Lệ Hà (1933-2012), sơn dầu trên bố

 

Ngô Văn Tao

Văn Nghệ Cận Đại Việt Nam

tản mạn

 

Luận bàn văn nghệ nên định rơ là bàn đến văn chương và nghệ thuật. Đặc biệt nói đến văn nghệ Việt Nam là cần thiết nữa, v́ chúng ta phải thừa nhận rằng tất cả thời gian cổ điển (từ xưa đến cuối thế kỷ thứ 19 CN), người việt nam chúng ta không có truyền thống nghệ thuật, như theo nhiều người nghĩ những kiến trúc văn miếu, đ́nh chùa, những tượng đá, những tranh họa dân gian, những dân ca sơ sài không tạo ra một cơ sở thật căn bản nào cho nghệ thuật việt nam hiện đại.

 

Trong thời đại cổ điển dài đó, văn thơ việt nam lại là ca dao tục ngữ truyền miệng, văn học là hán học từ chương luyện ngành cho sĩ phu tiến cử làm quan. Nước Việt nam qua địa lư và lịch sử là thuộc về văn hóa Hoa Hạ, nhưng qua bao nhiêu thế kỷ lịch sử là lịch sử của sự phản kháng ách thống trị của người Trung hoa, một phần nào phủ nhận trong tiềm thức mọi tinh hoa văn chương nghệ thuật của người hoa. Với sự phấn đấu trải dài chỉ đề tồn tại, với những triều đại thay biến không đủ lực lâu dài để tạo ra một quư tộc tiền phong, dân tộc việt nam đă thấp kém chính là qua quá nhiều thử thách không tạo được cho ḿnh một chính tả phổ thông quốc âm. Chữ viết nếu có là chữ hán nôm, chỉ quanh quẩn tạm dùng cho một số ít sĩ phu. Rồi phải chờ đến tận đầu thế kỷ thứ 19, mới lưu truyền (tất nhiên hạn hẹp trong giới sĩ phu) một số văn thơ quốc ngữ hán nôm Phan huy Ích, Đoàn thị Điểm, Hồ xuân Hương, Nguyễn Du…

 

Một vài nhận định lịch sử đó có thể là u ám bi quan! Nhưng nay với bước nhảy vọt của văn nghệ việt nam trong thế kỷ thứ 20 vừa qua, chúng ta phải hỷ hoan hồi nhận rằng tất cả thời cổ điển u ám ấy chỉ là sự ẩn ch́m tiềm năng văn nghệ vô hạn của một dân tộc « ngàn năm văn hiến ».  Cánh cửa mở cho trào lưu văn nghệ hiện đại việt nam tự nhiên chính là phong trào b́nh dân học vụ, chọn chữ viết quốc âm bằng « a b c » latin, truyền bá chống nạn mù chữ; tạo sự bừng tỉnh văn học dân gian, và các sĩ phu tức khắc tiền phong dẫn đường cho một kỷ nguyên văn học mới, sáng tác văn nghệ lên đường hội nhập tư tưởng cận đại thế giới. Những bước đầu tác phong tât yếu chính là trường lưu thi ca lăng mạn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tự Lực Văn Đoàn…của những năm 1920-30 cho đến 1945. Có thể quá sơ khai, như Phạm Vĩnh Cư nhận định, khi PVC chỉ nêu ra ba tác phẩm : « Sống ṃn » của Nam Cao, « Số đỏ » của Vũ Trọng Phụng, và « Vang bóng một thời » của Nguyễn Tuân, là đáng nhắc lại đánh dấu những năm sôi động đó. Nhưng theo tôi, PVC nhận định như vậy thật là quá chiết chung và c̣n có phần lệch lạc (1).

 

Làm sao có thể không nhắc nhở đến những thi nhân việt nam, thanh niên của một thời hăng say nhiệt huyết, tạo dựng cả một kho tàng thi ca lăng mạn? Mở cửa cho sóng trào văn thơ trữ t́nh, dư âm cho đến nay là trào lưu thanh ca (nhạc vàng : Ngô Thụy Miên, Trịnh công Sơn, Đức Huy…), một nền tảng âm nhạc ẩn dụ tâm t́nh nhẹ nhàng lai láng, say mê trong t́nh yêu, đắm đuối với phận đời nổi trôi (trong chiến tranh và hận thù) của quần chúng việt nam, như negros spirituals của người da đen Mỹ quốc.

 

Trong cao trào văn chương, tất nhiên là có văn xuôi, truyện ngắn và tiểu thuyết. Văn xuôi là những bài luận văn xă hội, nghệ thuật, nhân sinh từ Phạm Quỳnh với báo Nam Phong, qua báo Ngày Nay của Tự Lực văn đoàn đến tùy bút của Nguyễn Tuân. Truyện ngắn và tiểu thuyết là qua « Tiểu Thuyết Thứ Bảy » Nhất Linh, Khái Hưng (Tự Lực Văn Đoàn) đến Nam Cao (đỉnh cao với truyện « Chí Phèo » « Sống ṃn » ). Điều tuyệt vời là tất cả những thành tựu có giá trị lịch sử đó đă đưa người việt nam chúng ta ra khỏi mặc cảm tự ti một dân tộc không có chữ viết phổ thông cho ngôn ngữ chính ḿnh, nay trái lại với chữ viết « a b c » latin, với kho tàng sẵn có hán việt, dễ dàng thâu nhập từ ngữ Âu Mỹ (không cần phiên âm như Paris ra Pa-ri, Washingon ra Hoa Thịnh Đốn…), sự thật là chúng ta có một ngôn ngữ nói ra và viết ra đủ từ ngữ phổ thông để luận bàn nghệ thuật, triết lư và ngay cả khoa học cận đại.

 

Đến bây giờ, chúng ta phải tiếc rằng cuộc cải cách văn học tân tiến đó đă dang dở, những văn nghệ sĩ đương thời không thể đạt đến cùng sự nghiệp, v́ thời sự quốc tế và nội bộ nước nhà 1939-1975 : chiến tranh thế giới thứ nh́, phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương đưa đến nạn đói kinh khủng ở miền bắc việt nam, rồi chiến tranh kháng chiến chống đế quốc Pháp lại đưa dần Việt Nam ch́m đắm vào trong mặt trận « chiến tranh lạnh » giữa Nga liên xô, Trung Hoa cộng sản và các nước tư bản Âu Mỹ, với kết quả chính nước việt nam chia đôi trong nội chiến đầy hận thù…Văn nghệ sĩ, những người vào tuổi đương niên phải dấn thân hay dù phải lánh ḿnh âm thầm lặng lẽ, cùng đều phải trả giá qua tao loạn, chính nghĩa nơi này nơi đâu, tàn bạo chính trị áp chế. Khái Hưng, Nam Cao bị thủ tiêu (chỉ mong một ngày nào lịch sử sẽ chỉ rơ tội đồ ác hại). Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) phải ngậm ngùi tự vẫn v́ bất lực trước tang thương xă hội.

 

Nhưng một khi đă mở cửa cho trào lưu nghệ thuật th́ mạch nguồn sáng tạo sẽ phải c̣n dư măi nơi đây. Hiển thị, theo Phạm Vĩnh Cư, chính là sự sống động của hội họa Việt nam triền miên từ 1930 cho tới nay qua mọi thời đại, qua chiến tranh thế giới thứ hai, qua tao loạn lịch sử vừa qua của đất nước. Những đại danh họa sĩ Nguyễn Phan Chánh (1892-1982), Lê Phổ (1907-2001), Nguyễn Gia Trí (1908-1993) lặng lẽ suốt đời sáng tác những bức danh họa « cổ điển » đề đời. Có lẽ chính v́ những danh họa sĩ đó đă thấu triệt ư thức cận đại của hội họa, « ngôn ngữ nội tâm »; cái ǵ mà họa sĩ thấy cần tỏ bầy qua tác phẩm chính là sự thông diễn giải chính ḿnh và tha nhân, sự đời thu nhận trong tiềm thức hay bằng mỹ thức qua cánh cửa sổ của trà thất nh́n ra thế giới ngoại tại với những bất tất không lường, việc chính yếu là sự hiện thành của bản thân với nghệ thuật.

 

Ba « đại thụ » danh hoa sĩ trên, những sinh viên của những khóa đầu tiên Trường Mỹ Thuật Đông Dương (thành lập 1925 do sự tận t́nh của những họa sĩ người pháp, nhân bản cấp tiến xă hội hưng phấn ở Pháp quốc vào đầu thế kỷ thứ 20), như vậy đă dặt nguồn cho trào lưu nghệ thuật hội họa việt nam, một trào lưu cận đại với nghệ thuật hội họa thế giới. Không phụ những bước tiên phong, những nghệ sĩ của những khóa cuối cùng (1942-45) của Trường Mỹ thuật Đông Dương, đăc biệt là Bùi Xuân Phái (1920-1988), Nguyễn Sáng (1922-1988), Nguyễn Tư Nghiêm (1922-..) tiếp tục duy tŕ ư thức « kiêu hùng » tất yếu đó của hội họa. Ba danh họa sĩ vào tuổi đương niên bắt đầu sự nghiệp, cũng chính là thời (1946) nước nhà ch́m dần vào chiến loạn lâm ly dai dẳng, tả hữu không lường, áp chế đảng phái chính trị, tự do con người là chuyện không tưởng, nhưng đều kiêu hùng đơn độc sống cho nghệ thuật và v́ nghệ thuật. Riệng nói về Bùi Xuân Phái, như một hiện tượng điển h́nh cho chung ba họa sĩ, họa sĩ đă để lại cả một kho tàng hội họa « Phố Phái », những tranh sơn dầu lớn nhỏ vẽ phố nhà cổ của nội thành Hà Nội : Hàng Đào, Hàng Ngang, phố Thanh Hà, phố Thuốc Bắc…, những ngôi nhà cổ siêu vẹo, mái rêu phong,  im ĺm, với một hai h́nh người nếu có th́ như chiếc bóng, nói lên cái thời hai ba mươi năm chiến loạn xa gần, người Hà Nội sống như sống ở một chốn khuất nẻo, người th́ ở người th́ bỏ đi, thanh niên ṭng quân hay đă trốn vô nam, tất cả vắng vẻ âm thầm tuế nguyệt thiếu thốn đói nhiều hơn no; nhưng họa sĩ chính ḿnh an nhiên tự tại với cái cọ sơn dầu nghèo nàn thiếu màu sắc, vẫn như đang nghe tiếng th́ thầm của tha nhân để tha thiết thông cảm, tạo ra những bức tranh mô h́nh độc đáo ẩn dụ nói lên hết con người và thế sự với một tâm thức siêu h́nh học ( dans une vision métaphysique)(2),(3).

 

Nhưng nói đến trào lưu an nhiên sống động sâu lắng của hội họa, th́ cũng nên nghĩ đến gian lao nghịch thời của văn nghệ sĩ. Văn chương thường trực tiếp là tiếng nói của quần chúng xă hội. Trong thời loạn, xă hội bồng bềnh, tả hữu chính nghĩa không lường, kèn trống nhà binh, áp đảo thăng trầm theo chủ nghĩa chính trị nhất thời, văn nghệ sĩ có tác động ǵ th́ hầu như không ai thấy và không ai nghe. Tôi nghĩ đến Bùi Giáng (1926-1998) với cả một sự nghiệp văn thơ, tư tưởng siêu thoát ngoài ṿng thế sự. Bùi Giáng làm thơ, dịch thơ, coi thi ca như thuộc về bản thể tính của nghệ thuật; Bùi Giáng nhập minh triết thiền của Phật đạo vẫn tận tụy thông diễn giải Nietzsche, Heidegger v́ đó theo Bùi Giáng là những gịng tư tưởng tất yếu của con người hiện đại. Tôi c̣n riêng nghĩ tới Trần Dần (1926-1997), nhà thơ trừu tượng cùng nhóm Dạ Đài-1945 (với Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Đoàn Phú Tứ…) : « Chúng tôi một đoàn vong gia thất thố, đă đầu thai vào lúc sao mờ… », tác giả bài thơ leo thang « Nhất định thắng (1956) ». Trần Dần, bộ đội bác Hồ nhưng bỏ đảng, quyết liệt tranh đấu cho nhân bản tính của văn thơ nghệ thuật và trả giá bằng lao tù cùng những năm khổ sai lao động cải tạo. Tàn phế được thả về, Trần Dần tận ḷng im ĺm sống thảm kịch của ḿnh, như sống một vở kịch siêu h́nh học « phản nghệ thuật » viết ra với tập thơ mini « sổ bụi », một bước nhảy vọt vào Hiện Đại sự (la modernité) của thế giới hiện nay (4). Không phải riêng ǵ Bùi Giáng và Trần Dần, nhưng đấy là hai văn nghệ sĩ điển h́nh rằng có tiếng nói cao siêu mà như rơi vào cơi không, giới sĩ phu trí thức việt nam đến bây giờ vẫn chưa tận cùng t́m hiểu diễn giải cho chính ḿnh và cho quần chúng.

 

Nước Việt nam đă có hơn ba mươi năm ḥa b́nh, không chiến tranh trong biên giới và ngoài biên giới. Xă hội giờ đă gia nhập thị trường tự do tư bản thế giới, đặc biệt như mọi nơi trên hoàn cầu cũng ch́m đắm vào Hiện Đại sự. Tuy nhiên vẫn c̣n là ở buổi « giao thời » không biết bao giờ mới tới thời « Phục Hưng »! Chính thể nhà nước là chính thể độc tôn đảng trị, xă hội chủ nghĩa Marx Lenine duy vật biện chứng, khi người dân âm thầm phản kháng càng ngày càng duy tâm sùng bái, khắp nơi xây chùa nhà Phật. Hăy c̣n ban tuyên huấn đảng trị muốn rập khuôn tư tưởng từng người, kiểm duyệt báo chí, khi Hiện Đại sự trước hết là từ bỏ quá khứ với mọi đường rày lư thuyết chủ nghĩa, khoa học kỹ thuật thống trị với sức mạnh « robot » nhất quán vô tâm, mạng lưới truyền h́nh, tin thời sự, tin nhắn tới tấp hoàn cầu không biên giới. Đó mới chỉ là hai mâu thuẫn hiển nhiên mà lịch sử người dân việt nam phải biến chuyển sao đây tiến tới vượt qua. Và theo bánh xe lăn đang động hành của lịch sử, trào lưu văn chương nghệ thuật việt nam hôm nay và ngày mai cũng phải là một ẩn số. Theo tôi, chúng ta hăy nên có một kỳ vọng rằng giới sĩ phu trí thức của xă hội nước nhà, cái nôi của những nghệ sĩ tác động cầm đuốc dẫn đường, sẽ từng người tận ḷng suy tư, phê b́nh, thông diễn giải t́m đến những tác phẩm văn chương nghệ thuật ở từng ngơ hẻm. Hăy có một hội trường phân tích phê b́nh sâu xa và rộng lớn để t́m đến những thiên tài, đưa quần chúng thoát ly những giấy lộn, những chiêu hàng chợ trời mua bán hư danh, những hỏa đầu ra oai vụ lợi. Nói một cách khác, chúng ta hăy cùng nhau có một kỳ vọng rằng văn chương nghệ thuật việt nam sống động, âm thầm đưa toàn dân cùng đi lên theo bước tiến của lịch sử.

 

2/07/2017

Ngô Văn Tao

 

Tham khảo

(1)   Phạm Vĩnh Cư : Văn chương và hội họa ở Việt Nam

http://vanvn.net/tu-doi-vao-van/van-chuong-va-hoi-hoa-o-viet-nam/1607

(2)   Bùi Xuân Phái (1921-1988) ngovantao.blogspot.com ngày 21/10/2014

(3)   Nguyễn Sáng danh họa sĩ    ngovantao.blogspot.com ngày 3/12/2013

(4)   Phản nghệ thuật   gio.o.com/ngovantao/ngovantaophannghethuat 2017 htm