Quế Anh   oil pastel on paper  6/2011

Ngô Văn Tao

Kư hiệu học và Nghệ thuật

tản mạn

 

I-  Roland Barthes (1915-1980), văn học gia suy luận với kư hiệu học (sémiologie), đă từng viết mấy hàng ư này:

“Trước biển cả mênh mông, nhưng nh́n lại chỉ một băi biển, th́ nào đây là những kư hiệu: những thân người đang nằm phơi dăi nắng, những biển ngữ, điệu kèn, nhà hàng chào đón khách, những chai côca rác rưởi…Ôi! Bao nhiêu là kư hiệu của chuyện đời.”

Chỉ một chút suy tư, ta phải nhận ra rằng xă hội âu mỹ cốt yếu là “tư sản nghi thức”  (société bourgeoise), thị trường lợi nhuận. Mỗi giờ mỗi phút trên truyền h́nh và ngay khắp nơi là những h́nh ảnh, biển ngữ thương hiệu. Nhưng luôn luôn những h́nh ảnh, biển ngữ thương hiệu không chỉ chiêu hàng cho một sản vật của thị trường, mà lại là  kư hiệu “tư sản nghi thức”,  h́nh ảnh của cái đồng hồ Gucci không chỉ là h́nh ảnh của chiếc đồng hồ mà là kư hiệu khêu gợi  sự hào nhoáng thời thượng phô trương.

Chính như thế, xă hội “tư sản nghi thức” mà chúng ta đang ch́m đắm là một xă hội rập khuôn (formaté), với những kư hiệu tràn lan định thức (formuler) nhu cầu và ước mơ của quần chúng. Pop Art là sự thách đố phản kháng tự nhiên nghệ thuật. Nằm trong ṿng cương tỏa “tư  sản nghi thức” đó, nghệ sĩ tự mỉa mai, tự nhạo báng cảm nhận sự bất lực của bản thân trước sự thô thiển b́nh dân túy, ư đồ thời thượng thô sơ máy móc của thị trường. Điển h́nh là những bức tranh của Andy Warhol (1928-1987) vẽ “Chai Coca Cola”, “Hộp súp Campbell”,  “Chân dung Marilyn Monroe”…Những bức tranh gián tiếp nói lên sự áp đảo của những kư hiệu, “tư sản nghi thức” thị trường lợi nhuận, trên tiềm thức quần chúng, tuy nhiên ta vẫn phải là ta thấy ra ở sự áp đảo đó cái hời hợt nông cạn của sự đời.

 

II-  Sự thật là thế giới hiện sinh của mỗi người triển khai với muôn vàn kư hiệu (kư hiệu học). Chỉ một miếng bánh madeleine nhỏ với tách trà nóng nhẹ nhàng là kư hiệu, là bản sao “định thức” (programmation), dẫn đưa Charles Swann ( nhân vật chính trong tiểu thuyết nổi danh của Marcel Proust), đi vào hành tŕnh tâm tư t́m lại quá khứ (A la recherche du temps perdu)! Một bông hồng với ai đó sẽ măi măi là kư hiệu của “t́nh yêu chớm nở” v́ một lần “người t́nh mai sau” của anh phải đi xa nhưng gửi lại cho anh một bông hồng mong manh nhỏ bé. Cả thế giới hiện sinh, vật chất hay tâm tư, là trang nhật kư vô tận của mỗi người chúng ta, với những kư hiệu nhắc nhở tư tưởng, cảm nghĩ, hay sự việc đă sống, chờ đợi, mong muốn….

Liên quan tới khoa học của “trí khôn nhân tạo” (intelligence artificielle) (hay của đầu óc vi tính, le cerveau des ordinateurs), những trí khôn nhân tạo th́ không cần hiểu chỉ cần biết tính, bắt đầu với chỉ thị của những kư hiệu, những bản sao “định thức”(les cartes des premiers ordinateurs). Nhưng trí khôn nhân tạo không thể tự động tổng hợp những kư hiệu để đưa ra một một tác phẩm nghệ thuật, một bức tranh, một bản nhạc, một tiểu thuyết…Dù theo Darwin, trí khôn nhân tạo vẫn có thể tổng hợp để tự tạo ra một chương tŕnh tiến triển theo một sự máy móc tối ưu nào ( tổng hợp một số tế bào để tạo ra một sự sống phù hợp ưu tiên, thích hợp nhất, ngắn gọn nhất trong bối cảnh). Nhưng trong sáng tác nghệ thuật không có đường rày tối ưu (de la recherche opérationnelle ), mà là sự sáng tạo vô căn cứ, “một sự siêu h́nh ở ngoài lĩnh vực của trí khôn nhân tạo” . Theo tôi nghĩ, chính v́ những lư do đó, Roland Barthes nhận định kư hiệu học là thuộc về triết lư và nghệ thuật trong sự hiện thành lư tính của con người.

 

III- Mỗi một tác phẩm nghệ thuật là tổng hợp những kư hiệu. Một từ ngữ, một nét vẽ, một khúc nhạc , đều là những kư hiệu. Có những kư hiệu giản đơn như một chữ, như một vật. Có những kư hiệu kín đáo ẩn dụ : “Miếng bánh madeleine và chén trà nóng”, kư hiệu của sự hồi tưởng về qua khứ…Tôi cũng theo Roland Barthes để nghĩ rằng Pop Art, mà chúng ta biết, có giá trị không nhỏ, nhưng những kư hiệu mà chúng ta nhận ra trong Pop Art (như với A.Warhol), th́ thường quá đơn sơ, và hay nhiều lần thô thiển nhắc lại. Nói một cách rơ ràng, với Pop Art, ta không thể nghĩ so sánh tới những danh họa Monet,  Picasso!

Giá trị vượt thời gian của tác phẩm nghệ thuật là ở trong tổng số những kư hiệu mà tác giả đặt ra cho công chúng. Cho ta suy tư, thức tỉnh, hồi ức, rung động…Có những kư hiệu đưa ta ôn lại những ǵ ta đă học, ta đă biết. Có những kư hiệu gợi ta hoài mong, ước mộng…Thước đo giá trị của văn nghệ là qua sự có hay không những khả năng đó.

Tuy nhiên, những kư hiệu của văn nghệ, hay đúng hơn của chính đời thường không phải là những phương tŕnh toán học, những bản sao “định thức” vi tính, mà ư nghĩa định thức c̣n tùy ở từng người tiếp nhận. Chính với nhận xét đó, Wittgenstein nói ngôn ngữ là tṛ chơi kư hiệu. Một chữ nói ra, một từ nói ra không bao giờ có một ư nghĩa phổ quát. Roland Barthes nhận đinh, như một tỉ dụ, bi thảm kịch Hy lạp thượng cổ chính là thảm kịch của sự “bất đồng ngôn ngữ” ngay giữa những người thân, các nhân vật nói lên nhưng đối tượng như người điếc không nghe thông ra.

 

IV- Đoạn thơ sau đây của Trịnh Công Sơn (nằm trong lời ca của bản nhạc: Đóa Hoa Vô Thường):

T́m trong vô thường, có đôi gịng kinh

 sấm bay rền vang

Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn

Tôi mời em về đêm gội mưa trong

Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm

Trong vườn mưa tạnh tiếng nhạc hân hoan

Trăng vàng khai hội một đóa hoa quỳnh

Cái tuyệt vời của đoạn thơ, là những kư hiệu dẫn đưa ta rung động và suy tư (sự vô thường của cuộc đời, sự trang trải dây duyên của t́nh yêu…), riêng tôi c̣n thầm nhận ra một bức tranh toàn diện, Eros vô cùng thanh lịch (Eros=t́nh dục). Như thế đấy, văn nghệ phải đa dạng ẩn dụ.

Xă hội mà chúng ta đang sống hiện đại là xă hội tư sản “nghi thức”, thị trường lợi nhuận. Văn nghệ “hậu hiện đại” thách đố xă hội đó, phủ nhận những nghi thức tầm thường tư hữu với những cương thường thích nghi kiểu cách thời thượng. Văn nghệ hậu hiện đại là sự đ̣i  lại cho quần chúng mỗi người cái quyền tạo dựng thế giới hiện sinh của chính ḿnh và khẳng định chính ta là “chủ thể siêu thoát” trong cái phận ta làm người.

Những lời bàn về văn nghệ qua kư hiệu học của Roland Barthes phù hợp với tư tưởng hậu hiện đại. Sau hai cuộc chiến thế giới, với sự phá sản của các lư thuyết (đặc biệt của Marxit chủ nghĩa), với sự thống trị của khoa học kỹ thuật làm lu mờ giá trị của mọi hệ thống luận đề siêu h́nh, văn nghệ không c̣n là chuyện tự sự đại ngôn (les grands récits). Mọi tác phẩm nghệ thuật phải tiệm lời, như một bức tranh chính đáng của hội họa không lân la giảng giải. Mang đến những kư hiệu, những biểu tượng  kín đáo, gợi ư nửa lời, những kư hiệu nằm trong tác phẩm công chúng mỗi người tiếp nhận sẽ không bắt buộc là hoàn toàn theo cái ư của tác giả. Một tác phẩm nghệ thuật chính đáng sẽ tiển triển, diễn giải trong sự hiện thành của từng người trong công chúng. Tôi nghĩ tới kịch bản, người hùng sau bao nhiêu gian truân trở về ngôi nhà cũ. Ngôi nhà hoang phế, vắng vẻ, anh vừa đi vừa hát và dọn dẹp, bổng anh nhặt một bức ảnh. Ảnh của người mẹ, của người em hay của người yêu anh đă mất? Màn kịch từ từ hạ xuống, khi anh đứng khựng lại, rất lâu tay giơ bức ảnh trước mặt ḿnh. Khán giả mỗi người chắc sẽ hồi cảm tùy bản thân như chính ḿnh sống cuộc trở về!

Trong một tản văn ngắn, Roland Barthes đặt vấn đề: “Cái chết của tác giả” (La mort de l’auteur), nêu lên ư trên. “Cái chết của tác giả” có nghĩa là tác giả ẩn ḿnh, không cần hiển hiện, không cần nhắc nhở quyền tư hữu tầm thường trong xă hội tư sản nghi thức, mà trái lại chấp nhận cái quyền giải cấu của công chúng mỗi người đối với tác phẩm văn nghệ của ḿnh. Thật vậy, như khi ta nghĩ đến “Truyện Kiều”  của Nguyễn Du đó, ta đâu có nghĩ tới Nguyễn Du, một cá nhân với thân thế và sự nghiệp, mà có thể nói ta chỉ nghĩ như ta nghĩ đến kho tàng vô danh của những truyện cổ tích, của những ca dao, những ca dao mà ta mang ra luận giải “bói kiều”, mang ra tự nhủ hay răn đời.

Tác giả ẩn ḿnh! Người nghệ sĩ sáng tác không tự cho ḿnh một thái độ “giáo chủ”, cảm nhận sư đa dạng của nghệ thuật như của chuyện đời, mỗi tác phẩm càng giá trị bao nhiêu th́ càng đa dạng. Chính khi công chúng t́m tự ḿnh giải cấu tác phẩm, cũng là tự ḿnh đi t́m lại hành tŕnh sáng tác nghệ thuật, mang đến tác phẩm một chiều sâu, một sự rung động mà có lẽ chính người sáng tác đă  hồn nhiên cảm nhận chỉ trong tiềm thức. Hơn nữa, tôi có ư thức rằng sự đóng góp của công chúng dù có thể không dăi bày trên giấy trắng mực đen vẫn có một âm hưởng thầm kín nào đó làm tác phẩm chính đáng tồn tại với thời gian.

 

V- Hăy để những học giả trường quy, cặn kẽ mỗi khi bàn luận đến một tác phẩm đều nêu ra tên tuổi của tác giả , thân thế và sự nghiệp. Tôi không phủ nhận việc làm đó đóng góp cho lịch sử văn học (đặc biệt để có một cái nh́n toàn khối sự nghiệp của nghệ sĩ). Nhưng tác phẩm nghệ thuật thường vượt thời gian, vượt những bất  tất lệch lạc của lịch sử, những lắt léo tức thời của xă hội. Những thành kiến tự nhiên có khi nêu ra về thân thế, về lập trường xă hội hay chính trị của tác giả, cùng xu hướng giai cấp, có ích ǵ cho công chúng nếu không chỉ làm công chúng mất cái hồn nhiên t́m thẳng đến tác phẩm như một phần đời của chính ḿnh. Một sự kiện vô cùng mông lung; t́m đến cái đẹp, cái nên thơ, cái khát khao, ngay cả sự đau khổ thăng hoa của đời người, hay những mối t́nh với sự phù du và mất mát….

Cho nên mỗi khi ta phản biện phê b́nh hay thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, th́ ta hăy cùng nhau giải cấu. Chúng ta hăy “mang tác giả ra tế thần”, chúng ta công chúng mỗi người tự lên ngôi đóng góp giải cấu như “một chủ thể siêu thoát”. (Theo kết luận của bài tản văn “La mort de l’auteur “ - Roland Barthes)

 

Tháng 7/2912

Ngô Văn Tao

 

http://www.gio-o.com/NgoVanTao.html

 

© gio-o.com 2012