Quế Anh    acrylic on canvas 60x80cm  2012

 

Ngô Văn Tao

THẾ GIỚI NỘI TÂM 
và NGHỆ  THUẬT

tản mạn

 

Lư tính con người là h́nh tam giác với ba góc cột trụ liên đới: Triết lư, Khoa học và Nghệ thuật. Triết lư là cột trụ khởi đầu lư tính nhân loại; những thánh nhân, những hiền giả là những triết gia dẫn đến sự thức tỉnh của lư tính trước huyền vi và luật tiềm ẩn của  vũ trụ,  thần điệu của người với người, của người với thiên nhiên…Chính là sự khởi đầu của xă hội, của cộng dồng ḥa hợp cùng nhau tạo dựng những điều kiện cho sự tồn tại giữa thiên nhiên. Con người tự thấy bé nhỏ trước vũ trụ, nhưng cảm nhận sự bao dung trong ḷng người mẹ thiên nhiên, mở đầu cho tín ngưỡng, an b́nh khai sáng của tôn giáo. Triết lư cũng là khởi đầu của những câu hỏi “siêu h́nh học”: Thượng đế là ǵ? Ta đến từ đâu, ta đi về đâu?...Những câu hỏi dẫn đến Khoa học.

Khoa học là cột trụ của văn minh thế giới hiện tại. Với những thành quả không cùng của khoa học kỹ thuật, văn minh khoa học thay đổi ngay cả đến bản chât cuả con người. Như đă ăn tận cùng “quả táo cấm”, con người không những đ̣i t́m nhận ra luật vô thường của trời đất, mà c̣n muốn làm chủ cả thiên nhiên. Nhưng vượt khỏi mọi khắc khoải nghi vấn siêu h́nh học, theo nhiều triết gia, con người có lẽ đang tự dẫn ḿnh đến những thảm họa chung cục của thế giới với những trái bom nguyên tử ẩn chứa, với những phiên bản vô sinh “Frankenstein” của sự sống, với những sự tàn phá bởi kỹ thuật khoa học môi trường sinh thái thiên nhiên…

Trong bài tản mạn này, tôi muốn nói đến nghệ thuật, cột trụ thứ ba của lư tính. Đến sự thể hiện của nghệ thuật, đặc biệt bản năng dẫn độ con người của nghệ thuật trong thế giới vật chất văn minh khoa học kỹ thuật hiện đại.

 

Nghệ thuật là ǵ? Là cảm nhận và rung động trước cái đẹp, cái mong manh của bông hồng. Là cảm thức cái mênh mông, huyền vi khi mặt trăng ở chân trời chiếu tỏa một đường trăng sóng lăn tăn trên mặt biển trong đêm cùng vô tận…Nghệ thuật luôn luôn thể hiện trong sự hiện thành của nhân loại. Những nét khắc vẽ thô sơ trên vách đá thời tiền cổ. Những kinh điện. Những tháp đền. Những thánh đường…Bất cứ nơi nào trên mặt đất, có những di sản đó, dù đă tan hoang đổ vỡ,  mà phải như thế ta mới biết là nơi đó đă có sự sống của con người. Giờ đây nữa, dù văn hóa nhân loại càng ngày càng trở nên khoa học kỹ thuật máy móc, càng ngày càng rập khuôn b́nh dân túy, càng ngày càng tư sản nghi thức lợi nhuận, nghệ thuật vẫn thể hiện khắp nơi khẳng định mỹ cảm, say mê, khát khao của tất cả con người, với những cao ốc chọc trời nhưng thanh tao nhẹ nhàng vươn lên tới  trời, với những nhạc điệu “sô” lôi cuốn đại quần chúng, với những đấu trường thể thao tuyên dương như vũ điệu sự ḥa nhịp của thể xác …

Nhưng nghệ thuật mà tôi muốn bàn tới, là nghệ thuật theo như Thomas Mann, nghệ thuật trong sự người đối diện với chính ḿnh. Cũng là  nghệ thuật theo F.Nietzsche, một đường dây cheo leo lơ lửng trên vực sâu của bản thân mà người nghệ sĩ đi lần từng bước để đến chân trời bản ngă siêu nhân. Về phần tôi, c̣n là hiện tượng giản dị b́nh thường, nghệ thuật mà riêng tư một người tự sống trong tư thất với một bức tranh Phố Phái bằng một bàn tay trơ trên tường trắng, lẳng lặng nh́n qua song cửa một bầu trời.

 

Cột trụ nghệ thuật là lư tính trong sự sống bản thân của từng người trong “thế giới hiện sinh bản ngă”, thế giới ngoại tại (hiện đang trong sự khống chế của khoa học kỹ thuật) cộng với “thế giới của tư duy” theo như Platon mà tôi sẽ gọi là thế giới nội tâm. Mà con người sống, cốt yếu chính là ở nội tâm, cảm nhận t́nh yêu, dục vọng, khát khao, cảm thức cái vô thường, cái phù du mất mát của chính đời ḿnh, luôn luôn ám ảnh bởi sự chết nhưng lại sáng tạo và siêu thoát. Muốn nhận rơ những ư thức đó, ta có thể diễn giải qua những tác phẩm nghệ thuật, như qua những bài thơ của Bùi Giáng, những bức tranh “Phố Phái”…Tôi chọn bàn luận dưới đây dựa trên hai tác phẩm văn  học, một của Marcel Proust: “T́m lại thời gian đă mất” (A la recherche du temps perdu) và một của Thomas Mann: “Đến Venetia và từ giă cơi trần” (Der Tod in Venedig); lư lẽ là phần triết lư nhân sinh có nhiều đóng góp, ư thức xa gần như trên về nghệ thuật sẵn được tŕnh giải bằng cốt truyện và lời văn.

 

Tác phẩm của Marcel Proust là tiểu thuyết văn học, một tiểu thuyết chứng minh và xác nhận (démonstratif et affirmatif). Xác minh mọi sự kiện xảy ra trong thực tế của mỗi người đều trở vào nội tâm, nhưng trong “ hồi ức” không c̣n hạn hẹp trong không gian và thời khắc; nếu ta sống lại trong nội tâm trí nhớ là ta sống bất cứ lúc nào, có thể lập đi lập lại ở ngoài không gian và thời gian, mọi sự không tŕnh diễn trong khuôn khổ thời gian và không gian của thực tế. Hơn nữa ta sống lại mỗi lần một cách sáng tạo đề ra một chiều sâu một âm hưởng, không bắt buộc phải từ những cảm nhận sẵn có trong tiềm thức mà c̣n là trong sự hiện thành biến đổi của chính ta trong thế giới nội tâm.

Trong thế giới nội tâm, con người là chủ thể siêu thoát và sáng tạo. Sống với thế giới nội tâm, con người không là một vật vô sinh, một con rối bông, một robot…Con người là sinh vật, nhưng là sinh vật có tư duy, ư thức cái phận nhân sinh của chính ḿnh. Dĩ nhiên ư thức phận nhân sinh, cũng là cảm nhận cái hố thẳm trong cái phận làm người, hố thẳm của t́nh yêu và mất mát, của dục vọng và tội lỗi, của suy đồi và tàn tạ…

Tiểu thuyết của Marcel Proust là tự truyện hiện thực phân tâm học triết lư. Chúng ta mỗi người thật sự không ngừng sống một phần lớn đời ḿnh trong nội tâm kư ức, trong “cái tấm gương phản chiếu thực tế bên ngoài” (le miroir des réalités); mọi sự kiện ngoài đời chợt tới trong giây khắc hiện tại, chúng ta chỉ thật cảm thức tới nó là khi ta hồi tưởng hay nghĩ lại trong kư ức. Tiểu thuyết của Marcel Proust tường thuật cuộc phiêu lưu sống thật của một người,  chính tác giả hành tŕnh trong hồi ức nội tâm.

Sống trong hồi ức nội tâm, Marcel Proust nhấn mạnh là phải t́m tới bản năng nghệ thuật của lư tính. Ta vừa sống và vừa là đạo diễn những màn kịch mộng mơ tự truyện (autobiograplie); những sự kiện, những nhân vật của thời sự quá khứ trở về trong kư ức phi thời gian, phi không gian, mà ta có thể bắt buộc phải vô tư (involontairement) giăi tŕnh thêu dệt trong giả tưởng (fiction) nhưng hiển hiện sâu đậm với tư duy nghệ thuật của chính ta.

Trong tác phẩm -v́ đó là tự truyện- Marcel Proust tự bộc lộ là một thanh niên không có sức khỏe, ốm đau liên miên, nhất là rất khó ngủ, có những đêm trắng rất dài…Chính v́ thế, anh luôn luôn thao thức suy nghĩ gần xa, sống dài trong hồi ức nội tâm. Hồi tưởng những giây phút bên người mẹ, những lúc quan xát người quen với cuộc sống có thể có của mỗi người…. thúc đẩy bản năng nghệ thuật của lư tính; Marcel Proust hiện thành, dần dần trở nên “một nhà văn”. Cuộc phiêu du trong nội tâm, trong hồi tưởng, trở thành một trường thiên kư sự, với hàng trăm trang văn.

“Như bây giờ, tôi ốm đau, không thể ra ngoài một ḿnh, không c̣n có thể làm t́nh nữa…Nhưng mọi dục vọng lại thêm tươi đẹp, v́ ta không c̣n trầm đắm nữa như biết ḿnh không c̣n có thể cố t́m giải đáp. ..Và đối với ta đời lại đẹp làm sao, trong những phút ta đă biết quên đi những khó khăn trói buộc tức thời đă làm ta không biết tận hưởng…” Những trang văn bay bổng đượm tính thơ, tự phân tâm học lư giải, nhân sinh triết lư.

Tác phẩm của Marcel Proust không có những câu truyện ly kỳ, những sự kiện dật gân đan kết, mà ta đọc như ngắm nh́n bức tranh ấn tượng của August Renoir: “Ngày hội trong khu rừng Boulogne”, có những thiếu phụ cao sang là lượt, có những nam nhân đóng bộ mũ cao kiểu cách…để mộng mơ, để thầm nghĩ đến những gặp gỡ và chia tay, những t́nh duyên và dục vọng éo le thăng trầm. Tất cả trong một thế giới đài các, không hệ lụy với đời thường. Tác phẩm của Marcel Proust là như thế, đến ngàn trang sách, nhưng hăy đọc  đoạn này đoạn nọ như ta suy tư ngắm nh́n từng mảng một bích họa rất to rất lớn. Những hồi tưởng trở về thời gian đă mất, hay cũng là những chuyện hư hư thực thực.

“ …Một người đàn bà đă t́m tôi trong giấc ngủ, tôi nằm hai bắp vế trái ngược.  T́nh dục cường độ, như nàng sẵn sàng  hiến dâng. Chiếc thân tôi nóng hổi trong người nàng, nhưng gần thỏa măn, tôi tỉnh giấc. Thế gian trở nên xa xôi vắng lạnh. Ôi! Người đàn bà tôi vừa gặp và vừa xa, tôi c̣n lưu giữ cái hôn nồng trên má và thân tôi c̣n cong dưới sức nặng của người nàng…” Chải chuốt Eros, mơ và thật!

Không phải là tuyệt tác tiểu thuyết như “Ḥa B́nh và Chiến Tranh” của L.Tolstoi, như “Doctor Jivago” của Pasternak, như “Trăm Năm Cô Đơn” của G.Marquez….. nhưng tầm quan trọng của toàn tập “Đi t́m Thời Gian Đă Mất” của Macel Proust, luôn luôn được coi là quyền sách đầu giường của văn học Pháp, xác minh kư sự của tác giả sống tận cùng bản năng nghệ thuật của lư tính, sống phiêu lưu từng giờ từng phút trong thế giới hồi ức nội tâm với những câu văn chải chuốt như dưới bút vẽ của họa sĩ ch́m đắm trong sáng tạo tư duy nghệ thuật.

 

Bàn đến “Đi t́m thời gian đă mất”, một tiểu thuyết mông lung sinh động, nhiều phê b́nh gia coi đó là  một kư sự thuộc phân tâm học. Những chuyện những chi tiết trong hồi ức của Marcel Proust được trải dài, bộc lộ như theo luận đề phân tâm học Freudian, nêu rơ những hệ quả ức chế của thể xác hay của t́nh cảm, cùng những ấn tượng trong tiềm thức thời xa xưa khi mới mở mắt vào đời…Tôi không bàn luận trên quan điểm này  Tuy nhiên Marcel Proust với tác phẩm của ḿnh, hiện rơ là một văn nghệ sĩ trong cái nghĩa bản thể, để hết tâm t́nh lư tính nghệ thuật đi t́m cái đẹp ( đi t́m cố quận như Bùi Giáng có thể nói, đi t́m thượng đế như Thomas Mann có thể nghĩ) . Người nghệ sĩ bước lần trên cái dây cheo leo của Nietzsche! Mở đọc “Đi t́m thời gian đă mất”, văn chương nhẹ nhàng chải chuốt, người ta có thể nghĩ lệch lạc như Henri Ghéon (La Nouvelle Revue française, 1er Janvier 1914) rằng đây là một tác phẩm văn học tác giả đă viết trong những giờ thư giăn (Voilà une oeuvre de loisir, dans la plus pleine acception du terme!!), nhưng không biết rằng sau sự nhẹ nhàng đó là cả một sự khắc khoải, sống say mê đồi trụy thăng trầm của nghệ sĩ trong sóng gió của phận đời, bản thể và hiện sinh thể xác, hành tŕnh vô vọng đi t́m về lại cố quận.

Thomas Mann trong “Đến Venetia và Từ Giă Trần” nhắc lại lời của Socrate (trong tác phẩm “Phèdre” của Platon): “Này Phedre! Chúng ta là thi sĩ làm sao có thể là hiền nhân chính trực? Chúng ta đều loanh quanh mất hướng, đồi trụy phiêu lưu cảm thức.” Cái khắc khoải nghệ sĩ ở Marcel Proust, chính là như Socrate đă nói, mà Thomas Mann nhắc lại, người nghệ sĩ say mê đi t́m Cái Đẹp nhưng cái đẹp nằm ở chân trời xa kia, chân trời của nội tâm bản ngă, nhưng say mê sống với mỹ cảm nhất định phải cảm nhận sự quyến rũ cuả nhan sắc, cái say sưa trụy lạc thể xác với dục tinh khí (libido), cái giải thoát bay bổng của “ly rượu cay” mà ta uống để “ôm đời ngủ muộn” (như Trịnh Công Sơn đă hát) trước sự phù du, mất mát của tuổi xuân. Nguyễn Tuân với tiểu thuyết “Chiếc lư đồng mắt cua”, đă thổ lộ ra sự chênh vênh ấy của nghệ sĩ; không ngừng xê dịch đi t́m cái đẹp ở mọi nơi, như trầm tư trước chiếc lư đồng cổ xưa nhỏ bé, tất cả đến nỗi phải xoa dịu sự khát khao quá độ, nghệ sĩ có thể t́m sự thanh thản an b́nh bên một “Lola” với cặp vú nở (khu Khâm Thiên) hay nàng tiên đôi mắt nâu…

Mọi cuộc phiêu lưu rồi cũng phải kết thúc. Marcel Proust nhẹ nhàng tỉnh giấc ngậm ngùi nh́n lại thực tế, rồi đi vào trong tĩnh lặng. Nh́n căn pḥng của ḿnh hiện ở không phải là căn pḥng anh đă sống dài dài trong hồi ức, và ngoài kia thành phố Paris nữa, nay rộn ràng những xe hơi, tới tấp người là người bận chuyện sinh nhai, không c̣n những thiếu phụ cao sang quư phái, những chàng trai kiểu cách, nghêng ngang trên xe ngựa của thời đă mất.

Thomas Mann tŕnh bày màn cuối của đời người, của nghệ sĩ như một kịch bản bi tráng hơn. Trong tiểu thuyết trên của Thomas Mann, chỉ có một nhân vật, nhà văn có tài và có danh Aschenbach, cả một đời suy tư t́m hiểu để viết ra những tác phẩm lôi cuốn và có chiều sâu triết lư và t́nh người. Một sự sống tràn đầy say mê, một khát khao hoàn mỹ, phát động từ dục tinh khí (libido) chứa chấp trong thể xác và lư tính, để người nghệ sĩ như Aschenbach không ngừng rung động trước một bức tượng của Michel-Ange, trước vẻ đẹp quyền rũ của một thiếu phụ hay trước ánh hào hùng của một nhân vật…Nhưng rồi đến ngày, Aschenbach cảm thấy kiệt quệ dục tinh khí , thế giới xung quanh trở nên mờ nhạt không c̣n sắc bén. Nhà văn chọn đi Venetia, ở trọ một khách sạn “năm sao” ở cồn Lido nằm trong eo biển của thành phố. Rồi ngày ngày trôi qua, chỉ một ḿnh có thể có những lúc suy tư về nghệ thuật, nhưng ảm đạm không chờ đợi một ai, một chuyện ǵ. Cái đèn dầu le lói sắp tắt bỗng bùng lên một khắc, dục tinh khí trong Aschenbach bỗng như phát động. Phát động le lói để Aschenbach cảm nhận thấy sự có mặt của Tadzio, ở cùng trong khách sạn, sáng sáng cũng ra băi biển. Tadzio là hiện thân “éphèbe” trong huyền thoại hay cổ truyện Hy lạp, hiện thân nam sinh tuyệt vời vừa đúng tuổi vào th́…Aschenbach bỗng chợt như hấp hối mà lóe tỉnh, mỗi lần nh́n thấy Tadzio hay mỗi lần vọng ngắm Tadzio là cả người ông âm thầm kín đáo giao động dù không có chút ǵ là Eros. Đó là “đồi trụy trong tư sản nghi thức” (la décadence bourgeoise - T.Mann), hay là bi thảm kịch nhân sinh của nghệ sĩ đối diện với chính ḿnh, ôm đời trước khi chết. Mà thật, khi người ta thu xếp bỏ chạy Venetia v́ có bệnh dịch đột phá, một cách gián tiếp Aschenbach chọn ở lại, để rồi một buồi người ta t́m thấy ông nằm chết trên băi biển. Nhưng không một ai có thể biết rằng cái h́nh ảnh sau cùng mà ông có buổi sáng đó, chính là h́nh ảnh Tadzio, xa xôi giữa sóng biển lăn tăn trên băi cát, hiện thân như thiên thần thượng đế phái đến mời người nghệ sĩ ráng đi tiếp nữa về phía chân trời mỹ miều ảo ảnh.

 

Chú giải: Nghệ thuật của lư tính là đốm lửa của sự sống nội tâm trong ḷng của mọi người. Chớm bùng lên cho chúng ta say mê, rạo rực đối diện với chính ḿnh, t́nh yêu và dục vọng, phù du và mất mát, và ngay cả sự chết. Nhưng ta có chết đi, đốm lửa đó, đặc biệt với nghệ sĩ không mất đi mà tiếp tục truyền lại cho người đến sau…Thomas Mann, đại văn hào (1875-1955), sớm nổi danh với tác phẩm Buddenbrooks (1901); nhưng vào khoảng 1910, nhà văn tự thấy hụt hẫng, như  không c̣n chút nhuệ khí ǵ để tiếp tục sáng tác văn chương nghệ thuật. Nhân vật Aschenbach  là hiện thân của chính ông. Đưa nhân vật cũng là đưa chính ḿnh đến Venetia để từ giă cơi trần (1912). Và câu chuyện trở nên một sự kiện điển h́nh, chính v́ Aschenbach chết, nên Thomas Mann đă tái sinh (như rất nhiều văn học gia thế giới nhận xét). Ngay năm 1924, Thomas Mann đă hoàn tất  tiểu thuyết đồ sộ: “Der Zauberberg” (La montagne magique= Ngọn núi huyền vi bí thuật).

 

Tháng 10/2012

Ngô Văn Tao

http://www.gio-o.com/NgoVanTao.html

 

© gio-o.com 2012