ai dám nói lành lặn?

( Tiếng rú khóc của trẻ mồ côi truyền từ thế hệ này

sang thế hệ kia, như cuộc đua chạy tiếp sức:

khúc cây tiếp tay không bao giờ rớt.)

 

Việc ǵ đến sẽ đến

nở ra như hoa dại,

một cách t́nh cờ, v́ cánh đồng

tất nhiên phải có: cảnh ḥa b́nh tự nhiên .

 

Wildpeace

 

Not the peace of a cease-fire
not even the vision of the wolf and the lamb,
but rather
as in the heart when the excitement is over
and you can talk only about a great weariness.
I know that I know how to kill, that makes me an adult.
And my son plays with a toy gun that knows
how to open and close its eyes and say Mama.
A peace
without the big noise of beating swords into ploughshares,
without words, without
the thud of the heavy rubber stamp: let it be
light, floating, like lazy white foam.
A little rest for the wounds; who speaks of healing?
(And the howl of the orphans is passed from one generation
to the next, as in a relay race:
the baton never falls.)

 

Let it come
like wildflowers,
suddenly, because the field
must have it: wildpeace.

 

(http://www.best-poems.net/yehuda_amichai/poem-22280.html )

 

Ngu Yên

 

http://www.gio-o.com/NguYen.html

 

© gio-o.com 2014