tháng 11 năm 2015

 

 

Đọc Thơ Cùng Ngu Yên mỗi tháng một kỳ, ngoại trừ, đôi khi biệt lệ. Nội dung, giới thiệu một bài thơ "hay" và những câu thơ "hay", nhất là những câu thơ trên các mạng lưới văn chương hôm nay. Mục đích, chia xẻ thẩm mỹ và ư tưởng trong thi ca của người Việt đương đại, từ một góc nh́n hết sức cá nhân.

 

"Hay" được nhắc đến trong tiết mục này, hoàn toàn kỹ thuật. Kỹ thuật không phải là nghệ thuật, v́ vậy, cái "hay" tất nhiên thiếu sót và nông cạn. Thi sĩ Lawrence Durrell (1912-1990) viết rằng: "Thi ca là những ǵ xảy ra, khi sầu lo, khắc khoải, ước ao, gặp gỡ kỹ thuật  (làm thơ)." Có nghĩa, kỹ thuật đóng vai phụ, nhưng lại thay thế vai chính vô h́nh, để ra diễn trước khán giả. Kỹ thuật cao không hẳn làm thơ hay, nhưng những bài thơ hay thường có kỹ thuật cao.  Hơn nữa, cho dù bất kỳ là ai, cái "hay' nh́n từ một cá nhân luôn luôn bị giới hạn.

 

Đem những kỹ thuật của các học thuyết Đông Tây vào ngôn ngữ Việt, nhất là ngôn ngữ thơ, là công việc của người mù cố gắng xem hoa màu ǵ, sau khi nghe người khác kể lại. V́ vậy, xin nhận lỗi trước những sơ sót, sai lầm và xin chỉ giáo tại nguyen112052@gmail.com.

 

Sau cùng Đọc thơ cùng Ngu Yên nghĩa là chúng ta, những người yêu thi ca, cùng nhau đọc thơ và Ngu Yên chịu trách nhiệm; không liên quan đến người khác và mạng lưới Gió-o. Dĩ nhiên, Ngu Yên sẽ nói những ǵ chưa chắc tác giả muốn nói hoặc họ nói từ vô thức không phải từ ư thức. Và chắc chắn có khi Ngu Yên sẽ không nói được những ǵ tác giả thật sự muốn nói. Nhưng đó cũng là luật của tṛ chơi chữ nghĩa. Về giá trị của bài thơ, cá nhân Ngu Yên rất cảm kích câu nói của thi sĩ Robert Frost (1874-1963) và mong muốn thơ Việt càng lúc càng nghệ thuật cao, dày và nhiều giá trị hay: " Một bài thơ bắt đầu từ khoái cảm và chấm dứt bằng thông thái."

 

Ghi chú: Bài thơ hay và những câu thơ hay sẽ không để tên tác giả, để tránh tâm lư; thương: củ ấu tṛn; không thương: quả bồ ḥn méo. Tên tác giả và nguồn sẽ xuất hiện trong kỳ tiếp theo.

 

 

Những Câu Thơ/ Đoạn Thơ Tuyển Trong Tháng Mười 2015

1.

Dưới im vắng.mầu âm trầm rộ bóng 
Gió trên cành.vỗ lốm đốm cườm trăng 
Khuya bước xuống.vẩy một chùm khúc xạ 
Con bướm về.gáy đỏ ngọn sao băng…

 

Giữa im vắng.mầu âm đau lanh lảnh 
Chuốt từng lời uất nghẹn.khúc cầm dương 
Từng chiếc lá.cháy ngời tia hiu quạnh 
Nỗi ḷng ai.thấm lạnh những hồi chuông!

(Trích...)

 

Hai đoạn, tám câu thơ, nói đến cảm giác cô đơn hồi tưởng một cách lăng mạn. Không khí của thơ 75 nối dài. Đặc điểm kỷ thuật ở đây là h́nh ảnh tạo ra tứ thơ. " Lư thuyết của Sigmund Freud về vô thức và lề lối cải dạng để (tâm t́nh và ư tưởng) biểu hiện lên bề mặt bên ngoài, phù hợp với sự hiểu biết của nhà thơ H.D. (1) về những h́nh ảnh không cần giải thích trong thơ, có thể gợi ư sâu rộng. Những h́nh ảnh này đă được mă hiệu hóa (code) thành ư nghĩa riêng tư (của tác giả)." (NAAL, Volume D, trang 1303.). Trong mỗi câu thơ, tác giả đă vẽ ra, thật sự vẽ ra, trong trí tưởng của ông và chuyển sang người đọc một bức họa màu sắc đậm, âm u, buồn tẻ. Từ khung thơ diễn đạt nỗi trống vắng nặng trĩu, chợt kư ức lóe lên, đánh động âm thanh: Gáy đỏ. Làm sống động không khí tĩnh lặng. Một chiếc sao băng xẹt qua cháy đỏ, vang lên tiếng kêu quá khứ, tiếng kêu làm cho niềm đau phải kêu theo "lanh lảnh", rồi uất nghẹn thành tiếng "dương cầm", rồi thời gian, tuổi tác, chỉ c̣n là "hồi chuông thấm lạnh".

 

Nói về diện kư hiệu: Ngôn ngữ sử dụng rất chọn lọc và tạo đẹp theo đúng tinh thần cổ điển của thi ca. Nhưng có lẽ không hợp tâm tư của giới tiền phong trong văn học.

 

Những nhà phê b́nh thường phân biệt: ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói. Ngôn ngữ thơ trong truyền thống là đặc điểm để phân thân thi ca và văn xuôi. Vào đầu thế kỷ 20, một phong trào gồm những thi sĩ Anh và Hoa kỳ đă cổ động sự ḥa nhập giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ nói. Ngôn ngữ thơ truyền thống làm cho thơ trở thành "quí tộc", xa dần giới b́nh dân, dần dà mất sự liên lạc. Thi sĩ cảnh tỉnh nhau phải ư thức sự chọn lựa ngôn ngữ để diễn đạt thơ. Và sư chọn lựa này sẽ tạo ra "định mệnh thơ" của thi sĩ ấy.

 

Trong thực tế, không có sự phê phán nên chọn lối đi nào. Mỗi nhà thơ sẽ chọn v́ khả năng và cá tính của ḿnh.

Ghi:

(1) H.D. là bút hiệu của nhà thơ Hilda Doolittle. Một trong những nhà thơ tiền phong cùng Ezra Pound, Richard Aldington, William Carlos Williams, Wallace Stevens... gây lên phong trào thơ Dụng Ảnh (Imagism).

 

2.

ôi. dallas 
nơi tôi đă đến. đă ở hơn mười lăm năm. đă viết văn 
                                                                      làm báo 
và sẽ ra đi 
vầng trăng sau cơn băo 
c̣n lại bao lâu. những bài thơ. lúc chia tay 
không ai vẫy chào. không giọt lệ

và buổi chiều. tiếng cười trên góc phố 
tiếng cười 
như thủy tinh. vỡ 
dường như. dường như. rất quen

(Trích...)

 

Đoạn thơ này rất tâm sự và tâm t́nh, như một lời chia tay. "Không có ǵ trở nên thực sự bao giờ, cho đến khi nó trở thành kinh nghiệm" John Keats. Đoạn thơ này không dụng công kỷ thuật cao kỳ, chỉ những diễn đạt b́nh thường trong thi ca, nhưng nhờ vậy, sự đơn giản, trực tiếp, như lời từ tốn giữa bằng hữu với nhau, giữa nhà thơ và người đọc, khiến cho cảm xúc dễ nhạy cảm.

 

Sự ra đi như "vầng trăng sau cơn băo" là một ẩn dụ so sánh. Rất quen thuộc mà gợi ư. Sau cơn băo, trăng lúc nào cũng biểu hiện sự b́nh an và sự yên tâm sau những tháng ngày vất vả, đối phó với nhiễu nhương. Lời thơ nói nhỏ tâm tư bùi ngùi v́ thời gian c̣n ngắn quá, trước khi phải đi xa.

 

Góc phố là nơi thường diễn ra cảnh chia tay, người đi kẻ ở, người về nam kẻ xuôi bắc. Góc phố nơi c̣n nghe lại "tiếng cười" gịn giă của một người "rất quen". Một người đă làm ông lưu luyến. Nhưng "dường, dường như" người ấy lạnh lùng.

 

" Thi sĩ như con chim sơn ca, đậu trong bóng tối, hót lên để t́m vui từ nỗi cô đơn, bằng tiếng hót ngọt ngào." Percy Bysshe Shelley. Người viết đoạn thơ trên, đă làm điều đó, một phần nào.

 

Trở về câu nói của John Keats, hai cụm từ: "thực sự" và "kinh nghiệm" chính là sự thẩm thấu của Keats. Kiến thức, hiểu biết, những ǵ thâu nhận từ ngũ quan và trí tuệ, chỉ là xác chưa có hồn để trở thành thực sự. Những thứ đó phải được kinh qua hoặc được trực giác giải mă th́ mới là máu huyết của con người. Kiến thức là nơi nhà thơ dùng để vay mượn. Kinh nghiệm là nơi nhà thơ dùng vào sáng tác.

 

Bài Thơ Tuyển Tháng Mười 2015 :

 

michelle

đời sống h́nh như áo lụa phơi ngoài nắng

tôi ngủ ngồi bên ngọn nước âm dương

tiếng nói c̣n trong, bóng đèn c̣n sáng

lắng nghe em về mở cửa ban đêm

 

t́nh ái có chỗ trong con mắt đồng vọng

sợi tóc đời nay ửng chút xíu tinh sương

em vậy đó mong manh như chớp mắt

gót giày khuya cao biệt mù cao

 

tôi một bữa sầu đầy chở không nổi

nguyệt ngoài xa chỗ ở dân gian

xưa có hẹn với kiếp sau chẳng nhớ

bởi vậy bây giờ không rơ được cô đơn

 

đêm nhất định có chỗ ngồi cố cựu

để dành cho em làm kiểu thanh tân

tóc xơa rộng như rừng lộng gió

ngón tay gần như tiếng hú mê man

 

cây ở trong nhà, sự hồn nhiên tuổi tác

tiếng hát trong veo sắp sửa đóng băng

sợi tóc tuyết lưỡi dao trùy thủ

múa trên đầu cắt cổ tương lai

 

tiếng kèn như sợi chỉ vô lỗ kim ân ái

trên đó mơ hồ núi có nặng mù sương

con đường xa lắm gởi theo em hạt cát

biển em về trên ấy nhẹ bao nhiêu

 

chỗ ở của Michelle gần trăng nước ngọt

phố xá với phù vân bề bộn trùng dương

dốc dựng đứng ngó lên lật ngửa

rớt tôi vào nguyệt địa đời sau

 

chỗ ngủ của Michelle ngó xuống sâu thăm thẳm

lục địa ngày xưa tăm cá bóng chim

con đường ra bán đảo em chỉ tôi không rơ

có một con đường trên đỉnh thiên thu

 

em họ Nguyễn qua cầu treo mất tích

trăng có c̣n như trăng trước không em

biển ba mặt có niệm t́nh cố quốc

sóng ngàn năm có dội trong mù

 

Tôi chọn giới thiệu bài thơ này, như trên bờ chia tay với thơ 75 nối dài. Chúng ta đă có quá nhiều thơ hay trước 75, cả hai miền Nam Bắc. Nhưng sau đó th́ sao? Tôi hầu như sẽ tránh những bài thơ dù rất hay nhưng là h́nh bóng, là cái đuôi của thơ 75. Để thơ Việt được thể hiện trong giai đoạn khác, thời vận khác, phong thái khác. Dần dần về sau, tôi sẽ dành thời gian và không gian cho những thơ Việt trên con đường khai phá. Phải chăng thơ Việt đang cần dăy rừng hoa với hương thơm mới?

 

Bài thơ michelle được thưởng thức trên những quan điểm:

 

1- Cách sử dụng ẩn dụ, biểu tượng rất phong phú biểu lộ tài hoa. Cách tạo những tứ thơ câu rất tài t́nh.

 

2- Xây dựng trên khung sườn có cấu trúc vững, diễn tiến kể truyện theo phong cách hiện đại.

 

Thông thường khi mới đọc bài thơ, người đọc thường lưu ư đến ngôn từ và h́nh ảnh để vừa hiểu ư tác giả, vừa thưởng thức tài thơ. Sau đó, khi đọc lại, sẽ từ từ t́m hiểu cấu trúc, kiểu tŕnh bày, không khí tạo ra, để t́m thấy giá trị của bài thơ. Dĩ nhiên, nên đọc nhiều lần.

 

1. Ẩn dụ, biểu tượng và tứ thơ câu

 

" Áo lụa phơi ngoài nắng." Ẩu dụ về đời phụ nữ: Phơi lâu quá, nắng khô lụa mỏng. Phơi suốt ngày, biết lúc nào mưa. Phơi qua đêm, rủi may kẻ trộm. và v́ sao, áo lụa phải phơi? Nhà thơ mở câu truyện nhẹ nhàng bằng một ẩn dụ. Rồi đối ngay câu dưới một biểu tượng cho nhân vật đàn ông: "Ngọn nước âm dương". Âm dương ám chỉ chuyện đời sống, luật đất trời. Ngọn nước ám chỉ sóng, sông, biển. Ư nói sự thăng trầm.

 

"Con mắt đồng vọng", đồng vọng là tiếng vọng từ xa, tiếng văng vẳng. Dùng với từ ngữ "con mắt", để ám chỉ tâm tư đơn phương buồn nhớ.

 

Tứ thơ câu, "sầu đầy chở không nổi", vừa đẹp vừa trí tuệ. Thay v́ nói, sầu quá độ, sầu ghê gớm...tứ thơ đă thoát ra khỏi sự quen dụng thường xuyên trong thơ.

 

"nguyệt" từ ngữ này trước hết cho biết nhân vật đàn ông buồn thảm trong đêm và cô đơn như mặt trăng một ḿnh ở trên cao, "xa chỗ ở dân gian". Nhưng nguyệt cũng có thể là tên của người nữ. Đọc bài thơ, có thể biết được, cô gái này họ Nguyễn tên Michelle, tên Việt có thể là Nguyệt.

 

Tứ thơ câu, "không rơ cô đơn", một lần nữa, thoát ra khỏi những ư tứ thông thường để ám chỉ 'một loại cô đơn mới lạ đối với ông. cảm nhận ḿnh cô đơn nhưng không biết có phải là cô đơn mà ông từng đối diện trước kia.'

 

Tứ thơ câu, "sợi tóc tuyết lưỡi dao trùy thủ / múa trên đầu cắt cổ tương lai," ám chỉ tóc bạc, tuổi già, thời gian sẽ giết dần nhan sắc và tài năng. Diễn đạt tài t́nh. Từ ngữ "cắt cổ" khiến cho người đọc cảm nhận sự tàn nhẫn của thời gian hiền lạnh, lặng lẽ.

 

2. Dàn dựng cấu trúc                                   

 

Bài thơ gồm 36 câu chia ra 9 đoạn, mỗi đoạn 4 câu. Thể thơ 7, 8, 9 chữ so le. H́nh thức b́nh thường, dạng quen thuộc.

 

Một bài thơ vững hay không là do cấu trúc. Cấu trúc lỏng lẻo, sẽ như nhà tranh vách lá, tàn lụn nhanh chóng. Những câu thơ chính là những câu thơ xây dựng sườn và mấu chốt. Những câu thơ phụ dùng trang trí, bổ nghĩa, thêm thắt chi tiết.

 

Những câu thơ chính tự nó đă là một bài thơ đủ nghĩa và vừa lư, có thể chưa đẹp như ư muốn v́ cần những câu thơ phụ.

 

michelle

1. đời sống h́nh như áo lụa phơi ngoài nắng

2. tôi ngủ ngồi bên ngọn nước âm dương

3. lắng nghe em về mở cửa ban đêm

4. t́nh ái có chỗ trong con mắt đồng vọng

5. em vậy đó mong manh như chớp mắt

6. gót giày khuya cao biệt mù cao

7. tôi một bữa sầu đầy chở không nổi

8. nguyệt ngoài xa chỗ ở dân gian

9. bởi vậy bây giờ không rơ được cô đơn

10. con đường xa lắm gửi theo em hạt cát

11. biển em về trên ấy nhẹ bao nhiêu

11. chỗ ở của Michelle gần trăng nước ngọt

12. chỗ ngủ của Michelle ngó xuống sâu thăm thẳm

13. có một con đường trên đỉnh thiên thu

14. em họ Nguyễn qua cầu treo mất tích

 

Chỉ 14 câu chính này đă đủ cho bài thơ michelle thay ví 36 câu. 22 câu c̣n lại bổ sung chi tiết, thẫm mỹ hóa bài thơ.

 

Trong 14 câu thơ chính, tác giả kể 2 phần chuyện: một của người đàn ông và một của cô gái:

 

chuyện người đàn ông:

tôi ngủ ngồi bên ngọn nước âm dương

lắng nghe em về mở cửa ban đêm

t́nh ái có chỗ trong con mắt đồng vọng

tôi một bữa sầu đầy chở không nổi

nguyệt ngoài xa chỗ ở dân gian

bởi vậy bây giờ không rơ được cô đơn

con đường xa lắm gửi theo em hạt cát

biển em về trên ấy nhẹ bao nhiêu

em họ Nguyễn qua cầu treo mất tích

 

Chuyện cô gái:

đời sống h́nh như áo lụa phơi ngoài nắng

em vậy đó mong manh như chớp mắt

gót giày khuya cao biệt mù cao

chỗ ở của Michelle gần trăng nước ngọt

chỗ ngủ của Michelle ngó xuống sâu thăm thẳm

có một con đường trên đỉnh thiên thu

 

Hai câu chuyện đan vào nhau không theo thủ pháp truyền thống của kể chuyện. Những câu rời nối lại với nhau cho thấy toàn bộ câu chuyện: Đời sống vất vả, người đàn ông có t́nh với cô gái nhưng cô chưa đáp lại. Trong một đêm khuya, cô đă bỏ đi xa. Không biết đi đâu. Ông đoán chừng cô ra  khơi vượt biển. Và mơ hồ cô đă bỏ ḿnh giữa trùng dương. Không ai biết. Chỉ gọi là mất tích.

 

Câu thơ: "chỗ ngủ của Michelle ngó xuống thăm thẳm / có một con đường trên đỉnh thiên thu," gửi người đọc, ám chỉ cái chết của Michelle ngoài biển cả

 

michelle tên của cô gái ở tựa đề không viết hoa. Những Michelle và Nguyễn bên dưới đều viết hoa. Nhân vật nữ Michelle này không chỉ là Michelle cụ thể, mà c̣n là michelle tiêu biểu, đại diện chung cho những cô gái của một thời vượt biên, vượt biển. V́ câu "biển ba mặt có niệm t́nh cố quốc" khiền cho ta có thể kết luận, Michelle Nguyễn mất tích trong một lần vượt biên và người đàn ông vấn vương với mối t́nh "ửng chút xíu tinh sương" chính là tác giả.

 

Câu chuyện bắt đầu từ một kinh nghiệm đă trải qua, dĩ nhiên đă được hư cấu khi thành thơ. Đặc biệt, phong cách kể chuyện, không cho người đọc 'thấy' rơ ràng nhân vật và chi tiết, chỉ cảm nhận diễn tiến nhạt nḥa mà cảm động. Người đọc không thấy ngữ cành, tứ cảnh của bài thơ chỉ thấy cái bóng của nó. Thơ là một tiếng vọng, mời gọi chiếc bóng cùng nhảy múa, như Carl Sandburg đă nói: Poetry is an echo, asking a shadow to dance.

 

Đọc đến dây, bạn đừng đọc với Ngu Yên nữa. Hăy đọc lại bài thơ thêm một lần. Đọc lớn tiếng cho tai ḿnh nghe.

 

Thân ái. Một ngày vui.

 

Ngu Yên

Houston 30 tháng 10 2015.

 

 

© gio-o.com 2015