QuếAnh acrylic
in canvas 40x50cm
Ngô Văn Tao
Ngụ ngôn đứa bé
và nhà vua cởi truồng
tản
mạn
Andy Warhol vẽ chai nước Coca Cola, sơn dầu trên bố trắng ~100cmx150cm, vừa bán ra trên thị trường 35 triệu dollars. Với xă hội hiện tại của thị trường lợi nhuận, ta phải nghĩ tới đấy là giá công sức của 10.000 người thợ Việt Nam tay nghề làm việc trong một năm, mỗi tuần 40-45 tiếng…Ta phải nghĩ tới giá trên thị trường bức tranh của Bùi Xuân Phái, đại danh họa sĩ của dân tộc việt Nam, không bán được tới 50.000 dollars. Nói vậy để biết rằng chúng ta đang hội nhập thế giới thị trường mà vấn đề đặt ra không c̣n là chuyện nghệ thuật, chuyện giá trị nhân sinh xă hội, mà là chuyện thời thượng. Thời của con người sống trong thế giới robotic (the robotic lebenwelt). Đại phú gia mua bức tranh Andy Warhol, treo trên bức tường trơn của đại sảnh, chứng tỏ cho ḿnh và cho kẻ khác là chính ḿnh vô tư an nhiên tự tại trong thế giới đó: “Làm ra tiền là nghệ thuật…Kinh doanh nhiều lợi nhuận là nghệ thuật cao siêu nhất” (Making money is art..good business is the best art- Andy Warhol dixit), “Tôi mê Los Angelos, tôi mê Hollywood. Thật là quá đẹp. Mọi sự là plastic, chính tôi chỉ muốn là plastic” (I love Los Angelos.I love Hollywood. They are so beautiful. Everything’s plastic. I want to be plastic- Andy Warhol dixit). Nghệ thuật của Andy Warhol, “ông vua của Pop Art”, là nghệ thuật hay không là nghệ thuật? Đó là câu hỏi rồi đây xă hội sẽ trả lời. Nhưng điều chắc chắn, và đây là giá trị không lường của nó, chính là Andy Warhol đă nắm được “bản chất vô song trên của thời tính (the zeitgeist)” văn học Mỹ quốc vào những năm 1970 mà có lẽ c̣n là của thế giới vào thế kỷ thứ 21 (văn nghệ hậu hiện đại ở Việt Nam hiện tại; giá tiền hàng chục triệu dollars là giá trị thời nay của một bức tranh Andy Warhol).
Thêm một điều tôi muốn nói về tranh Andy Warhol, chính là sự hiển hiện sắc bén của những vật thể: hộp súp Campbell, chai Coca-Cola, chân dung Marilyn Monroe…, đơn thuần nổi nét như nổi 3G lên trước đôi mắt của người say cần sa, LSD hay thuốc phiện…Đại phú gia nh́n lên bức tranh đó ở giữa đại sảnh không người cũng có thể là gián tiếp t́m lại cái giác thức đó, mà nay xă hội và sự duy tŕ bản thân không cho phép.(xem thêm:Ludwig Wittgenstein (1889-1951) http://ngovantao.blogspot.com/ )/ 09-12-2010)
Có những hiện tượng trong pop art, trong văn nghệ hậu hiện đại đưa chúng ta suy tư về nghệ thuật, về thời tính của xă hội, sự vô tư phủ nhận mọi lư thuyết trong xă hội bội thu bội dụng, thực tiễn tiện nghi, thị trường lợi nhuận và robotic, tôi nghĩ ngay trong trào lưu triết học của thế kỷ thứ 20 khách quan ra cũng có những hiện tượng thời thượng, cái mà tôi nghĩ nằm trong ngụ ngôn của chuyện: “đứa bé dám nói giữa quần thần rằng nhà vua không có quần không có áo!” Có lẽ thật bạo ngôn để đưa ra một hiện tượng điển h́nh, mà tôi nghĩ tới L.Wittgenstein (1889-1951), triết gia người ta nói tới nhiều và c̣n là đề tài tranh căi.
Dù sao đặt rơ vấn đề, tôi thấy cần nhắc lại rằng L.Wittgenstein là người do thái, sinh ra ở gia đ́nh doanh nhân của thành Vienna, kinh đô nước Áo, một trong những gia đ́nh giầu nhất của Âu Châu vào đầu thế kỷ thứ 20. Theo sự nhận xét của nhiều người, (đặc biệt, theo nhà tâm lư học Christopher Gillbert, người Thụy Điển), L.Wittgenstein có những triệu chứng của bệnh tự kỷ-autistic, và (theo nhà tâm lư học Sula Wolff, người Đức) những triệu chứng bệnh phân liệt tâm thần. Ngoài ra, L.Wittgenstein chính là một tâm hồn ức chế, v́ bản tính và trong cuộc đời là đồng t́nh luyến ái sống trong xă hội khi đó c̣n cấm kỵ và kỳ thị. Điều chính yếu c̣n có lẽ v́ L.Wittgenstein là người do thái tự mạt thị, có những lúc tự nhận ḿnh là thiên tài 100% Hebraic, nhưng lại quá nhiều khi khắc khoải tự hỏi nghĩa lư ǵ với Do thái đạo, tự phỉ báng, tự mạt thị với tất cả những triệu chứng, “những triệu chứng của một sự trỗi hiện nào đó của huyễn tượng và của thiên tài” (Hans Sulga).
Gia đ́nh đại phú Wittgenstein thường tài trợ các văn nghệ sĩ và các văn học gia của thành Vienna, một thủ đô văn học Âu Châu vào cuối thế kỷ thứ 19 và buổi đầu thế kỷ thứ 20 (the famous Vienna circle: Gutav Klimt, Egen Schiele, Frege, Godel…). Tuyệt nhiên như vậy, L.Wittgenstein gần gũi những danh nhân của thời đại, và không ngạc nhiên ǵ khi vừa ngoài 20 tuổi (không một thành tích văn bản học thức nào) đă được tuyển vào Đại học danh tiếng Cambridge –Anh quốc, hơn nữa những giáo sư bực thầy (Don=Maître) B.Russell và G.Moore sẵn sàng mời tham dự cùng bàn luận triết lư (1911-1913)..
Đặc biệt với sự giới thiệu của Frege, và chào đón của Russell: “Một chàng trai vô danh người Đức…bướng bỉnh và ngang ngạnh, nhưng tôi nghĩ không đần độn đâu!....Có lẽ rồi có thể viết ra một công tŕnh…Tôi thật có thiện cảm với cậu này, chắc rồi cậu sẽ diễn giải một số vấn đề mà nay với tuổi già tôi không nghĩ tới!”, L.Wittgenstein hiển nhiên đến Cambridge như một ngôi sao “bí ẩn” (like a God, theo sự nhận xét của vài người). Riêng về phần tôi nghĩ lại, L.Wittgenstein h́nh thành một nhân vật của “ngụ ngôn”. Ngụ ngôn nhất là chỉ nh́n lướt qua mấy câu đầu của bản thảo logik (1914), của tác phẩm sau này Tractatus Logico-Philosophicus của L.Wittgenstein, B.Russell đă vội nói “sẽ là tác phẩm triết học của thế kỷ”.
Theo ư tôi, sau khi hoàn thành công tŕnh đồ sộ Principia Mathematica với Whitehead, B.Russell cũng như trường phái logic của Frege, cảm nhận ra sự bế tắc và phá sản của lư thuyết logic (logicism), một lư thuyết đ̣i t́m ra một hệ thống logic, mà trong đó người ta có thể thấu triệt toàn diện quy luật hiện thành của thế giới nhân sinh, tư tưởng, tự nhiên và xă hội. Nhất là theo ư đồ của Russell, logicism có cơ sở duy nhất là trên logic của số học (arithmetics). Dĩ nhiên đấy chỉ là không tưởng. L.Wittgenstein nhận định ngay như “cậu bé ngang ngạnh của ngụ ngôn” : “Triết gia Russell, trong số học, không biết ǵ hơn một đứa bé bốn năm tuổi”. Sự tuyệt vời là câu nói đó tưởng phải là một gáo nước giội lên đầu, Russell lại chấp nhận như một lời thức tỉnh! Hiển nhiên như thế, hai giáo sư của Cambridge Russell và Moore đặt lên L.Wittgenstein cả một hào quang, hào quang của một guru thời thượng….
Nhưng sự thật th́ ngược với những guru thông thường (như Andy Warhol chẳng hạn), L.Wittgenstein không tạo dựng một hội đoàn với những môn đồ. Trưởng thành trong một gia đ́nh giàu có, đầu óc sắc bén khác thường, L.Wittgenstein lại sống bên lề xă hội, dị hại và cô đơn. Năm 1913, thân sinh ông, Karl Wittgenstein mất để lại cho con cái cả một di sản tiền tài, L.Wittgenstein nhường lại hết cho các chị em. Trước hết L.Wittgenstein tự động xây theo ư của ḿnh cho chị gái một biệt thự ở giữa thành Vienna, một biệt thự lâu đài gồ ghề, khác thường chi li (L.Wittgenstein đă bắt phá bỏ hầu như xây lại từ đầu v́ đại sảnh lớn nên phải có trần cao hơn mấy phân!!), một ngôi nhà để có nhưng không phải để ở (theo chính lời của bà chị). Chiến tranh Thế Giới thứ nhất bùng nổ, hiển nhiên không phải v́ tổ quốc, v́ bổn phận công dân, L.Wittgenstein vẫn t́nh nguyện nhập ngũ ṭng quân làm hộ sinh binh cho quân đội nước Áo, nhập ngũ ṭng quân chỉ để chứng tỏ một sự ngang tàng thử thách trước thời cuộc. Bị đồng minh Pháp-Anh bắt làm tù binh (1917), chính trong trại tù binh này, L.Wittgenstein hoàn thành Tractatus logico-philosophica, từ bản thảo logik (1914), đề án logic-triết lư này được Moore và Russell hỗ trợ để Đại học Cambridge coi như đă đệ tŕnh luận án tiến sĩ triết lư của Đại học. Nhưng chỉ một hai năm(?)làm giảng viên triết học ở Cambridge, L.Wittgenstein đă bỏ đi, tự nguyện làm thầy giáo tiểu học ở một vùng sâu vùng xa (Áo quốc), nơi mà chỉ có nửa người nửa ngợm (Wittgenstein dixit), trẻ con đần độn phải gơ đầu phải béo tai, nơi mà Wittgenstein một ngày phải trốn bỏ đi, nếu không sẽ bị các gia đ́nh học sinh mang ra tố khổ! Quá nhiều khi, L.Wittgenstein tự thú: “..Tôi thật quá sa lầy và thối nát. Tôi chỉ muốn tự vận. Ư đồ đó luôn luôn ám ảnh tôi. Tôi tin không có một ai ch́m trong hố thẳm như tôi…” Thật, L.Wittgenstein đă từng hàng năm bỏ nhà để sa đà sống khu đèn đỏ, khu đĩ trai và đĩ gái của Vienna. Sau cùng hết, trước khi chết (1951), L.Wittgenstein c̣n cố nhắn nhủ: “Xin hăy biết tôi đă sống một cuộc đời vô cùng hạnh phúc”. Một câu trối trăng nghĩ cho cùng phản ảnh sự khắc khoải của tâm hồn, sự trăn trở của lư trí!
Những tiểu tiết trên, tôi đưa ra không phải để bài bác hay phê phán một con người, nhưng chủ ư là tŕnh bày quan điểm diễn giải và t́m hiểu sao tư tưởng của L.Wittgenstein, mà những châm ngôn, những mệnh đề sắc bén đặt rơ cho ta thấy một biến chuyển-một lối ngoặc trong văn học Âu Châu khi vào thế kỷ thứ 20. V́ có thể nói, một cách thâm sâu siêu h́nh nào đó, từng giờ từng phút trong cuộc đời ḿnh, L.Wittgenstein đă sống tận cùng sự khắc khoải chất vấn của thời đại. Sự phá sản của mọi lư thuyết h́nh nhi thượng, nhưng logicism cũng không đưa đến đâu. Đưa đến khoa học và kỹ thuật, sức mạnh thống trị cơ giới robotic, con người lạc loài ảo giác, mất dần huyền vi cao cả, chỉ c̣n một niềm tin vật chất, tiện nghi máy móc, một sự vô tư trống rỗng, tiềm ẩn mănh liệt hư vô chủ nghĩa. Một biến chuyển rẽ ngang từ bỏ triết lư tư biện của Kant, Hegel, Schopenhauer…Một lối ngoặc mà Nietzsche đă cảm nhận bằng tất cả tâm tư và lư trí. Trong văn nghệ, A.Warhol, S. Beckett là những hiện tượng điển h́nh thời thượng của sự hư vô đắm ch́m đó với thời đại chuyển tới này.
L.Wittgenstein tự riêng ḿnh cảm nhận sự bế tắc đó, sự phá sản của triết học cổ điển trước sự tiến triển khoa học của lư tính, trước sức mạnh phi nhân của cái biết, của kỹ thuật.., với một lư trí sâu xa gián tiếp như tự cứu ḿnh, L.Wittgenstein cố t́m vượt qua những khái niệm triết lư nay lỗi thời, đạo đức, luân thường, bổn phận, tín ngưỡng…”những triết gia mà tôi đă từng ngưỡng mộ, đều có tư tưởng lệch lạc và thiếu chân thành (trong sự quyết liệt đi t́m sự thật)- L.Wittgenstein dixit”. L.Wittgenstein cố t́m ra lối thoát cho con ruồi bị lạc trong lọ kính (to show the way out for the fly in the fly bottle).
T́m lối thoát cho chính minh, cho thời đại, L.Wittgenstein cốt yếu đă đưa ra hai tác phẩm (không kể những tài liệu giảng giải ở đại học, bàn luận và thư từ với những đối tượng xa gần): Tractatus logico-philosophicus (1917), Philosophical Investigations (1945) (Luận đề triết lư-logic và Khảo xát triết học). Hai tác phẩm viết xa nhau một thời gian dài, nên hiển nhiên có sự biến đổi của tư tưởng, đặc biệt tác phẩm thứ nh́ hoàn toàn phủ nhận những quan điểm logic trong “Luận đề triết lư-logic”. Tuy nhiên hai tác phẩm đều không là văn bản triết lư tư biện có lịch tŕnh hệ thống mà cốt yếu như là ‘những lời thuyết giảng của guru”. Những lời thuyết giảng như châm ngôn, như những xác định thực tế. Những mệnh đề nhiều khi chính nó là những câu hỏi để lại cho độc giả phải trả đáp, hay lời giải cũng nhiều lần không có ngay mà chỉ đến mấy ngày sau (ở những trang giấy khác). Đúng hơn, đó là hai thuyết tŕnh của sự đàm đạo với chính ḿnh hay với những đối tượng không hiện thực. Tác phẩm do đó hiện thành không theo một quy luật minh bạc nào, lệch lạc và bất tất (contingent), những lời nói như ngẫu nhiên tức thời cảm thức…
Không có hệ thống rơ ràng trong sự hiện thành của tác phẩm, chính là cái khó khăn hiển nhiên đầu tiên cho độc giả t́m hiểu tư tưởng của L.Wittgenstein. Khó khăn thứ hai là những mệnh đề như những câu hỏi để độc giả không nhận rơ ra ngay thâm ư của tác giả. Những khó khăn đưa đến những tranh căi trong sự diễn giải thông thường tư tưởng của L.Wittgenstein. Tuy nhiên không bận tâm với những khó khăn h́nh thức đó, tôi hoàn toàn đồng ư với phê b́nh gia (H.L.Finch?) rằng, “hăy đọc và thấu hiểu L.Wittgenstein với những ǵ ta nhận ra là vẫn nằm sẵn trong ư thức quan niệm của chính ḿnh”, như một guru Wittgenstein đă giúp ta nhận ra chính ta có những âu tư đó, những nghi vấn kia với lời giải sẵn có ẩn ch́m hay tại chính ta vô tư bỏ lỡ…
Nhận định như vậy cũng chính là xác nhận v́ sao, L.Wittgenstein là một guru thời thượng. L.Wittgenstein nói lên tư duy của thời đại. Cùng với Husserl (1859-1938), với Heidegger(1889-1976), nhận định sự nghịch lư của logicism với triển vọng t́m ra một hệ thống tư tưởng để thấu triệt quy luật tổng quát thế giới nhân sinh, tư tưởng và xă hội…, khi chính con người với tâm hồn lẫn thể xác nằm trong thế giới đó. Hiện thành trong thế giới đó, theo một h́nh ảnh điển hinh của Heidegger như là đi trên con đường rừng. Có thể t́nh cờ lạc tới một quăng khai quang, ta mơ hồ ư thức được chân trời xa thẳm. Có thể t́nh cờ lạc trên một ngọn đồi, ta hầu tưởng thấy xa kia một ngọn suối. Nhưng điều chắc chắn là ta không sao tự vẽ lên được bản đồ của khu rừng mà trong đó ta lạc sâu. Hoàn toàn như thế chính là ư niệm cơ bản của hiện tượng học (phenomenology), theo Husserl ta mỗi người không thể nào suy diễn thấu triệt và bao quát thế giới hiện sinh mà ta đắm ch́m trong đó, ta chỉ có thể suy diễn hữu hạn từ những hiện tượng lệch lạc và bất tất ngẫu nhiên đến trong cuộc sống mỗi ngày.
Vô h́nh chung, L.Wittgenstein xác nhập tư duy của thời hiện đại: hiện tượng học và hiện sinh chủ nghĩa ( tư tưởng chủ nghĩa tất yếu của hiện tượng học). Nhưng L.Wittgenstein có một đóng góp tích cực và độc đáo, tư duy thời thượng đại chúng: Nơi mà ta muốn tới chính là nơi mà ta đang ở (Văn học Trung hoa có câu: “Tại sao phải t́m đi Tề khi ta đang ở Tề”). Ư tưởng thời thượng chính là tại sao ta phải cần những lư thuyết, những khảo xác khoa học phức tạp và khó khăn để suy diễn thế giới hiện sinh mà trong đó ta ch́m đắm, khi thế giới đó bao la bát ngát vô cùng với muôn ngàn hiện tượng thể hiện h́nh trạng như trong một bức tranh, gọn gàng trong “ngôn ngữ” “ngôi nhà mà ta cư trú” (Holderlin-Heidegger), khi lời nói mà ta nói mỗi ngày phản ảnh sự hiện thành của chính ta trong thế giới hiện sinh. Triết học phải thoát ly siêu h́nh học, những quan niệm viển vông về đạo đức hay quy luật phổ quát trong cuộc sống con người, những tín ngưỡng siêu h́nh học, mà có một sứ mạng duy nhất là t́m ư nghĩa (the meaning) hiện sinh của ngôn ngữ, ngôn tự với mệnh đề, ngôn ngữ mà chúng ta mỗi người phải có như là một sinh vật có lư tính tư duy.
Đó là lập trường tức thời hiện đại cũng như hậu hiện đại, nếu ta hiểu ngôn ngữ trong nghĩa rộng, ngôn ngữ của thi sĩ, ngôn ngữ của họa sĩ, ngôn ngữ của nhạc sĩ…, ngôn ngữ của A.Warhol, ngôn ngữ của S.Beckett…Đặt tất cả ư nghĩa hiện thành của mỗi người chúng ta trong ngôn ngữ của chính ḿnh, tức là khẳng định bản chất tự do hiện thành của chính ta trước sự thống trị của khoa học và kỹ thuật, trước áp chế của thị trường xă hội lợi nhuận. Với khắc khoải của tâm hồn, với trăn trở của lư tính và với vấn nan của thể xác, L.Wittgenstein đă tự t́m ra một lối thoát, khẳng định tự do tuyệt đối của bản thân, của con người. L.Wittgenstein là một guru của thời đại.
Một điều nên nhắc lại là theo truyền thuyết, L.Wittgenstein hoàn toàn suy nghĩ một cách độc lập, không đọc và thật nghiên cứu tư tưởng của một ai khác. (Có thể có duy nhất một trường hợp dị biệt: L.Wittgenstein đă đọc Schopenhauer, nhưng cũng chỉ để bắt bẻ chi li: Làm sao có thể nói “Thế giới là thế giới của tôi” (The world is my world = the world is the one in my representation), khi thế giới mà trong đó ta đắm ch́m?. Tư tưởng, những châm ngôn, những mệnh đề của L.Wittgenstein quả thật chứng tỏ một đầu óc khác thường, cảm thức sắc bén hồn nhiên đột xuất, nhưng đặc biệt lại không hoàn toàn xa lạ.
Một châm ngôn nổi tiếng của L.Wittgenstein là “nếu không biết th́ hăy im lặng”. Đó là một câu thông thường, nhưng L.Wittgenstein cho nó một âm hưởng là mời các triết gia hăy chân thành bỏ đi những ư thức hệ viển vông, những tìm ṭi vô nghĩa h́nh nhi thượng. Và đây một mệnh đề tiêu biểu: ngữ tự chỉ có nghĩa, cái nghĩa mà chính ta dùng nó trong một mệnh đề. Tuy là một xác định có thể có của mọi người. Nhưng khi L.Wittgenstein nói tới ư nghĩa nguyên thủy hay cơ bản của ngữ tự, th́ tôi nghĩ tới triết học Hegel để đồng t́nh nói rằng mỗi một ngữ tự chính nó là một khái niệm, mỗi khi ta dùng nó trong một mệnh đề, là ta quy định khái niệm, quy định hữu hạn tức thời và sẽ biến chuyển hiện thành đổi khác qua bản chất tự nó tiềm ẩn mâu thuẫn. Một suy tư theo ư tôi chính nó đă đưa L.Wittgenstein đến ư niệm “tư duy phải biết phủ định” (the meaning of negations in the philosophy of L.Wittgenstein). Có lẽ nên nói thêm một sự kiện để nêu rơ tư tưởng L.Wittgenstein là nằm trong tư duy của thời hiện đại hay hậu hiện đại. Với hiện tượng học, Heidegger đặt vấn đề lư tính con người phải suy tư t́m hiểu sự hiện sinh của ḿnh (the meaning of Being), sâu xa bao quát, triển khai hiện thành….L.Wittgenstein không nghĩ ǵ hơn khi nói vấn đề của chúng ta là phải luôn luôn t́m hiểu ư nghĩa của ngôn ngữ (the meaning of language), v́ trong ngôn ngữ hiện thành sự hiện sinh của ḿnh.
Kết luận có thể rằng với những mạn đàm trên, tôi có thâm ư phá vỡ cái hào quang làm L.Wittgenstein trở thành một guru huyễn tượng (mà tôi biết có nhiều người bái phục và sùng bái). Cũng có thể rằng tôi muốn ta nên t́m hiểu L.Wittgenstein qua viễn kính nhận định một con người qua phân tâm lư học, một con người trút bỏ cái vỏ ngoài thời thượng xu thời, một con người với tất cả những khó khăn sống động sao suy tư sao trong thế giới hiên đại, xă hội đang mất dần mọi ư nghĩa nhân bản. Tôi không phủ nhận sự sắc bén tư tưởng của L.Wittgenstein. Tuy nhiên có một khía cạnh tôi cho là khuyết điểm lớn lao. Qua tất cả công tŕnh suy luận triết lư của L.Wittgenstein, ta có thể nhận ra một lư tính thâm trầm tự vấn với khoa học và triết học. Nhưng thật tiếc rằng trong tư duy của L.Wittgenstein, không có một ư niệm ǵ về nghệ thuật. Với bao nhiêu luận đề triết học về ngôn ngữ, L.Wittgenstein khô khan không cho ta cảm nhận ǵ về nghệ thuật, “ư thơ” lấp lánh triển khai sao trong ngôn ngữ, mà dù sao đi nữa khoa học, triết lư, nghệ thuật là ba cơ sở của lư tính con người hiện là trong vũ trụ.
Tháng 11 năm 2011
Ngô Văn Tao
http://www.gio-o.com/NgoVanTao.html
© gio-o.com 2011