NGU YÊN

 

Ra Ngoài Thơ, Nghĩ Về Thơ

 

kỳ một

 

 

(Trích: Ra Ngoài Thơ Hẹn Thơ. Phát hành Tháng 11 năm 2020.)

 

1.

Tôi nghĩ:

Thơ tương lai là gì?

Là ngôn ngữ và vật liệu mang phẩm chất cao diễn đạt về cặn bã trong đời sống.

Phẩm chất ngôn ngữ bao gồm tư tưởng và thẩm mỹ.

Phẩm chất vật liệu bao gồm hiệu năng chuyên môn và vật chất xây dựng. Trường hợp này dùng cho thơ dàn dựng, thơ xây cất hoặc thơ kiến trúc.  

Cặn bã: không chỉ là những xấu xa, chủ yếu là những dư thừa, kể cả lòng tốt.

Diễn đạt đi từ trang giấy ra ngoài không gian, thể hiện trong ba chiều, bốn chiều. Diễn, kể cả diễn tả và trình diễn. Đạt sử dụng kỹ thuật và nghệ thuật tiếp cận nhận thức cùng cảm xúc.

Thơ ngày mai có thân và ý của thơ hôm qua,

nhưng

thân xác cao lớn,

ý nghĩa cảm khoái tâm tư,

dung mạo tiến triển dạng thời đại,

và không đòi hỏi phải giống thơ quá khứ.

Thơ tương lai tập trung vào những ấn tượng kích thích nhận thức và cảm xúc của người đọc theo mỹ cảm và tư duy của người viết.

Thơ tương lai có thể sẽ phải rời xa hiệu quả giải trí vì không cạnh tranh lại khả năng giải trí của các bộ môn liên quan đến truyền hình và điện tử.

Để chuyên chú vào khả năng cao nhất của thi ca:

Đánh thức, phát sáng và làm đẹp tâm hồn giữa mê muội.

 

2.

Tôi nghĩ:

Tự do cần luật lệ và phương cách sử dụng luật lệ để được tự do làm đẹp, làm hay, làm tốt đời sống và bản thân. Nếu luật lệ làm mất đi hoặc kềm hãm ý nghĩa, giá trị nêu trên, luật lệ và phương cách đó cần hủy bỏ hoặc điều chỉnh.

Trong quan niệm này, tôi nghĩ về thể thơ tự do.

Cơ bản nhất của thơ tự do là nghệ thuật xây dựng hình ảnh, ngôn ngữ và tứ thơ theo những loại nhịp điệu “thả lỏng”. Nhịp điệu “thả lỏng” là đặc điểm để phân biệt giữa thơ tự do và văn xuôi. Nhịp điệu “thả lỏng” là nhịp và điệu không nhất thiết phải tuân theo luật lệ của thơ truyền thống và thơ vần. Nó xây dựng trên: 1- Cách sắp xếp hình ảnh. 2- Cách tạo âm thanh qua âm sắc, trường độ, nồng độ, và thứ tự của chữ trong câu. 3- Cách dàn dựng câu qua các dấu văn phạm và qua cách sắp xếp vị trí của câu. 4- Cách sử dụng tứ thơ. 5- Cách sử dụng khoảng trống và khoảng trắng.

Những kỹ thuật thường thấy là phương cách xuống hàng, vắt hàng, nhảy hàng, lập lại, so sánh, và những sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ.

Thơ tự do xuất hiện ở văn học Pháp vào khoảng 1880. Bắt nguồn từ loại thơ “nhịp điệu bất thường” được trải nghiệm trước đó. Thơ tự do phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20 và ngự trị cho đến nay, mặc dù có một số thể thơ khác ra đời như thơ Cụ Thể, thơ Xuôi, thơ Thị Kiến, thơ Diễn Hoạt... nhưng thơ tự do vẫn giữ vững vị trí vì đó là nhu cầu căn bản để diễn đạt thơ.

Cụm từ “thơ tự do” tự nó đã cho chúng ta ý nghĩa tổng quát, tuy nhiên, cũng như bất kỳ loại tự do gì, kể cả tự vận, cũng chỉ tương đối. Vì vậy, thơ tự do là loại thơ diễn đạt ký hiệu và ngôn ngữ bởi cảm xúc và trí tuệ không theo luật dài ngắn của câu, số hạng câu, và cách phân phối bài thơ. Âm nhạc tuy cần thiết cho dễ cảm và mỹ thuật, nhưng không bắt buộc phải có trong thơ tự do. Ngôn từ hào nhoáng, bóng bẩy, thẩm mỹ, chải chuốt, cũng không còn được quan tâm. Thơ tự do thời nay sử dụng lời lẽ bình thường, có khi tầm thường, để diễn đạt những hình ảnh và tứ thơ, kể cả những tứ thơ cao kỳ. Khái niệm này không có nghĩa nhà thơ nên xa lánh ngôn ngữ mượt mà, chải chuốt nhưng chủ ý nhắc nhở sự trung thực và khả năng dùng chữ, dựng câu cho dễ hiểu, dụng ý diễn nghĩa hoặc tượng trưng. 

Tôi nghĩ, điểm tinh yếu nhất của thơ tự do là cho phép nhà thơ sử dụng và sáng tạo những gì mà đa số người hoặc văn học đương thời không công nhận những thứ đó là thơ. Những hình ảnh, ngôn ngữ, ý nghĩa, tứ thơ, và cách diễn đạt vượt ra khỏi lề lối sáng tác đương dụng, gây bất ngờ, ngạc nhiên, thú vị, ngưỡng mộ: tạo cho bài thơ một giá trị không chỉ thuần về văn chương, mà còn tạo giá trị khai phá nghệ thuật. Một trong những quyền lực cao quí của tự do là được phép được làm thêm sự mới lạ.

Mỗi nhà thơ tự do thể hiện sự hiểu biết, quan niệm, sự thẩm thấu, tinh thần ứng dụng, mức độ đánh giá sự tự do vào thơ của họ. Không phải chỉ bắt chước hoặc mô phỏng lối làm thơ của người khác. Vì vậy, cho dù thơ tự do giống nhau, vẫn có khác biệt. 

Bản chất của sáng tạo là tự do. Bản chất của tự do là sáng tạo. Những luật lệ nào đã thành hình cho thơ tự do, đều có thể xóa bỏ, vượt qua hoặc thay đổi. Hầu hết những gì gọi là luật lệ trong mỗi bài thơ tự do có giá trị, đều được tạo ra bởi khả năng sáng tạo, học thuật và sở thích của mỗi nhà thơ.

Tôi nghĩ, thơ ngày mai vẫn là thơ tự do, tự do theo phẩm chất của thời đại, tự do với khoa học điện tử, tự do với những phạm vi do hình thức sáng tạo.

Chính vì không bị ràng buộc bởi luật lệ thơ truyền thống, không bị bắt ép phải tuân hành những đòi hỏi, những điều kiện văn học, thơ tự do được đánh giá trên hiệu năng sáng tạo trong tinh thần cá nhân, cơ hội thực hiện và khả năng tự do của xã hội.

Có thể học hỏi từ những biến hóa, sáng tạo, tác động của tự do trong thơ tự do để so sánh với tự do thực tế mà chúng ta đang sống, không chừng có thể nhìn thấy sự bất hạnh của nó: Tự do dùng để biểu diễn.

 

3.

Tôi nghĩ:

Quan sát một đồi tượng hoặc suy tư một ý nghĩ là giai đoạn đầu tiên trước khi hình ảnh, tứ thơ, ngôn ngữ thành hình câu thơ.

Câu thơ hay, có giá trị, là câu thơ sáng tạo. Cụm từ “sáng tạo” trở thành sáo ngữ vì chẳng nói lên được ý thức thực tế. Câu thơ có giá trị là câu thơ gây thú vị, tạo sự ngưỡng mộ đối với người đọc, nhưng trước hết phải cưu mang ý tưởng thâm trầm hoặc đa nghĩa. Sự sâu sắc và thông minh thể hiện qua lời lẽ thích thú, ngạc nhiên tạo ra cảm xúc sung sướng, hài lòng cho nhà thơ, từ truyền sang độc giả.

Câu thơ là đơn vị cấu trúc chính của bài thơ. Tuy nhiên, không thể sáng tác câu thơ nào cũng hay. Theo định luật tự nhiên, bên cạnh câu thơ hay là nhiều câu thơ thường. Có lẽ phải nói, sau lưng câu thơ hay là những câu thơ thường hỗ trợ, hy sinh, thúc giục như người đàn bà và con cái sau lưng người đàn ông thành công. Nghĩa là, người đàn ông sẽ thất bại khi vợ con không ủng hộ

Một trong những việc gây thất bại cho bài thơ là nhà thơ nỗ lực sáng tác hoàn toàn những câu thơ hay trong bài đó. Điều khó tin là khi một bài thơ được xây dựng bởi tất cả các câu thơ hay, bài thơ đó trở thành sáo, ảo hoặc hết hay. Trong thực tế, chính những câu thơ thường kết hợp làm cho câu thơ hay nổi bật.

Những câu thơ hay là những câu thơ chủ lực trong cấu trúc bài thơ. Nếu những câu thơ thường không làm tròn chức năng, những câu thơ chủ lực không có khả năng xây dựng thành bài thơ độc đáo. 

Như vậy, chức năng, cấu trúc của câu thơ thường cần được tìm hiểu tinh nhuệ như đã từng tích trữ kinh nghiệm hiểu biết về câu thơ hay.

 

“Thường” có ý nghĩa như thế nào trong “câu thơ thường”?

Thường có nghĩa bình thường nhưng không tầm thường. Thường có nghĩa câu thơ mang ý nghĩa thường và cảm xúc thường nhưng ngôn ngữ và nghệ thuật diễn đạt không nhất thiết phải thường. Câu thơ thường như những nhạc sĩ hòa tấu trong ban nhạc sau lưng để ca sĩ nhập vào cảm xúc hát lên những câu thơ hay. Những nhạc sĩ này không phải là những nhạc sĩ cổ điển, nhạc sĩ phổ thông, trình tấu theo bài bản, quy luật nhất định. Họ là những nhạc sĩ Jazz. Hòa nhạc tự do, ngẫu hứng, kết hợp với nhau và cùng phản ứng với cảm xúc của ca sĩ. Nhạc sĩ tấu nhạc hay, ca sĩ hát hay thêm. Ca sĩ hát hay thêm, nhạc sĩ tấu nhạc hay hơn... Muốn được như vậy, mỗi nhạc sĩ sau lưng ca sĩ phải là những tài năng tinh luyện. Sở học và kinh nghiệm của họ phải đạt đến mức độ phản ứng ngẫu nhiên mà hòa nhạc ăn khớp. Câu thơ thường cũng vậy. Thường mà không thường.

“Thường” có nghĩa đã được luyện tập thuần nhuyễn đến độ bình thường. Nhà thơ viết một câu bình thường, nhưng trong mạch thơ, bài thơ, câu đó có tác dụng không thể thiếu.

Câu thơ, cụm từ hoặc từ ngữ “thường” có khả năng ngụ ý, tượng trưng cho một điều gì “không thường”. Hiệu quả của câu thơ, cụm từ, từ ngữ thường đó làm cho bài thơ sâu sắc hơn.

Ví dụ: Cụm từ “Black Lives Matter” bắt nguồn từ chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ. Được sử dụng như một vấn nạn về nhân quyền và khẩu hiệu đấu tranh chống nạn kỳ thị da đen. Cụm từ này được thịnh hành trở lại trong thời gian dân da màu tổ chức biểu tình sau cái chết của anh da đen George Floyd, tháng Sáu năm 2020, tạo nên phong trào chống kỳ thị nhiều nơi trên thế giới. Khi nhà thơ sử dụng cụm từ “Black life matter”, tuy có nguồn gốc lịch sử nêu trên, nhưng ý nghĩa chủ yếu nhắm vào giá trị của mỗi đời sống. Dùng từ life thay vì lives. Vì đời sống của người da trắng không có vấn đề nhưng mỗi đời sống của người da đen cần được quan tâm trong cán cân nghiêng lệch của quyền lực tại Hoa Kỳ. Nhìn rộng hơn, “Black Life Matter” chỉ là tượng trưng cho tất cả những mạng sống, màu da nào bị quyền thế đe dọa trong thế yếu, kể cả da trắng. Mỗi đời sống dù thể hiện tốt đẹp hay xấu xa như thế nào,  vẫn là một điều kỳ diệu. Khi một đời người chấm dứt là cắt đi cả một mạng lưới nhân sinh dày đặc tiếp tục từ người đó.

Nhìn từ bên ngoài, câu thơ thường không nhất thiết phải tuân theo luật văn phạm mà theo sức tự động và lực tự nhiên của vô thức khi thành hình. Từ ngữ thơ cũng không nhất định theo ý nghĩa của từ điển mà bày tỏ ý nghĩa theo mạch thơ hoặc theo ý nghĩa của toàn bài thơ. Vị trí của chữ thường được thay đổi để tạo nên nhịp điệu và xây dựng âm sắc một cách nào đó thuận nhĩ. Toàn bộ những điều nêu trên kết hợp với khoảng trống tạo nên hình ảnh, ý tứ và thẩm mỹ của hình thức câu thơ.

Nhìn vào trong, câu thơ thường vì căn bản ý nghĩa của nó bình thường. Nội dung tương đối dễ hiểu. Cảm xúc dẫn dắt nó không bị tràn ngập bởi xúc động mà bình tĩnh hơn với sự hiện diện của lý trí.

Chức năng của câu thơ thường là dàn dựng, làm nền, làm cầu, làm thang, để câu thơ hay xuất hiện. Hiệu quả của câu thơ thường là gia tăng cảm xúc thích thú để câu thơ hay tung hoành.

Tuy nhiên, tôi cũng nhìn thấy một số nhà thơ lớn không quan tâm đến câu thơ nổi bật, mà chú trọng phẩm chất của từng câu. Mỗi câu trong bài là mỗi thành tích. Có thể bình thường nhưng mang theo trọng lượng, như:

......

Mạnh giỏi không Sài Gòn

Bây giờ là đợt tấn công thứ nhì

Còn nước mắt là giọt thứ mấy

Còn thao thức là đêm thứ mấy

Còn lo âu làm sao đếm

Còn thống khổ làm sao đo

Thôi đừng nói, đừng nói

Hãy gục đầu lên vai nhau.

             (Hỏi Thăm Sài Gòn, Nguyên Sa.)

Khi mỗi câu trong một bài thơ đều là câu thơ thường nhưng kết hợp thành ý nghĩa sâu sắc hoặc ý tưởng xúc động, đó là bài thơ hay. Đơn giản mà hay. Hay ở chỗ đơn giản mà giá trị.

 

4.

Tôi nghĩ:

Làm sao để diễn tả ý thâm trầm và tứ sâu sắc bằng một phong thái dễ cảm? Dễ cảm luôn luôn là bí quyết cho thơ đi thẳng vào lòng người đọc.

Những tính làm cho thơ khó cảm bao gồm:

khó hiểu,

hoa hòe,

biểu diễn,

bịa đặt,

làm dáng.

Dễ cảm bao gồm:

trung thực,

giản dị,

trong sáng,

trữ tình,

ngây thơ,

dễ hiểu.

Trong các tính kể trên, tôi nghĩ, tính trung thực và giản dị là quan trọng nhất trong thời đương đại.

Trung thực và giản dị trong phong thái thi ca có nghĩa là gì?

- Cách diễn tả của trẻ con về những gì khó hiểu.

- Cách diễn tả yêu thương của mẹ đối với con.

- Cách bình tĩnh thâm thúy của cha khuyên con đã trưởng thành.

- Cách mềm mỏng của vợ thì thầm với chồng.

- Cách suy tư của chồng tâm sự với vợ về việc đời khó khăn.

- Cách Stephen Hawking giải thích về vũ trụ.

- Cách Socrates truy đuổi câu trả lời bằng câu hỏi.

Trên hết là cách tự âm thầm nói chuyện với chính mình về những gì thao thức, khao khát, thương mến, giận dữ....v...v...

Sự trung thực cần thiết vì thế giới hôm nay chất chứa giả mạo, giả hình và giả ảo. Bản chất thơ là tiếp cận sự thật. Cũng như khoa học, triết học, thơ đòi hỏi sự trung thực.

Giản dị cần thiết vì tư duy về những phức tạp của đời sống càng ngày càng sâu rộng, tạo ra sự khó hiểu. Giản dị và trung thực giúp sự khó hiểu trở nên dễ hiểu hơn. Song song với khái niệm này là sự thưởng thức của độc giả. Thời nay, người đọc không để dành nhiều thời giờ cho sách vở, không muốn tiêu hao trí não nhiều về văn chương. Nếu bài thơ gây nhiều khó khăn, tăng thêm mệt mỏi khi đang mỏi mệt, dĩ nhiên, không thể trông mong người đọc yêu thích đọc cho hết thơ.

Lời thơ là cách tự giới thiệu với độc giả. Nếu một người lạ tự giới thiệu một cách huênh hoang, điệu đàn, khó hiểu ... liệu người nghe có muốn làm quen? muốn tiếp tục làm bạn? Ngược lại, lời giới thiệu quê mùa, bộc bạch, kém suy nghĩ ... khó tiếp cận với giới văn chương.

Không một ai có thể trung thực hoàn toàn. Trung thực là một nỗ lực giữ gìn bản thân không để bị lôi cuốn vào giả hình, giả mạo. Trung thực trong thơ là những diễn tả phải đến từ một kinh nghiệm sống hoặc từ một kiến thức được tư duy đã tạo thành niềm tin. Trung thực không chính xác là thật thà. Có thể thuộc về lương thiện, nhưng có giá trị hơn trong ý nghĩa tử tế. Ở mức tối thiểu, nhà thơ cần phải tử tế với thơ và tử tế với độc giả.

Giản dị trong thơ không tương đương với đơn sơ, không nhất định phải bình dân. Tư duy trong thơ thường thể hiện qua tượng trưng và ẩn dụ. Sự nhìn thấy những bình thường một cách khác thường và khả năng hợp tác nhạy bén giữa ý thức và vô thức, tạo ra ý và tứ thơ khó hiểu một cách tự nhiên. Giản dị là làm cách nào để diễn tả cái “khó hiểu một cách tự nhiên” thành cái “dễ hiểu một cách cố ý”.

Lời thơ trung thực và giản dị là bước đầu tiên dễ gây cảm tình với người đọc và họ có cơ hội trở thành bằng hữu. Chỉ có những người yêu thích tác giả mới chịu khó tìm hiểu và tư duy về những gì thâm trầm, sâu sắc trong thơ của ông. Ngoài ra, nếu không phải là những nhà phê bình chân chính, thì việc vạch lá tìm sâu trở thành thông dụng. Sự ghét bỏ qua truyền thông có sức mạnh tạo ra hiệu quả cụ thể, cho dù nguồn gốc bị bóp méo. Tuy nhiên việc vạch lá tìm sâu không tồn tại với thời gian và không lưu trữ trong trí não có trình độ.

Mỗi thể loại thơ, mỗi cá tính và tài năng sáng tác của mỗi nhà thơ, có mỗi thành phần người đọc riêng. Sáng tác không thể chọn hết mọi độc giả. Mỗi nhà thơ chỉ có thể trung thực và giản dị một cách riêng đối với thành phần người đọc của họ.

 

5.

Tôi nghĩ:

Tứ thơ quan trọng hơn câu thơ, cho dù câu thơ là đơn vị chủ yếu để xây dựng bài thơ, theo quan niệm truyền thống.

Thông thường, câu thơ là đơn vị dễ hiểu, dễ thấy trong cấu trúc của bài thơ. Câu thơ ngắn nhất có một chữ hoặc một vần. Câu thơ dài không có tiêu chuẩn nào quy định.

Một tứ thơ cũng có thể hàm chứa trong một chữ, trong một cụm chữ, trong một câu hoặc nhiều câu.

Tứ thơ là hình ảnh, ký hiệu, ngôn ngữ, phối hợp với cách diễn tả để trình bày ý thơ. Ý thơ thuộc về trừu tượng, cho dù là ý thơ về một điều gì, vật gì cụ thể trong thực tế. Ý thơ thể hiện qua hình ảnh hoặc một loạt hình ảnh sinh hoạt với nhau. Hiệu quả của trình bày hình ảnh và sinh hoạt của ảnh qua ngôn ngữ và ký hiệu trở thành tứ thơ.  

Nhiều tứ thơ xây dựng nên bài thơ. Đúng hơn, nhiều tứ thơ xây dựng thành một tứ thơ chính, trình bày chủ đề, thông điệp hoặc nội dung bài thơ.

Theo tôi, tứ thơ là nơi sáng tạo có thể hiển lộng, nơi biểu lộ được tài hoa của người nghệ sĩ. Một tứ thơ trung thực là kết quả của cá tính, sở học, sở thích, ý thức, và tài năng của nhà thơ. Dĩ nhiên, hai động lực đóng góp sáng tạo tứ thơ vẫn là vô thức và may mắn.

Một trong số lý do để tứ thơ đóng vai trò quan trọng là luận lý thơ. Cấu trúc của tứ thơ bao gồm nhiều hình ảnh. Những hình ảnh này sinh hoạt với nhau để tạo ra ý nghĩa. Những sinh hoạt này thể hiện qua luận lý, dù là một loại luận lý khác với luận lý triết học, toán học, xã hội học ... và luận lý hàng ngày. Luận lý thơ thuộc về vô thức, bốc đồng và xuất thần. Một tứ thơ hay, nhất là những tứ thơ phức tạp, đòi hỏi có luận lý thơ hay, độc đáo hoặc mới lạ.

Một lý do khác, tứ thơ là đại diện mỹ thuật, cảm tính và trí năng. Có nhiệm vụ tượng trưng, ngụ ý, ám chỉ, điềm chỉ ý nghĩa của tứ trong liên hệ ý nghĩa toàn bài.

Quan sát một bài thơ qua cấu trúc của tứ thơ sẽ dễ cảm nhận nghệ thuật sáng tác và dễ phân tích, giải mã hơn là dựa trên câu thơ và từ vựng thơ. Sáng tác một bài thơ bằng tứ thơ sẽ khác với sáng tác bằng đơn vị câu và chữ. Thời đại chú trọng sáng tác bằng câu thơ và từ vựng thơ đã qua, tuy không mất hiệu lực, nhưng tứ thơ mới là đơn vị quan trọng trong sáng tạo một bài thơ. Tôi có lần đã suy nghĩ, chưa dám khẳng định, mỗi tứ thơ là mỗi bài thơ.

Thơ mảnh rời (Hậu Hiện Đại), thơ Thị kiến (Visual poetry), thơ Mô hình (Module-poetry), thơ Cụ thể (Concrete poetry) ... là những loại thơ chú trọng đến tứ hơn câu.

 

6.

Tôi nghĩ:

Một bài thơ thường được xây dựng bởi ba phương pháp. Một là sử dụng những câu thường để đưa ra những câu hay. Càng có nhiều câu hay, bài thơ càng giá trị. Hai là sử dụng những câu thường để xây dựng toàn bộ bài thơ hay. Cách thứ ba là sử dụng phối hợp cả hai cách trên. Về mặt lý thuyết, cách thứ ba nghe có vẻ hợp lý và dễ hay hơn hai cách kia. Trong thực tế, sử dụng cách nào là do sở thích và học thuật của mỗi nhà thơ. Rồi tùy vào mỗi loại thơ sẽ có mỗi cách thích hợp. Ví dụ, phương pháp thứ hai thích hợp cho loại thơ hiện thực về chính trị, xã hội, phản kháng... Tuy nhiên, không có quy luật nào nhất định.

Cá tính của tôi, bất kỳ làm điều gì đều đòi hỏi công phu, tôi luôn luôn bắt đầu bằng xây dựng một giải thuyết để thực hành cho đến khi giải thuyết thành lý thuyết. Điều này chưa chắc đã hay vì mất nhiều thời giờ và nhiều khi bị cứng ngắt lúc thực hành. Người thuần sáng tác nên dể tự do, trôi chảy, bềnh bồng, thú vị hơn. Tuy nhiên, đã là cá tính, biết làm sao!

Sau một thời gian suy nghĩ về sáng tác thơ. Lục lọi trong phức tạp, rối rắm, mơ hồ, nghi vấn... Tôi nghiệm ra nên xây dựng lý thuyết một cách đơn giản từ những kết tinh của phức tạp, rối rắm, bí ẩn, vì khi thực hành, diễn trình làm thơ, tự nó, sẽ phức tạp, rối rắm và bí ẩn. Mỗi bài mỗi khác. Không có vải dày nào có thể bao hết lửa. Làm thơ là đốt lửa. Đốt lý thuyết.

Vào một tuổi đời nào đó, khi tất cả mọi chuyện đều bình tĩnh, những gì trước đây xem là quan trọng, là ghê gớm, bỗng nhẹ nhàng không ký lô, lúc này, làm thơ không vì lý do gì. Lúc này làm thơ vì yêu mến phẩm chất và tinh hoa của thơ. Lúc này làm thơ thích thú một mình. Không quan tâm có người đọc hay không.  Xem ra, tuổi già cũng có điểm lợi hại mà tuổi trẻ khó chạm đến.

Lúc này, tôi bắt đầu xây dựng giải thuyết sáng tác thơ bằng tứ, không bằng câu. Tứ cũng chia thành tứ dở, tứ thường, tứ độc đáo.

Bài thơ có giá trị bao gồm tứ thường và tứ độc đáo. Bài thơ dở bao gồm tứ thường và tứ dở. Bài thơ trung bình có cả ba loại tứ. Tính sáng tạo thể hiện nơi tứ thơ độc đáo. Tính bắt chước biểu lộ nơi tứ thơ dở.

Cấu trúc bài thơ bằng tứ là nghệ thuật kết hợp những cảnh phim ngắn.

 

Ngu Yên
(Bản sửa trong mùa COVID 19.)

 

(Xem tiếp kỳ hai: Câu thơ dở và câu thơ hay.)

 

2020