3

 

Đọc Thơ Cùng Ngu Yên

kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong buổi tiệc cuối năm 2015, ngồi với người bạn văn nghệ, gần tàn tiệc, câu chuyện thường chuyển sang tâm sự không vui. Anh nói, gần hai năm nay, bế tắt, không viết ǵ được. Làm bài thơ nào xong, đọc lại cũng phải bỏ đi. Không thể cứ nhai lại những ǵ ḿnh đă viết. Nhai lại của người khác, lại càng không nên. Chẳng biết làm sao!

Tôn trọng tâm sự của anh nhưng tôi không nghĩ như vậy. Trước hết, đây là triệu chứng và t́nh trạng lạc quan. Không có ai có thể sáng tác măi dựa trên những ǵ ḿnh đă biết, đă kinh qua. Hầu hết những người sáng tác thật sự và lâu dài đều trải qua giai đoạn này, chẳng những một lần mà nhiều lần. Bế tắt là nguyên nhân đưa đến hai kết quả:

1- Chấm dứt việc viết lách.

2- Khai thông một ngả rẽ, một lối đi mới.

Không bế tắt, chỉ có hai trường hợp: Một, thuộc về thiên tài. Tôi chỉ đoán, chưa bao giờ thấy, dù đă đọc nhiều tiểu sử và sự nghiệp của các tác giả danh tiếng, nhưng vẫn chưa đọc hết. Hai, không phải là quá tŕnh tiến triển mà chỉ là sử dụng thủ thuật văn học, cố gắng hiện diện, v́ những lư do không trực tiếp liên quan đến văn chương. Quan điểm này đă được nhà văn kiêm thi sĩ Jorge Luis Borgers, người khai phá trào lưu văn chương Hóa Ảo Hiện Thực (Magic Realism), nhận xét: "Tôi quen rất nhiều nhà thơ ở đây, làm thơ hay, những bài thơ rất hay, tâm tư tinh tế ..vân...vân... nhưng nếu tṛ chuyện với họ, điều duy nhất mà họ nói là những chuyện thô tục hoặc chính trị theo cách thông dụng của mọi người. Điều đó cho thấy, những ǵ họ viết thực sự là loại tŕnh diễn bên ngoài. Họ đă học cách viết theo kiểu một người học đánh cờ Vua hoặc đánh bài Brit. Họ hoàn toàn không phải là thi sĩ hay văn sĩ. Đó là thủ thuật họ đă học được và học rất thuần thục. Họ có tất cả những điều cần dụng ngay tầm tay. Nhưng hầu hết, tôi nên sửa lại, ngoại trừ bốn hoặc năm người, những kẻ c̣n lại dường như nghĩ rằng đời sống không có tính thơ hoặc không có ǵ bí ẩn cả. Họ nhận lănh mọi thứ một cách vô tư, vô tâm và vô ơn. Họ biết khi nào cần phải viết, đột nhiên họ trở nên buồn bă  hoặc mỉa mai." (Trích bài phỏng vấn trong tạp chí Paris Review số 39, mùa thu 1966, do Ronald Christ thực hiện, trong loạt chủ đề, Nghệ Thuật Viết Văn.)

Chuyện này xảy ra khắp nơi, không riêng ǵ cho người Việt. Chỉ khác là ở tây phương người ta thẳng thắng bày tỏ những sai lầm. Đối với dân ta, ngại ngùng, chẳng ai dám nói, dù dụng tâm xây dựng.

Đưa ra một ví dụ, hầu hết nhà thơ Việt đều có ít nhất là một bài thơ với nội dung hư vô. Xem thường danh lợi. Thơng tay vào chợ. Nhưng cứ nh́n vào cách sống của họ th́ có thể hiểu khá rơ ràng. Hoá ra thần tính hư vô chỉ là khuôn sáo, thủ thuật làm thơ. Ngoài ra, vô số những ư-tứ-h́nh ảnh thơ được sử dụng vô tư, nhái lại, không có tâm t́nh đính kèm theo chữ.

Khi bế tắt, ngưng lại, không tiếp tục viết cho có mặt, đây là thái độ tự trọng của một người cầm bút chân chính. Tôi ngưỡng mộ. Từ bế tắt đó, nếu đưa đến quyết định gát bút, vừa là tự trọng vừa là dũng cảm. Đă viết không dễ ǵ bỏ ngang. Tôi ngưỡng mộ.

Như tôi ngưỡng mộ ca sĩ Duy Trác, ông giă từ sân khấu trong lúc c̣n phong độ. Người thưởng ngoạn mong muốn ông trở lại dưới ánh đèn màu, nhưng ông quyết liệt, cho dù trong đám cưới của cô gái út, chính cô và chàng rễ lên sân khấu xin ông một món quà, là một bài hát, ông vẫn giữ lập trường. Khi tôi có dịp hỏi ông về quyết định này, ông cho biết, Ông chỉ có thể cảm nhận và diễn tả một số bài ca mà nay ông không c̣n muốn lập lại. Nhạc mới, nhạc t́nh sau 75, không gây được cảm xúc cho ông... Ông giă từ sân khấu trong sự bàng hoàng của những người yêu tiếng hát Duy Trác.

Bế tắt là một động cơ cần thiết để thoát ra những giá trị nghệ thuật đă từng là niềm tin của tác giả. Chính v́ nhận ra sự bế tắt này, mà người nghệ sĩ mới cố tâm rèn luyện bản lănh để khai phá, để mở cánh cửa bế tắt, t́m vào vùng đất mới. Nhà văn Nobel 1982 Gabriel Garcia Marquez bị bế tắt, ông ngưng viết năm năm, t́m cho ḿnh một lối đi; khi cầm viết trở lại, ông đă sáng tác Trăm Năm Cô Quạnh, một tác phẩm quan trọng trong ḍng văn học thế giới.

Bạn tôi,

Tôi muốn nói với bạn, xin chúc mừng bạn bị bế tắt. V́ tôi tin rằng sẽ sắp, ba năm, năm năm, rồi sẽ  đọc được những tác phẩm mới của bạn. Những tác phẩm làm cho bạn hănh diện, kư tên ḿnh bên dưới khi chấm dứt.

 

Thơ Tuyển Trên Mạng:

Tôi đang có ư định lục t́m những bài thơ, hoàn toàn dựa trên kỹ thuật, đăng trên mạng của những nhà thơ "bị bế tắt" nay trở lại với hương vị và sắc thái mới, nhưng tháng này, chưa t́m được. Có lẽ họ c̣n đang trầm ngâm với thời gian.

Thay vào đó, tôi t́m thấy vài nhà thơ, có những tứ thơ mới lạ. Gây cho tôi cảm giác thú vị. Thông thường, ngoài trừ những lănh vực khoa học, trong triết học và văn chương, ư tưởng hầu như không c̣n ǵ mới lạ. Nhân loại tư duy bao lâu nay cũng chỉ bao nhiêu chuyện, những hiện thực và những tư tưởng từ hiện thực. Mới lạ hay không là do sự cảm nhận vào và cách diễn đạt ra. Nhà thơ Wislawa Szymborska, thi sĩ Nobel 1996, cho rằng, người làm thơ thường kinh ngạc bởi trực giác bất chợt sáng lên, về những ǵ mà người khác xem là b́nh thường, tầm thường, và họ không thấy ǵ khác biệt.

1.

[...]

chỉ vậy thôi, trong cái mùi vị của tận thế này

ngày cuối cùng của vận hạn nguyền rủa

anh có thể không, quên tương lai và quá khứ

để bên em?

(Trích)

Ngày tận thế, chúng ta nghe quá nhiều, nghe tin tức, nghe bởi hăm dọa, nghe khuyên nhủ, nghe đến nhàm, nhưng "ngày cuối cùng của vận hạn nguyền rủa", chưa nghe, mới nghe lần đầu.

Tận thế là thế gian tận cùng hủy hoại, là một sự kiện, được khoa học chứng minh. Trong tôn giáo c̣n đính kèm theo sự phán quyết cuối cùng, nhân loại trên cán cân thiện ác. C̣n ngày cuối cùng của vận hạn là ngày giải thoát con người ra khỏi sự nguyền rủa. Ai nguyền rủa? Và ai bị nguyền rủa?

Rồi mùi vị của tận thế là mùi ǵ?- Mùi tử khí. Mùi chết.

Trước sau ǵ cũng chết, sao anh c̣n măi dự tưởng, xông xáo cho tương lai; sao anh c̣n sầu muộn, ám ảnh bởi quá khứ; sao anh không thể sống với hiện tại, với t́nh em? Một khẩn cầu nhỏ nhoi, cảm động của người nữ, nhưng có thể là một đ̣i hỏi lớn lao, một áp lực khó khăn cho người nam. Những rạn nứt của t́nh yêu dẫn đến lạnh cảm, ngoại t́nh, ly dị...phải chăng, bắt đầu từ một mâu thuẫn rất nhỏ? Có lẽ, bắt đầu từ chỗ, không có thời giờ cho nhau. 

Tứ thơ của đoạn này thật sự mang đến cho tôi sự thú vị trong một ngày bận rộn. Tôi cũng tự hỏi ḿnh, tại sao?

2.

[...]

Quá khứ chỉ là xác rữa thời gian

Vun vào ta cùng những mảnh bánh vụn trên bàn.

(Trích)

Quá khứ, thơ nào chẳng thấp thoáng cái bóng quá khứ? Thời gian, thơ nào không có cảm nhận sự tàn phá âm thầm của thời gian? Nhưng tứ thơ: vun vào ta cùng những mảnh bánh vụn trên bàn, đưa ra h́nh ảnh độc đáo. Khiến tôi băn khoăn, tưởng tượng, những mảnh bánh vụn chờ bỏ rác, những mảnh bánh vụn chờ kiến tha, trong đó có ta. V́ sao? Phải chăng v́ quá khứ mà ta ra thể thống ngày hôm nay? Đây là một câu hỏi thuộc về siêu h́nh. Liệu có trăm câu trả lời liên quan đến hiện sinh, hiện hữu và sự nghi hoặc về cuộc sống. Có thể tưởng tượng của tôi vượt ra ngoài ư muốn của tác giả. Nhưng ai biết được vô thức của tác giả nói ǵ? Jacques Lacan, nhà tư tưởng kiêm tâm lư gia, cho rằng vô thức có hệ thống ngôn ngữ riêng, vô h́nh và song song với hệ thống ngôn ngữ nói và viết. Đương nhiên, một trong nhưng yếu tính của thơ là  gợi lên, phát động trí tưởng tượng của độc giả.

3.

[...]

cô gái không mặc xu chiêng 
loài người như một đàn sâu mềm nhung nhúc ḅ trên người cô gái 
những bàn tay bạch tuộc, những hàm răng cá sấu 
cô gái ăn thịt chúng 

Tứ thơ rất hiện đại, nói đến sự ham sắc, tham dâm của con người. "đàn sâu", "nhung nhúc ḅ", gây cảm giác ghê tởm. "bàn tay bạch tuột", "hàm răng cá sấu" gây kinh nghiệm rất thực tế của bàn tay tham lam rị mọ và hàm răng kích thích cạp nhai "không xu chiêng."

Nhưng câu chuyển: "Cô gái ăn thịt chúng," thật là thú vị. Hóa ra "không xu chiêng" có dụng ư. Cảm giác thoạt đầu thấy tội nghiệp cho cô gái, bây giờ, hơi khựng lại, hơi sợ hăi cạm bẫy đường đời.

[...]

gương mặt như cái quần silip 
người đàn ông hôn 
đôi mắt như chiếc áo ngực

Tứ thơ lạ: Mặt nào như quần silip? Chắc chưa ai thấy, cái mặt như silip bao giờ? Silip kiểu nào? truyền thống hay G string? Tứ thơ ám chỉ cái mặt mê silip và cái mặt lúc nào cũng nhơn nhơn sẵn sàng đưa silip ra.

Một ư nghĩ khác, cái mặt dễ ghét, đáng khinh (như silip), nhưng nghĩ lại, trên đời có mấy ai ghét silip?

Người đàn ông hôn đôi mắt? Tứ này xưa, thuộc thời lăng mạn. Thời đại hôm nay, hôn chiếc áo ngực như hôn đôi mắt. Nếu đôi mắt là cửa sổ của linh hồn, th́ đôi vú là cỗng vào cơi thiên thai. Sự thay đổi của thời đại trong ư tưởng về chuyện sống hàng ngày, được thể hiện vào thi ca. Nếu không phải theo lối hiện thực, sẽ theo những lối khác như siêu thực, tượng trưng, hóa ảo...Tác giả chọn ẩn dụ: áo ngực thay thế cho đôi mắt.

[...]

khổ đau của những người đàn bà da vàng 
chồng chồng chất chất 
chả thể tan biến đi 
không thể hết buồn 
mà thành cái ác 
đốt trụi con 
cắt chym chồng 
oán hận những người đàn bà khác 
thành máu đen đặc quánh 
bủa vây

(Trích)

Tôi ưa thích bài thơ này v́ sự diễn đạt khác thường nhưng phát xuất từ kinh nghiệm và suy tư. Sau khi tŕnh bày những liên hệ giữa đàn ông và phụ nữ trong sinh hoạt xă hội hôm nay, tác giả đưa người đọc vào phần tinh túy của bài thơ là thân phận đàn bà, nỗi niềm người vợ, sinh mệnh của đa số phụ nữ Việt Nam. Đàn bà hoặc mặc xu chiêng cho kỹ, bảo vệ chồng con; hoặc không mặc xu chiêng, để dụ dỗ đàn ông, chồng của người khác. Xă hội Việt hôm nay, cho phép đàn ông, nhất là đàn ông có tiền, có danh, có chức, được thỏa thê cùng phụ nữ trẻ đẹp bên ngoài. Để người vợ:

khổ đau

chồng chất

chả tan biến

không hết buồn

đốt con

cắt chym chồng

oán hận đàn bà khác

thành máu đen

Những hành động ghen tương từ thất vọng cùng cực, giết con, cắt dương vật chồng, nghi ngờ oán hận tất cả đàn bà chung quanh. Máu đen là máu chết. Sống chẳng bao giờ hết buồn, như một người đă chết. Bây giờ, người đọc mất cảm giác thú vị, chỉ c̣n cảm tưởng kinh sợ và thương cảm.

Ở đây, tác giả dùng chữ "chym"  thay v́ cắt chim chồng, hoặc cắt cu chồng, cho thấy tác giả là người băn khoăn với đạo hạnh hoặc với người chung quanh, nhưng sáng tạo, ṿng qua chỗ "nguy hiểm", thay chữ i thành y.

 

Bài Thơ Tuyển.

Tứ thơ là phần quan trọng nhất của bài thơ. Nó được tạo ra bằng ngữ cảnh, ngữ âm, ngữ ư và diễn tiến văn phạm để tiêu biểu văn phong.

Tứ thơ hiện đại hầu hết được tạo bởi h́nh ảnh hoặc một dăy h́nh ảnh hoặc một đoạn phim, với âm thanh và màu sắc; với nghĩa đen, nghĩa bóng và nghĩa ám chỉ. Đặc biệt tứ thơ hiện đại sử dụng những h́nh ảnh và những sinh hoạt hiện đại. Có nghĩa là nhiều phần tưởng tượng và hư cấu. Hoặc những h́nh ảnh âm thanh hiện thực nhưng cốt để ám chỉ một ư nghĩa khác trong biểu tượng hoặc tượng trưng.

"To read a poem is to hear it with our eyes; to hear it is to see it with our ears." (Octavio Paz.) Đọc thơ là nghe bằng mắt. Khi đọc, chữ nghĩa tuy câm nhưng vang lên tiếng vô h́nh, do đó người đọc nghe được thơ bằng mắt và khi nghe, h́nh ảnh hiển hiện theo sự liên kết của từ ngữ, do đó người đọc thấy được thơ bằng tai. Nói đúng hơn, đọc thơ là cảm nhận bằng tưởng tượng qua kinh nghiệm của thị giác và thính giác. . Ngữ cảnh, ngữ âm / văn cảnh, văn âm, theo kinh nghiệm tạo ra sự tưởng tượng diễn tiến của bài thơ trong cảm nhận của người đọc. V́ vậy, vai tṛ của tứ thơ trở thành then chốt cho thơ hiện đại.

Tứ thơ sống động là nhịp thơ hiện đại, chính là sự sinh hoạt liên tục, dồn dập suốt bài thơ, là sắc diện ở giữa tác giả và độc giả. Qua tứ thơ, tác giả chuyển đến người đọc tâm thơ và ư thơ. Từ tứ thơ, mỗi người đọc cảm nhận theo cá tính và văn hóa riêng của bản thân, những ǵ tác giả chuyển đến. Tuy nhiên, tác giả không chỉ chuyển đến người đọc những kư hiệu hữu h́nh như ngôn ngữ, h́nh ảnh, âm thanh, màu sắc, mà c̣n chuyển đến người đọc những kư hiệu vô h́nh của vô thức và những ư thơ ám chỉ. Do đó, đọc thơ cũng cần học thuật, cũng khó như làm thơ. Đọc thơ là một cách cộng hưởng sáng tác. Nói theo kiểu Reader-response criticism.

Do những ư nghĩa không thể hiện qua chữ nghĩa đại diện, tứ thơ có bề sâu thâm trầm để chứa đựng những ǵ không biết, không thể hoặc không cần phải diễn tả cụ thể. Những úp mở đó khêu gợi trí tưởng tượng và sự nhạy cảm của tâm tư.

Tôi t́m thấy trong bài thơ Chờ Đợi những tứ thơ nhỏ trong dạng tương đương với ngữ cảnh, kết hợp vào diễn tiến của văn cảnh, tạo ra tứ thơ chung về sự chờ đợi. Hăy đọc qua một lần. Xem thử ai chờ đợi ai? Chờ đợi điều ǵ? Hoặc trong khi chờ, kiểu Samuel Beckett, Trong Khi Chờ Godot. (1) Và đọc những h́nh ảnh hiện đại, không sáo ṃn, rời rạc nhưng có sự nhất quán toàn bài.

 

Chờ Đợi

 

Vào một ngày mùa hè cuối cùng rất nóng tôi đi ra khỏi nhà, mang theo viên phấn.  Chỉ có một con đường với những ngôi nhà xấu xí ngượng nghịu đối mặt nhau.  Tôi đi ở giữa cổ đeo chiếc lục lạc bằng đồng để những người mù có thể tránh tôi.  Đến cuối con đường tôi dừng lại.  Đó là nơi tôi hẹn với chiếc máy bay chỉ c̣n một cánh, người bà con chỉ gặp một lần, và nhà tiên tri đă hết tiên tri những điều nguy hiểm. Bây giờ ông ta chỉ là con châu chấu đă bị bẻ chân.  Trong lúc chờ đợi tôi vẽ một ṿng tṛn rồi nhảy lên nhảy xuống điệu nhảy phù thủy cầu mưa.  Như thường lệ tất cả những người tôi chờ đợi đều đến trễ.  Chỉ có một đứa trẻ đi qua. Đứa trẻ có cái nh́n của cuộn phim chưa chụp nhưng đă t́nh cờ bị phơi ra ánh sáng. Nó cầm chiếc roi dài vừa bước đi vừa giận dữ đánh đập mặt đất.

Tác giả sử dụng thể thơ xuôi. Đây là một thể thơ khó sáng tác, v́ dễ bị lẫn lộn vào văn xuôi. Và người đọc Việt ít quen thuộc với thể thơ này, nên dễ có phản ứng bất lợi ngay từ đầu. Tôi có kinh nghiệm về thể thơ này, v́ tôi cũng sáng tác thơ xuôi. Trao đổi ư kiến với nhà văn Trần Vũ, tôi nghiệm ra, viết thơ xuôi phải tận dụng tượng trưng, ẩn dụ và những h́nh ảnh sắc bén, nhạy cảm, nếu không sẽ khó vượt trội câu văn xuôi. Ngoài mặt, phải sử dụng ngôn ngữ một cách "thơ", tức là diễn tả làm sao cho bài viết có "nhan sắc" thơ (chữ của Trần Vũ).

Ưu điểm của thể thơ xuôi là cho phép người đọc theo dơi liên tục ư tứ của bài thơ, không bi ngắt hàng, quấn hàng, vắt hàng, xuống hàng. Đọc thơ trước hết là tiếp cận ư thơ qua tứ thơ. Hầu như phải đọc chậm, đọc kỹ, đọc lại, nếu bạn là người yêu thơ. Nếu bạn có thói quen đọc thơ chỉ một lần, dù bài thơ dài hoặc ngắn, tức là bạn thuộc vào hạng kỵ mă, cưỡi ngựa xem hoa. Nếu bạn đọc lướt chữ, cho mau hết bài thơ, v́ bài thơ dài hoặc bài thơ không vừa ư, tức là bạn thuộc vào hạng lên phi cơ bay ngang vườn hoa.

 

Bây giờ, mời các bạn đọc lại:

Vào một ngày mùa hè cuối cùng rất nóng tôi đi ra khỏi nhà, mang theo viên phấn

Chỉ có một con đường với những ngôi nhà xấu xí ngượng nghịu đối mặt nhau. 

Tôi đi ở giữa cổ đeo chiếc lục lạc bằng đồng để những người mù có thể tránh tôi

Đến cuối con đường tôi dừng lại. 

Đó là nơi tôi hẹn với chiếc máy bay chỉ c̣n một cánh, người bà con chỉ gặp một lần, và nhà tiên tri đă hết tiên tri những điều nguy hiểm.Bây giờ ông ta chỉ là con châu chấu đă bị bẻ chân

 

Trong lúc chờ đợi tôi vẽ một ṿng tṛn rồi nhảy lên nhảy xuống điệu nhảy phù thủy cầu mưa

Như thường lệ tất cả những người tôi chờ đợi đều đến trễ. 

Chỉ có một đứa trẻ đi qua.

Đứa trẻ có cái nh́n của cuộn phim chưa chụp nhưng đă t́nh cờ bị phơi ra ánh sáng.

Nó cầm chiếc roi dài vừa bước đi vừa giận dữ đánh đập mặt đất.

Những chữ nghiệng đậm là những tứ thơ ám chỉ, mang ẩn ư.

 

Phân tích hàng ngang:

1- Mùa hè cuối cùng / mang theo viên phấn, cho thấy nhân vật tôi kể lại chuyện quá khứ, thời chấm dứt tuổi học tṛ.

2- Giữa cổ đeo chiếc lục lạc bằng đồng để những người mù có thể tránh tôi, ám chỉ nhân vật tôi "mù," v́ người mù đi nghinh ngang nên phải  đeo lục lạc hoặc rung chuông cho người ta tránh né. Tác giả không dùng h́nh ảnh người mù tây phương, có chó dẫn đường hoặc chống gậy trắng. Người mù đeo lục lạc, dường như đă ch́m sâu dĩ văng, ngày xưa thường thấy ở phố chợ hoặc làng quê. Lục lạc thường đeo ở tay. tác giả chọn đeo ở cổ, gây ra h́nh ảnh một con vật: Trâu, ḅ, chó, mèo thường đeo lục lạc ở cổ.

Nói ngược lại, v́ người mù tưởng ḿnh sáng, nên người sáng đành phải mù. Bày tỏ sự bất măn đối với xă hội và người chung quanh. Nhân vật tôi tự nhận ḿnh khác thường, không nhận thấy theo kiểu đa số thấy. Và hy vọng người khác tránh đường cho ḿnh đi.

3- Hẹn ḥ với:

- chiếc máy bay chỉ c̣n một cánh,

- người bà con chỉ gặp một lần,

- nhà tiên tri đă hết tiên tri....là con châu chấu đă bị bẻ chân,

ám chỉ cuộc hẹn với những thứ phế thải (máy bay), với t́nh người tưởng gần mà xa (bà con), với những giá trị không được công nhận (nhà tiên tri). Tóm lại, đây là cuộc hẹn, đối với người thường là vô ích, vô tích sự, nhưng đối với nhân vật tôi, có thể là cần thiết, là thú vị.

Rất nhiều loại h́nh tượng có thể chọn, tác giả chọn máy bay găy cánh để tượng trưng cho nền văn minh, khoa học, cơ khí đang khập khiễng. Chọn người bà con để tượng trưng cho t́nh người thói đời. Chọn nhà tiên tri như châu chấu găy chân để tượng trưng cho tâm linh, tôn giáo, triết lư đang đến thời điểm mất thuyết phục, ḷng tin bị nghi hoặc.

4- Vẽ ṿng tṛn / điệu nhảy phù thủy cầu mưa, ám chỉ cơi sống (ṿng tṛn) hạn hán, cần nhiều cơn mưa. Và nhân vật tôi nh́n thấy những hy vọng hảo huyền nào đó để có được cơn mưa cần thiết. Nói một cách khác, cuộc đời khô cạn, cần có một cứu cánh và cứu cánh đó dường như bí ẩn.

Bên cạnh ư nghĩa trên, ṿng tṛn thường tiêu biểu cho sự viên măn, một ước mơ. Người nhảy cầu mưa, nhảy trong, ngoài, chung quanh ṿng tṛn. Nhân vật tôi nhảy với ước mơ dù biết rằng khó đạt. Mấy ai cầu mưa mà được mưa.

5- Tất cả những người tôi chờ đợi đều đến trễ, ám chỉ một mức độ thất bại, một sự không hài ḷng, cho dù hẹn với những thứ, những người, được xem là vô dụng, vô ích, vô giá trị mà vẫn muộn màng.

"Như thường lệ", có nghĩa là nhân vật tôi ngán ngẫm chờ đợi, "cái đến hẹn" luôn luôn trễ. Không biết trễ bao lâu?

6- Đứa trẻ đi qua / cái nh́n / cuộn phim chưa chụp / bị phơi ra ánh sáng,  ám chỉ cái muốn gặp, không gặp. Lại gặp cái không muốn. Cái nh́n của cuộn phim chưa chụp là cái nh́n của thời ngây thơ, mới lớn, chưa biết đường đời trăm vạn nẻo. Vậy mà đă bị lột ra ánh sáng, cuộn phim trắng bóc, cuộn phim mất hết cơ hội ghi nhận những ǵ hay đẹp của cuộc đời. Nói một cách khác, những ǵ đang chờ đợi là những ǵ đă mất ngay từ thuở ban đầu. Đứa trẻ đó chính là tác giả. Xuất hiện để chấm dứt bài thơ bằng một cảm xúc mất mát.

7- Cầm / roi dài / giận dữ đánh đập mặt đất, ám chỉ phản ứng và tâm lư của người không vừa ư. Nếu ở đây, tác giả chọn h́nh ảnh một người già xuất hiện, đi ngang, ngẩng mặt nh́n mây trắng th́ sự ám chỉ sẽ cho thấy tác giả xem nhẹ chuyện phiền trược của đời sống. Phủi tay nhẹ nhàng vào hư vô. Tứ thơ này cũ ngắt và nhàm chán. Đa số là không thật. Tứ thơ đứa trẻ cầm roi đập xuống đất hợp với thời đại hơn. Trong nhịp sống dồn dập, cạnh tranh, mất mát, không vừa ư, bực bội, là phản ứng thực tế và thành thật.

 

Phân tích hàng dọc:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(H́nh 3)

 

Chia làm ba cột:

- Cột 1: Diễn tiến của nhân vật tôi.

- Cột 2: T́nh huống xảy ra.

- Cột 3: Diễn tiến của nhân vật đứa trẻ.

Các số thứ tự từ 1 cho đến 9, chỉ diễn tiến theo câu truyện trong bài thơ.

Đọc theo hàng dọc:

- Cột 1: Tôi đi mang theo viên phấn  và trong lúc chờ đợi vẽ ṿng tṛn nhảy cầu mưa.

- Cột 2: Cuộc hẹn với máy bay găy cánh, với người bà con xa lạ, với nhà tiên tri hết thời. Nhưng chờ đợi khá lâu và hy vọng người hẹn sẽ đến dù trễ, như đă từng luơn luơn đến trễ.

- Cột 3: Đứa trẻ bất chợt đi qua, cái nh́n mất mát và giận dữ cầm roi đánh xuống đất.

Cuộc hẹn không thành nằm ở giữa cấu trúc bài thơ, hai bên cân xứng: nhân vật tôi đi t́m cuộc hẹn và đứa trẻ giận dữ v́ mất mát.

Nhân vật tôi hẹn ḥ với "cái muộn màng", "cái trễ", "cái mất". Phản ứng và thái độ của nhân vật tôi được biểu trưng bởi đứa trẻ.

 

Phân tích cấu trúc sườn:

Tôi không có ư sửa bài thơ, Chỉ áp dụng phép đơn giản để trơ xương những mệnh đề hoặc những câu ngắn nhất, hầu ư nghĩa hiện thân rơ ràng hơn. Một lần nữa, xin đọc lại bài thơ theo phép đơn giản:

 

Ngày hè cuối ra khỏi nhà, mang theo viên phấn.  Cổ đeo lục lạc để người mù tránh tôi. 

Cuối đường dừng lại. 

Nơi hẹn với máy bay một cánh, người bà con gặp một lần, nhà tiên tri hết tiên tri, bị bẻ chân. 

Lúc chờ tôi vẽ ṿng tṛn, nhảy điệu  phù thủy cầu mưa. 

Như thường lệ những người tôi chờ đều đến trễ.  Đứa trẻ đi qua. Có cái nh́n của cuộn phim bị phơi ánh sáng.

Nó cầm roi dài vừa đi vừa giận dữ đánh mặt đất.

 

Kết luận:

Qua tự truyện của nhân vật tôi, anh ta là người không vui trong cuộc sống. Ngay từ trẻ đă có nhiều mất mát, mang một tâm trạng mâu thuẫn với xă hội và hệ thống giá trị hiện hành. Anh ta vẫn đi t́m những ǵ đă mất, những cơ hội đă mất, những giá trị mới cho bản thân, dù biết không chắc ǵ sẽ được. 

 

Nghiên cứu và phân tích bài thơ, các bạn có tin là bói toán không? Nhà phê b́nh dù lợi hại đến đâu, kể cả Samuel Taylor Coleridge, Umberto Eco, Léon Blum, Roland Barthes, Robert Pimsky, Jean Paul Sartre...v...v... đều là thầy bói văn chương. Nếu các bạn không tin, xin đọc đoạn phỏng vấn của Jorge Luis Borges do Ronald Christ thực hiện.

Khi Christ hỏi Borges về việc dùng màu sắc để ám chỉ ư nghĩa tượng trưng trong tiểu thuyết của Borges...

 

Hỏi:

Màu đỏ, thường thường biến chuyển, mờ dần thành màu hồng.

Borges:

Thật sao? Tôi chẳng bao giờ để tâm điều này.

Hỏi:

Đó là ẩn dụ mà ông sử dụng, thế giới hôm nay thành than do lửa ngày hôm qua đốt cháy. Ví dụ như ông dùng cụm từ "Red Adam" (Adam đỏ).

Borges:

Vâng, theo tôi, từ Adam trong tiếng Do Thái cổ Hebrew có nghĩa là "đất đỏ." Thêm vào, phát âm nghe hay, Không đúng sao? "Rojo Adán."

Hỏi:

Vâng, nghe hay. Nhưng điều này không phải là điều ông định tŕnh bày: Phải chăng sự thoái hóa của thế giới nằm trong ẩn dụ dùng màu sắc?

Borges:

Tôi không có ư định tŕnh bày bất cứ điều ǵ. [..cười..] Không có ư định ǵ cả.

Hỏi:

Chỉ để mô tả?

Borges:

Tôi viết, chỉ mô tả. Bây giờ, tôi nh́n thấy toàn màu vàng, có thể giải thích v́ lư do bệnh tật. Khi bắt đầu mất đi thị lực, đó là màu sắc cuối cùng tôi nh́n thấy, đúng hơn, là màu sắc cuối cùng nổi bật ra. Bởi lẽ, dĩ nhiên tôi biết áo của anh không cùng màu với cái bàn này hoặc với những đồ gỗ sau lưng anh, nhưng màu sắc cuối cùng hiện ra là màu vàng v́ đó là màu chói lọi nhất.

Cùng một lư do tại sao chúng ta có công ty Yellow Cab (xe taxi màu vàng) ở Hoa Kỳ.  Khởi đầu họ định dùng xe màu đỏ tươi. Rồi có người phát hiện, về đêm hoặc trong sương mù, màu vàng hiện ra rơ ràng hơn màu đỏ. Do đó, chúng ta có xe taxi màu vàng, để ai cũng có thể phân biệt chúng.

Khi bắt đầu mất dần thị giác, khi thế giới bắt đầu mờ dần rời xa tôi, có một lần cùng với bạn bè....họ trêu chọc v́ tôi luôn luôn đeo cà vạt màu vàng. Họ nghĩ rằng tôi thật thích màu vàng, mặc dù màu này rất chói.Tôi nói, " Đúng, chói với các bạn nhưng không chói với tôi, v́ thực tế tôi chỉ thấy được màu này." Tôi sống trong thế giới màu xám, không phải như thế giới màn bạc (đùa), thành thử màu vàng nổi bật. Chuyện đó giải thích như vậy. Tôi nhớ, câu nói khôi hài của Oscar Wilde: Một người bạn của ông đeo cà vạt màu vàng và đỏ. Trêu đùa chuyện này, ông nói, Ô bạn ơi, chỉ có người điếc mới mang cà vạt như vậy!  ( Trích Paris Review dẫn bên trên).

Các bạn,

Ông Borges bị mất dần thị giác khi lớn tuổi. Ông không c̣n thấy nhiều màu, ngoài trừ những màu rực rỡ. Ông thấy màu đỏ rồi dần dần mờ thành hồng và sau cùng chỉ c̣n vàng, là màu nổi bật nhất. Chẳng có ám tả, ám chỉ ǵ.

Bói lầm là chuyện thường. Bói lầm trong văn chương là chuyện thường xuyên. Chính v́ sợ lầm, nên nhiều nhà phê b́nh thích bói người chết. Họ không thể đính chính, không thể tranh luận. Nhưng chúng ta là người sáng tác và thưởng ngoạn văn chương, tṛ chơi nào cũng có ưu điểm và khuyết điểm, đúng và sai, đă vào chơi văn chương, phải chấp nhận qui luật chơi của nó và chơi cho hết ḿnh, mới có thể tận hưởng niềm vui, ánh sáng và vẻ đẹp.

 

Thân ái, một ngày vui với thơ.

 

Ngu Yên

Ngày 4 tháng 1 năm 2016.

 

GHI:

(1) Vở kịch En Attendant Godot, 1952. Diễn năm 1953.

 

http://www.gio-o.com/NguYen.html

 

© gio-o.com 2016