Màn kịch II

Tranh acrylic 50x70 cm, Ngô Quế Anh 2008

 

 

 

NGÔ  VĂN TAO

 

            Đồi  Cỏ

      

kịch ngắn ba cảnh năm màn

 

 

 

“Chúng ta không thể nói về Hư Vô hay thảo luận về Hư Vô như về trận mưa ngoài kia hay về một ngọn núi nào hay nữa như về một sự việc thiết thực nào.Đầu óc khoa học không thể cảm nhận được Hư Vô. Ai muốn thật suy tư về Hư Vô bắt buộc phải có một tư duy phi khoa học.Phi khoa học ư ! Một sự thiếu thốn bất hạnh dưới đôi mắt của những kẻ mạn nghĩ rằng lư luận khoa học mới thật là lư luận nghiêm túc, những kẻ mạn nghĩ rằng triết học phải nằm trong hệ thống của khoa học.Nhưng sự thật th́ trái lại.Khoa học là một hệ thống phôi thai, dẫu rằng một phần nào kết tinh, của triết học.Triết học không bắt đầu từ khoa học, cũng không phải đă có v́ nhờ có khoa học.Triết  học không nằm trong phạm trù khoa học.Lư luận cho cùng, triết học đi trước khoa học và không thuộc về bất cứ hệ môn nào của khoa học.Triết học ở một thượng tầng khác, thượng tầng của cuộc sống tinh thần.Thi ca có lẽ mới cùng một thượng tầng với triết học….

 

Đối với ai chỉ có đầu óc khoa học, nghĩ tới Hư Vô là một tội lỗi và cùng cực phi lư. Nhưng không, thi sĩ cùng với triết gia sẽ biết b́nh luận về Hư Vô.Và như thế, không phải như người ta thường nghĩ là v́ thi ca là một nghệ thuật vu vơ bảng lảng, nhưng  sự thật là trong thi ca ( thi ca sâu xa chân chính), tâm trí của thi sĩ đă đạt tới cơi  siêu việt mà những khoa học gia không sao đến được.Chỗ siêu việt là người thi sĩ   biết bàn đến bản thể hiện là (Dasein), như là sự sống chưa bao giờ được diễn tả hay đă một lần nào cảm nhận….”

 

Martin Heidegger

 

H́nh Nhi Thượng Học Tiểu dẫn  (Introduction à la Métaphysique)          

 

        

Kịch Bản

 

Ba Cảnh , năm màn

 

Nhân vật:

 

Trí, nhà văn gần 60 tuổi

 

Bác sĩ Tâm ngoài 60 tuổi

 

Cô Hạnh, 21 tuổi

 

Đại đức Thích Tuệ Trung , ngoài 60 tuổi

 

 

Truyện nhà văn Trí đi t́m một đồi cỏ để dừng chân,

 

hay thật là t́m lỗ hổng đen hư không của ḷng ḿnh.                                                                

 

Người ta hay nói : Tôi làm bài thơ này, tôi vẽ bức tranh này cho tôi...Tôi không cần biết nó có lợi ích ǵ, mang lại ǵ cho tôi, nhưng tôi biết khi tôi làm thơ hay tôi vẽ cho tôi, tôi t́m sự an b́nh tĩnh lặng cho chính tôi.

 

Nhưng ít ai nói : Tôi đang sống cho tôi, không cần biết sống như vậy có mang lại ǵ cho tôi hay cho những người khác. Tôi sống có ích lợi ǵ? Tôi không cần biết, cốt yếu là tôi không làm phiền toái hay làm hại một người khác. C̣n đối với tôi ư? Tôi sống như vậy, tĩnh lặng, riêng biệt, cô đơn một ḿnh biết đâu tôi lại t́m ra chân lư b́nh thản của đời tôi.

 

Dĩ nhiên là trong tâm tư, nhiều người đă nghĩ như vậy. Đặc biệt những tu hành gia, Thiền gia hay tu kín...Tuy nhiên những tu hành gia thường đóng cửa cài then, sống ngoài trần thế, cốt để t́m sống với Phật hay với Chúa. C̣n những người khác, không có Phật không có Chúa, chỉ muốn t́m đến ḿnh? Chắc chắn là có, nhưng ai biết đến hành lộ của những người này : hành lộ trong tư tưởng, trong cách sống hằng ngày ở đâu, làm sao, cô đơn, yếm thế?

 

Vở kịch này tạo dựng một nhân vật  như vậy đó, trước sau sáu mươi tuổi, mang nặng kinh nghiệm của cuộc sống. Một nhân vật bây giờ chỉ t́m sống với ḿnh, sống như làm thơ, như vẽ...không cho ai, không cho chính ḿnh, không t́m danh lợi hay t́m lăng quên để tự an ủi...Tất cả chỉ để t́m cái sâu xa của ḷng ḿnh, tĩnh lặng h́nh nhi thượng của bản thể.

 

Vở kịch không phải là một bài luận văn hay một tản truyện. Nó bao gồm những ẩn dụ, nó tả sự sống hàng ngày của một nhân vật trừu tượng. Nhưng nghe người ấy nói vu vơ, nh́n người ấy sống, ai cũng âm thầm hiểu rơ hành lộ tư tưởng của nhân vật.

 

Không có hành động, chỉ là những đối thoại b́nh thản giữa hai người hay đối với chính ḿnh...Khó nhất là vẫn không phải rơi vào sự nhàm chán bi quan phi nhân sinh mà vẫn đưa người xem vào thế giới của t́nh yêu, một cuộc sống vẫn c̣n đam mê lăng mạn.

 

Tháng 1 năm 2002

 

Ngô Văn Tao

 

 

 

 

Cảnh  một

 

Trong sân gạch trước cửa nhà ngói ba gian của Trí, bác sĩ Tâm và Trí đang ngồi trên ghế đẩu tre, hai bên bàn tre. Bác sĩ Tâm đứng dậy mở gói lấy ra đặt trên bàn ba chai rượu, hai cái ly và một gói đồ ăn…

 

Bác sĩ Tâm: Sáu tháng qua rồi, tôi mới trở lại thăm anh. Sao anh Trí? Anh vẫn vui vẻ sống ở chốn đồng quê hiu quạnh này chứ?

 

Trí: Cám ơn anh rất nhiều, bác sĩ Tâm.Đă bao nhiêu năm ở Âu Mỹ, tôi cứ mộng mơ cái ngày trở về Việt Nam, được ở một căn nhà ba gian với một thửa vườn rau truớc nhà. Anh đă giúp tôi thực hiện giấc mộng đó.

 

Bác sĩ Tâm: Nhưng đơn côi một ḿnh trong một căn nhà không điện không nước, giữa đồng không, giữa núi rừng, đêm chắc anh chỉ nằm nghe thấy tiếng quạ tiếng vượn…Anh không buồn sao? Nhớ xa hoa của thành thị, nhớ tiện nghi văn minh của thế giới?…Tôi mang về biếu anh hai chai  Chateauneuf du Pape và một chai Johny Walker Black label, cùng với phó-mát của Pháp và mấy lạng thịt quay, bánh ḿ để chúng ta cùng nhau đánh chén tối nay.Từ ngày có kinh tế đổi mới, những thứ xa xỉ phẩm này, người ta bán đầy đường ở Hà Nội.Dù sao, cốt để nếm lại hương vị trưởng giả, biết đâu anh lại chẳng đổi ư sáng mai theo tôi trở lại sống ở tỉnh thành?

 

Trí: Không đâu…không đâu! Tôi hoàn toàn an b́nh trong khung cảnh này.Anh biết không? Bà Cả, anh có nhờ bà giúp việc cho tôi đấy…tôi không cần bà. Nhưng bà Cả đă chỉ tôi trồng rau, nuôi gà nuôi vịt.Tôi nay biết cả làm gà, làm vịt.Để tối nay tôi lại làm thêm một nồi cơm gà nữa và chúng ta sẽ có một bữa tiệc.

 

Bác sĩ Tâm (ngồi xuống)Mới có bốn giờ chiều.Cũng phải chờ trăng lên, bảy tám giờ tối mới vào bữa cơm chứ…Để tôi mở trước một chai Chateauneuf du Pape.Chúng ta cùng uống vài ly và anh nói tôi nghe chuyện đời.Có phải anh về đây để trốn tránh một cái ǵ?

 

Trí (đứng lên,hai tay chỉ ra trước mặt):    Th́ anh cứ nh́n ra trước mặt anh đi, trước mặt anh là cảnh đồng ruộng với  núi đồi...Th́ anh ra bờ sông Đà đi, nằm dài trên đồi cỏ nh́n mặt nước lững lờ với những cánh buồm lặng lẽ trôi theo ḍng. Nằm ngửa nh́n những đàn c̣ bay lả lướt. Nằm lặng lẽ yên lành trên băi cỏ giữa những cánh hoa lưu ly, những bông huệ hoang, những bông chuông rừng, những cụm hoa trinh nữ…Rồi lại len qua những khe đá ở bên anh những chùm hoa thạch thảo thanh tao, lừng thoảng mùi hương của rừng núi. Như vậy, anh sẽ biết tôi trốn tránh cái ǵ để đi t́m kiếm một cái ǵ.

 

Bác sĩ Tâm: Anh Trí, anh c̣n trẻ hơn tôi, anh là nhà văn có tài, đang c̣n sáng tác…Chả nhẽ anh có thể bỏ tất cả để về sống điền dă như một thầy tu, như một cụ già quá tuổi.Tôi không thể nào tin như vậy. Phải có một  uẩn khúc ǵ nữa để anh từ bỏ cuộc đời văn minh ở Âu Mỹ, rời xa cảnh phồn vinh của thành thị.

 

Trí: Thưa bác sĩ, anh tưởng hay ho lắm sao, nếu chúng ta cứ cùng nhau chạy theo đuôi với quần chúng mà người ta xua như đàn ḅ với những bả phù hoa thị hiếu rẻ tiền hời hợt….       

 

Anh nh́n thiên hạ sống đi, tất cả tư tưởng, cuộc đời định mệnh là tùy theo sự bố trí của một tập đoàn đầu óc máy móc thương mại đầu tư. Chúng nó bổ vây chúng ta bằng những tiếng kèn tiếng hát, bằng những hoạt h́nh…Chúng ta chỉ thấy khắp chốn, nơi nơi là những máy truyền h́nh để ch́m đắm chúng ta vào trong những ḍng tín hiệu chiêu bài, những tin tức một chiều…Mà tin tức ǵ? Tin tức của một thế giới suy đồi…Tổng thống của Đại Cường quốc đệ nhất thế giới chỉ là một thằng bù nh́n tay sai của tập đoàn tài phiệt, tâm trí th́ nhỏ bé, thiển cận truyền bá những lời đạo đức giả phàm phu.V́ quyền lợi của tập đoàn nó, v́ quyền lợi riêng tư của dân tộc nó, nó có thể bấm một cái nút cho hàng chục ngàn người chết dưới bom đạn, trong khi chúng nó không phải nhỏ một giọt nước mắt, mất một giọt máu…

 

Này anh Tâm, loài người đang sống đặt hết tâm linh, tín ngưỡng vào trong khoa học. Loài người cứ chạy theo cái biết lư luận của khoa học, chạy theo cái kỹ xảo của kỹ thuật khoa học. Loài người muốn đọ tài với thiên nhiên:  tạo những thằng robot, những con người máy, những thằng người bằng da và bằng thịt cao hơn hai thước, biết nhiều và nhớ nhiều, máy móc bằng vạn lần chúng ta. Nhưng thật, chúng ta đều trở nên nô lệ của những thằng người máy. Chúng ta ch́m đắm trong cái biết khoa học vật chất một chiều.Từ cái ngày khoa học kỹ thuật chi phối chúng ta, loài người sống vô thần và loài người không c̣n biết suy tư nữa.

(Trí ngồi xuống,im lặng nh́n Tâm mở rượu)

 

Tôi về đây để đi t́m về cố quận và tự t́m hiểu riêng tôi, tôi muốn biết, ngược trào lưu lẽ sống của tất ca, chẳng hay tôi có c̣n biết suy tư…

(Trí quay người nh́n ra phía chân trời,và rất chậm răi nói)

 

Anh hăy nh́n kia, con đường đất nhỏ chạy dài giữa đồng ruộng ra xa về phía chân núi.Cái h́nh ảnh đó ám ảnh cả đời tôi…

 

Trong một sáng mùa thu, tôi đă ráng nh́n theo anh tôi đi xa dần trên một con đường đất như thế đó, anh đi t́nh nguyện nhập ngũ vào dân quân Cứu Quốc.

 

Rồi anh tôi trở nên đảng viên của đảng Cộng Sản Việt Nam, chính trị viên cho một trung đội pháo kích chiến thắng Điện Biên. Sau khi tiếp quản Hà Nội, anh tôi là một cán bộ cao cấp của Đảng và của nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.Trong những năm đen tối chiến tranh chống Mỹ, trong những năm dài tố khổ đánh tư sản, đánh trí thức, anh tôi vẫn có miếng thịt, miếng cơm trắng cho gia đ́nh trong cái chính sách bao cấp đảng ta thời đó; nhưng mỗi khi gia đ́nh ăn cơm, anh tôi đều phải đóng cửa để những người khác không nh́n ngó, ghen tị đặt vấn đề và mất ḷng tin vào sự tân tụy chân thành v́ dân v́ nước của những cán bộ của đảng…

 

Ấy mà  chính con đường đất như thế đó đă ám ảnh tôi suốt đời. Đến bây giờ tôi vẫn tự than tại sao khi đó tôi không có mười năm hay mười sáu tuổi nhỉ, tại sao tôi không có sức khoẻ và nghị lực để tôi theo anh tôi đi t́nh nguyện vào dân quân kháng chiến chống Pháp.

 

Nghĩ lại vẫn biết rằng nếu tôi đă đi, th́ có lẽ tôi đă chết rồi ở Cao Bằng hay trong một khu rừng nào đó ở Thái Nguyên, hay có sống sót th́ tôi chỉ là một anh phế binh nửa khôn nửa dại, và dù có may mắn hơn nữa tôi có trở về sau cuộc chiến toàn vẹn, th́ chắc bây giờ cũng chỉ là một ông cụ già bị loại trừ ra ngoài xă hội, v́ những  năm dài  bị tù đầy trong trại cải tạo và học tập để  xoá bỏ những t́ vết lăng mạn tiểu tư sản của tâm hồn…(Nói xa xôi  như tự nói với chính ḿnh) : Phải, không có cách ǵ để tôi trở nên một đảng viên gật gù, một cán bộ tự bịt mắt, bịt tai, an phận nhún nhường khiêm tốn, ngày ngày làm hồ sơ tuân theo chỉ thị của một trung ương chính quyền chuyên chế, nông cạn khuôn sáo rập rập theo khoa học Xă Hội Chủ Nghĩa…

 

Nhưng nếu tôi đă bước chân lên trên con đường cỏ đó, th́ tôi đă được sống rồi, Tâm ạ, những ngày tháng tuyệt đối trong sáng của tuổi trẻ…Tôi có lẽ đă sống hăng say lăng mạn những giây phút tuyệt vời, dù có  ngắn ngủi, của sự dấn thân, toàn thể xác lẫn tâm hồn, cho một chính nghĩa…Ôi  chính nghĩa ǵ? …

 

Nhưng  cái tuyệt vời ảo tưởng đó vẫn đi măi theo tôi, nằm măi trong trái tim tôi như một thiết tha rằng ta có thể đạt được tới  vô biên …Một hoài băo bệnh hoạn phi lư: đi t́m chính nghĩa, đi t́m lư tưởng  huy hoàng ngay ở trong cái phận làm người…Một khắc khoải, nằm ngoài lư trí, nó đưa đẩy tôi đến những chỗ bế tắc.Tôi đă sống , Tâm ạ,  chà đạp những người thân,  phủ nhận những t́nh yêu chân thành…

 

Tôi không thích ứng với xă hội loài người, tôi không biết hưởng  hạnh phúc b́nh dị của trần gian…

 

Tôi về đây để suy tư, ….t́m hiểu sự thất bại của đời tôi, t́m nhận ra cái trống rỗng của tâm hồn….

 

Bác sĩ Tâm lặng lẽ rót hai ly rượu,mời Trí. Hai người đụng chén rồi nâng ly.

 

Bác sĩ Tâm: Anh làm tôi nhớ tới một truyện ngắn của anh: “Cái Hư Vô của Chris”.Cái truyện ngắn để lại cho tôi rất nhiều ấn tượng…

 

Trong truyện đó,Chris Peled-Krivine là thi sĩ, người Pháp gốc do thái, bạn của anh.Tôi nhớ măi cuộc đàm thoại dông dài trời biển giữa anh và Chris từ 8 giờ tối tới 2 giờ đêm ở Café Flore, place Saint Germain des Prés, Paris…Các anh nói chuyện mênh mông, nhưng tôi nhớ Chris nói:

 

Này Trí, anh biết trong vũ trụ có những lỗ hổng đen.Tất cả những ngôi sao nào lạc, ngay cả những tia ánh sáng nếu đi đến quá gần lỗ hổng đen đều bị thu hút ch́m đắm vào cơi hư vô bất tận của nó. Đối chiếu với vũ trụ của những hằng tinh, thế giới tâm linh chúng ta th́ sao?

 

Anh nh́n đi, ,ngay đến lịch sử của một dân tộc cũng có một chỗ để tự hủy. Chủng tộc do thái  là một chủng tộc “được chọn”, nhưng cũng là một chủng tộc bị “lưu đầy”, một chủng tộc bị kỳ thị, bị đàn áp, chà đạp tưởng đến gần bị tiêu diệt…Nhưng  nỗi đau khổ lưu  đầy, những nỗi sầu khổ tàn khốc nhất trong lịch sử loài người đă để lại cho nhân loại những ngọn đuốc lung linh. Tượng đài mặc niệm Holocaust vằng vặc  nhắc nhở cảnh cáo chúng ta cái mặt trái quỷ quái, khốc liệt vô nhân đạo tiềm ẩn trong mỗi người…Phải sau hai ngh́n năm lưu đầy, chỉ nh́n lại ngay gần đây thôi, người do thái đă cống hiến cho nhân loại  bao nhiêu nhà tiền phong dẫn đường chân chính như Freud, Einstein, Menuhin…Sau cuộc chiến tranh thế giới  thứ hai này, ở hậu bán thế kỷ thứ hai mươi, khi đă tiêu diệt bọn phát xít Hitler, khi Mỹ Châu Hiệp Chủng Quốc  trở nên đại cường quốc đệ nhất của thế giới, có thể nói người do thái đă tiến đến đài quyền lực vinh hoa đệ nhất nhân loại…Trong tay họ, có những guồng máy tài chánh, những guồng máy thương mại, báo chí thông tin tin tức, truyền h́nh điện ảnh của thế giới…Nói trắng đi, người do thái có rất nhiều thủ lănh trong bọn tài phiệt thế giới, và hơn nữa trong  bọn quân phiệt thế giới, với khả năng cơ giới tiêu diệt cả một dân tộc khác, ngay cả đến toàn thể loài người…Người do thái thừa đủ quyền uy và khả năng sức mạnh để trở về đất hứa, xây dựng ở nơi đó một ốc đảo nhân loại của t́nh thương, một vùng đất “hứa” phồn vinh mà ba tôn giáo lớn của loài người cùng chia thịnh vượng, hoà hợp tôn trọng ba  cơi thần linh. Nhưng không, phải có”một lỗ hổng đen” nào đó trong tâm linh do thái để người do thái phải về đất hứa như một đội  quân chinh phục,  “để trả thù” lại hai ngàn năm bị ức hiếp…Họ phải xây dựng “Thánh Quốc Israel” bằng sức mạnh  của kỹ thuật cơ giới, trên cơ sở của sự kỳ thị chủng tộc, giết hại, đàn áp lưu đầy người Palestine…Một giọt máu do thái là hơn cả trăm sinh mệnh  của người hồi. Người do thái không biết rằng như thế, họ đang phủ nhận tinh hoa nhân bản của người do thái, cái phù mệnh  lư tưởng cao xa nhân đạo của Hesse,của Einstein, của Chagall, cái phù mệnh của ḷng tin ở con người, ḷng tin đó đă giúp người do thái sống qua hai ngàn năm lưu đầy thử thách lịch sử .Cái lư tưởng nền tảng của sự vinh quang lịch sử do thái. Có lẽ người do thái đang tự hủy diệt, và than ôi  c̣n có thể mang theo cả  nhân loại vào trong cùng một hố thẳm….

    

Chris trầm tư rất lâu rồi  nói tiếp:   “ Thôi nhé, anh hứa với        tôi đi,  hơn năm nữa hăy t́m gặp lại tôi...Riêng tôi, tôi  muốn về đóng cửa ngồi một ḿnh trong tháp ngà, căn hộ của tôi, t́m biết  cái lỗ hổng đen của  tâm hồn….”

 

Trí: Rồi hơn hai năm sau, tôi mới đi lại t́m gặp Chris.Tôi trèo bẩy từng thang lầu lên đến căn hộ của Chris ở toà nhà 44 phố Vavin, Paris quận 5…Tôi bấm chuông nhiều lần và đứng đợi hồi lâu…Măi sau mới có tiếng động mở cửa, một người con gái hiện ra. Một thiếu nữ…nàng có thể là dưới mười tám tuổi mà cũng có thể là ngoài hai mươi năm tuổi…Nàng mặc một áo tơ mỏng trên một thân thể tuyệt vời, mớ tóc vàng dài lượt là, đôi mắt xanh xa xôi như  chứa đựng tất cả huyền bí của trần gian. Nàng chắc phải là một nàng tiên giáng trần…Tôi chỉ biết ấp úng không nói ra lời, quay đi xuống lầu. Nhưng trong ḷng tôi ôm giữ cái h́nh ảnh của người thiếu nữ  như  một diễm phúc được thấy trong  giấc mộng hoang đường…

 

Ra đến cổng toà nhà, tôi đứng tần ngần hồi lâu mới nghĩ  quay lại t́m người gác cổng toà nhà 44 phố Vavin, để hỏi thăm về ông Chris Peled-Krivine. Một bà cụ già trả lời:”Trời! Ông không đọc báo sao, nhà thơ Chris Peled-Krivine đă mất tích vào đâu rồi…Sau một năm trời, tôi không thấy ông Krivine đâu, mà thư từ người ta gửi đến cứ chất đống..Những người thân đành phải nhờ cảnh sát mở cửa căn hộ của ông.Trong căn hộ vẫn nguyên như là ông ta c̣n có  mặt. Sách vở bừa băi.Trên bàn giấy cái đèn bàn vẫn cháy. Pḥng ở tuy nhiên có hơi nhiều cát bụi. Một bộ quần áo ngủ phẳng phiu trải trên giường, coi như là mặc trên một thể xác, mà thật là bọc giữ một đống cát bụi. Không hiểu ông Krivine đă đi đâu? Vẫn c̣n đây cặp kính trắng và cái ví túi đựng tất cả giấy tờ: bằng lái xe, thẻ tín dụng ngân hàng…Trong khi chờ đợi, người đàn bà mà ông gặp ở căn hộ ông Krivine, là cô Nourit, cháu ruột của ông không biết từ đâu tới, cô Nourit đến ở  coi nhà và có bổn phận sưu tầm tất cả những sáng tác của nhà thơ để cho in một toàn tập Chris Peled-Krivine. Mà tôi quên nói với ông, trên bàn viết của nhà thơ, người ta c̣n thấy một tờ giấy trắng đang viết dở với hai câu thơ, mà báo chí đă bàn tán  đến nhiều:

 

Trước khi ch́m vào trong hố xoáy của hư vô

 

Trước ngưỡng cửa

 

hồi sinh thiên thần trong thế giới Không Không…

 

Bác sĩ Tâm: Phải, truyện kết luận như vậy. Ngụ ư điển h́nh.

 

Nhưng tôi nghĩ tới mẩu truyện ngắn này, là tôi lo cho anh. Anh đi t́m hiểu cái hư vô trống rỗng của cuộc đời, anh không sợ sao?  Anh có thể sẽ như Chris Peled-Krivine bị ch́m biến mất vào trong một lỗ hổng đen của vũ trụ.

 

Trí: Tâm,anh quên rằng những tia ánh sáng nếu chỉ đến gần đủ thôi  lỗ hổng đen của vũ trụ vẫn c̣n có khả năng lướt bật ra ngoài để các nhà vũ trụ học c̣n tiếp nhận những tia ánh sáng lạc quỹ đạo này mà nhận ra khoảng trời biên giới của những lỗ hổng đen  trong vũ trụ.

 

Tôi sẽ đi t́m hiểu cái hư vô trống rỗng của đời tôi nhưng mà chỉ t́m hiểu xa xôi qua những ẩn dụ, cốt để mở cánh cửa vào một thế giới mà ở đó tôi sẽ biết tái sinh trong trắng, không c̣n mang nặng những vết chàm đen nuối tiếc và tội lỗi.

 

Tôi sẽ ngồi viết một quyển truyện “Chiến Tranh và Hoà B́nh” của nước Việt Nam chúng ta. Một truyện không có Natasha, không có André…Cốt truyện không phải là t́nh yêu mà là đau khổ và thất bại, những ảo tưởng mà những con người  đơn côi  phải trả giá, để vạch rơ ra cái hư không của lịch sử cận đại dân tộc Việt Nam chúng ta, ẩn dụ điển h́nh đến cái hư vô của chính tâm hồn tôi.

 

Một quyển truyện như vậy thật không là quá trừu tượng. Anh thử nghĩ đi, sau bao nhiêu năm chiến tranh, bao nhiêu nước mắt và xương máu…chúng ta đă có một cái ǵ? Không! Vẫn chỉ là một xă hội như xưa nhưng tha hoá, trắng đen đổi thay, kẻ hèn thành sang, kẻ giầu mất cơ nghiệp cho một bầy quan lại, tập đoàn của những kẻ đeo mặt nạ mới giầu mới sang. Lịch sử năm mươi năm qua của đất nước chúng ta chỉ gỏn gọn kết luận bằng một cái xác đông lạnh, nằm cứng trong cái nhà đá mà không ai c̣n muốn nghĩ tới.…

 

Hai năm sau, anh hăy t́m lại tôi …Tôi sẽ sẵn sàng theo anh để trở về thành thị,với xă hội loài người…Tôi sẽ phục sinh.Tôi sẽ trở về mang theo bản thảo quyển truyện. Quyển truyện hàm chứa và giải tỏa những ám ảnh, những  ước mộng không thành, những dục vọng tội lỗi của thể xác và những ham muốn không thổ lộ của ḷng tôi…

 

Bác sĩ Tâm đứng lên, chậm răi lại gần Trí như muốn nói một điều ǵ….Nhưng hồi lâu vẫn im lặng.

 

Màn Cảnh từ từ hạ

      

      

 

Cảnh Hai

 

Màn Một

Vẫn sân gạch trước ngưỡng  cửa nhà ba gian của Trí. Có một hai tiểu tiết đổi thay, như trên bậc gạch thềm nhà, nay có vại  nước mưa và ngay gần vại có cái chậu sắt rửa mặt.

 

Khi màn cảnh mở lên, Hạnh, cháu gái nội hai mươi mốt tuổi của bà Cả, đang ngồi tư lự và đọc một bức thư.

 

Hạnh: “….Tối nay, anh viết tiếp bức thư này cho em đây. Anh viết ngồi trong xe tải, đỗ ở ngoại ô Vọng Các. Sáng mai anh sẽ lái xe đi góc biên giới Lào-Thái-Miên…Xe anh nay đă mang bảng số Cao-miên và có một người miên nằm ẩn trong đống hàng. Anh ta và anh, mỗi người đều có một khẩu súng dấu một góc nhưng vẫn vừa tầm tay. Công ty Vận Tải Xuyên Đông Dương nói trước với anh rồi: cứ nhắm mắt chở hàng từ Bắc tới Nam, qua Cao-miên rồi tới Thái và chở về. Chở  đi chở về ǵ, anh không nên biết.      

 

Nhưng Hạnh ơi, anh không bao giờ  xa em. Nếu anh phải đi qua đèo cao và rừng rộng để có thể trở về sống bên em,”có điều kiện” mang em về sống bên anh, chúng ta có nhau dưới một mái nhà với hạnh phúc b́nh thường của trần gian, anh sẽ đi .

 

Mà em có bao giờ rời xa anh đâu. Vẫn em đây bên anh và đang cho anh một cái hôn nồng trên má. Vẫn thân ḿnh em đây lả lướt, kiều diễm và mong manh như đời người »...

 

Trí chợt đi từ góc vườn vào sân gạch. Trí đi chân đất, áo sắn tay quần sắn ống. mang trên vai cái cuốc.Trí để dựng cái cuốc bên sân và ngạc nhiên đi lại gần.Hạnh vội cất bức thư và đứng lên.

 

Hạnh: Kính  chào ông ạ.

 

Trí: Cháu là ai vậy?

 

Hạnh: Dạ,cháu là cháu nội của bà Cả. Cháu tên là Hạnh.

 

Trí không trả lời, đi đến bên vại nước mưa múc một chậu nước.Trí rửa mặt và hai tay  rồi chậm rải tự lau bằng một khăn bông trắng. Xong xuôi,Trí đi ra ngồi trên ghế tre.

 

Trí: Vậy sao?  Ông   đi đám ma bà Cả mà ông không nhớ thấy cháu….

 

Hạnh: Thưa ông chắc tại cháu mặc tang phục. Cháu cũng lại luôn luôn ở sau nhà lo giúp việc ma chay.

 

Từ khi bà cháu mất, cháu vẫn muốn sang tŕnh ông để ông có cần ǵ, cháu có thể thay bà cháu làm được.

 

Nhưng nay, cháu sang để xin chào ông v́ ngày mai cháu sẽ đi Hà-Nội học lớp huấn luyện y tá ở trường chuyên nghiệp tổng hợp.

 

Trí không trả lời, nhưng đăm đăm nh́n Hạnh. Hạnh bỗng ngượng nghịu  như bắt buộc phải thổ lộ một điều ǵ.

 

Hạnh: Vâng thật cháu cũng là muốn đi Hà Nội, ở gần gia đ́nh anh Tuấn.Cháu  rất lo ngại và muốn biết tại sao bốn năm tháng nay cháu không có tin tức ǵ của anh Tuấn cả…

 

Khi trước, cháu có theo giúp bà cháu sửa soạn cái nhà này để chờ ông về.Bác sĩ Tâm cũng gửi đến một thùng sách, nói bà cháu phải dọn ra , chải bụi rồi xếp trên kệ, cũng là để khi ông về đây có sẵn sách đọc cho khuây khoả.

 

Cháu phải xin lỗi ông là cháu đă tự tiện lấy ra đọc nhiều…Đặc biệt, cháu đă mạn phép đọc mấy quyển truyện của ông.

 

Trời ơi, ông viết truyện hay quá…Đọc quyển nào xong, cháu bao giờ cũng ngậm ngùi và nuối tiếc. Cháu cảm thấy đời người sao nó đẹp và buồn thế…Nó như ḍng sông Đà kia lung linh phản ảnh những đám mây hồng, những đám mây đen, bầu trời vời vợi khi xanh khi mù mịt giông tố…Nhưng rồi ḍng nước vẫn cứ lẳng lặng chảy, bồng bềnh mang theo những cánh hoa bèo ra biển rộng.

 

Các truyện t́nh của ông đều ngắn gọn, buồn và thấm thía.T́nh yêu như là một bông hoa vội nở và tàn trên ḷng bàn tay để rồi vĩnh viễn chập chờn trên một hành tinh nào của hoàng tử Bé…

 

Thưa ông….T́nh yêu,hạnh phúc có thể có hay không?…

 

Trí bỗng nh́n Hạnh ṭ ṃ và kinh ngạc.

 

Trí: Hạnh năm nay cháu bao nhiêu tuổi nhỉ?

 

Hạnh: Cháu hai mươi mốt tuổi ạ. Hè năm trước,cháu đă thi tốt nghiệp trường trung học phổ thông của xă.

 

Trí quay người nh́n ra xa phía chân trời.Trí bắt đầu nói chuyện như may mắn gặp một người để đàm thoại…nhưng có lẽ Trí nói chuyện không phải với Hạnh mà nói chuyện với chính ḿnh, như Trí thường làm trong những tháng gần đây.

 

Trí: Thế nào là hạnh phúc, thế nào là t́nh yêu?…Đêm qua, ông có mộng tới t́nh yêu…

 

Giấc mơ ǵ nhỉ?…

 

Tôi mơ thấy tôi đang ngồi trong một quán nước con cóc ở dốc Hàng Kèn…Hà Nội, tối mùa đông không ánh đèn…Ngày hôm qua, máy bay giặc Mỹ đă thả bom xuống khu Khâm thiên, bên kia hồ Thuyền Quang, cả một dăy phố bị tàn phá với khá nhiều nạn nhân bị thương và tử vong.

 

Ngoài trời mưa đổ, quán le lói một ngọn đèn dầu. Dưới mái nứa, tôi ngồi như ngồi xổm trên một viên gạch nh́n nước mưa  dột chảy trên bàn tre… Tôi đă uống cạn chén cà-fê nóng rồi, thầm rót vào chén không một chút quốc lủi…Tôi nhớ nhấp nháp chút rượu và thấy ấm cả người. Tôi c̣n nhớ đă tự hỏi: Ơ ḱa, quốc lủi này sao có vị thơm nồng êm dịu như  Martell XO vậy?

 

Chỉ khi đó, tôi mới có tinh thần ngửa mặt nh́n ra đường phố, đường Bà Triệu…tám giờ tối nhưng vắng tanh, tối đen mù mịt dưới nước mưa, không một bóng xe hay một bóng người qua lại. Đói bụng quá, nhưng tôi biết giờ này không có cách nào t́m ra một cái ǵ ăn…Tôi đành tự rót thêm chút rượu.Uống cạn chén thứ hai, tôi mới biết có người ngồi bên kia bàn trước mặt.Trong ánh đèn dầu le lói, hay qua một luồng sét đánh tôi bỗng nhận ra chiếc bóng người và nói nhẹ:”Ḱa anh Quốc”…H́nh như Quốc có hỏi lại làm sao tôi biết anh.Chắc phải thế,v́ tôi nhớ có nói tiếp:”Anh không biết chứ, tôi vẫn thường nghĩ tới  anh”.

 

Tôi vẫn thường nghĩ tới anh, anh Quốc ơi ! Bố anh là ông chánh án Toàn, được hưởng bổng lộc theo ngạch Pháp…Nhà của gia đ́nh anh là  biệt thự đồ sộ, bây giờ là của một cán bộ cao cấp trong đảng, nằm ở bên kia phố. Anh hơn tôi bốn tuổi. Năm anh mười sáu tuổi, anh học lớp đệ nhị trường bưởi.Gần cuối năm học th́ đảo chánh Nhật-Pháp mồng 5 tháng 3 năm 1945…Rồi từ đó, anh không bao giờ trở lại trường học. Anh học trường đời.Anh ngồi nhà trong căn pḥng sang trọng của anh,với cài bàn giấy to và quyển tự điển Larousse thật lớn, anh ṃ mẫm tự đọc những bản Pháp văn của báo Cứu Quốc, anh đọc Guy de Maupassant, anh đọc Lettres de Mon Moulin của Alphonse Daudet….

 

Một mẫu truyện cứ ám ảnh anh hoài là “Ngôi Sao của thằng bé du mục”, trong quyển của Alphonse Daudet. Phải, truyện một đêm nào mưa băo sấm sét ở dưới thung lũng, một nàng tiên, một cô gái đă lên cao đây tiếp tế cho du mục, đành phải ở lại, ngả đầu thiêm thiếp ngủ trên vai cậu bé. Cậu bé du mục nh́n lên bầu trời không vẩn một đám mây, lấp lánh sao Hôm, cũng tưởng thật có một v́ sao lạc xuống trần rơi trên vai cậu…

 

Mùa thu 1946, chiến tranh kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Anh t́nh nguyện vào đoàn thanh niên tự vệ của Hà thành. Khi được lệnh tất cả phải sơ tán, ra khỏi Hà Nội, th́ đă quá trễ rồi, bọn lính Pháp với xe tăng đă đóng giữ dốc Hàng Kèn. Nhưng các anh em thanh niên tự vệ vẫn quyết định t́m cách thoát ra đi…Linh, bạn thân của anh, dẫn đầu  chạy băng qua phố Nguyễn Du để tẩu thoát về phía hồ bảy Mẫu. Nhưng Linh chưa kịp băng qua đă bị lính tây bắn cháy phổi, khói toả lên mồm lên mũi, nằm dài như đang hút ngạt ngào điếu thuốc cuối cùng của cuộc đời.Tiểu đội thanh niên tự vệ của anh đành phải ở lại  chờ sang đêm sau mới dám t́m đường chạy.

 

Gia đ́nh anh, cha mẹ và em gái, không ai biết anh sẽ t́nh nguyện bỏ ra đi kháng chiến chống giặc Pháp. Bữa cơm gia đ́nh chiều hôm ấy trong bóng tối vẫn nhẹ nhàng qua đi trong nỗi hoang mang của từng người. Sáu giờ chiều, anh đă trở về pḥng cố ngủ để chờ đêm.Trong khi anh nằm dài chờ đợi, ôm bao gối đựng một hai thứ anh tưởng là cần thiết như bàn chải đánh răng, quyển truyện  Guy de Maupassant mà anh đọc dở…..; nhưng mà rồi ra đi anh có mang ǵ theo đâu ! Đột nhiên Nhung, cô gái láng giềng, đă lặng lẽ vào pḥng anh, tự động trèo lên nằm bên anh và ôm anh, nước mắt ràn rụa. Nhung hơn anh một tuổi, cũng chưa biết ǵ của cơi ta bà này.Nhưng Nhung với anh đă ôm nhau và làm t́nh v́ sẽ măi măi phải xa nhau, như anh phải vội ôm trong ṿng tay một nàng tiên tục lụy, hay một v́ sao tội lỗi  bị sa đầy xuống trần thế.

 

Rồi anh ra đi ! Chính anh đă thầm khóc trong những đêm dài mỗi khi đoàn bộ đội ngừng chân ngủ vơng trong rừng sâu.Anh biết không bao giờ, không bao giờ có thể t́m lại Nhung nữa.

 

Rồi anh ra đi ! Trong mọi trận tuyến anh bao giờ cũng t́nh nguyện làm cảm tử quân như để có thể quên người anh đă  được âu yếm một đêm thôi.

 

Chuyện ǵ đến th́ phải đến.Cảm tử quân tiền phong đánh bốt đồn tây ở Điên Biện Phủ, một quả ḿn dă làm tan nát  thể xác anh, và đắm ch́m cả tâm thức của anh nữa.Trong giây phút trước khi quả ḿn nổ, anh có nghĩ ǵ?…..Hay chỉ bốn năm sau, khi anh b́nh phục trở về một phế nhân, anh ngồi gật gù trong một quán con cóc như  quán con cóc này đây, anh ngồi ngắm nh́n dinh thự của gia đ́nh anh. Nhưng bây giờ không c̣n là nhà của anh nữa, không c̣n ai ra chào mừng đón tiếp anh….Những người anh quen nay đă di tản vào Nam hay đă sang lập nghiệp bên Pháp như gia đ́nh anh, như gia đ́nh của Nhung.

 

Bây giờ ai cũng chỉ biết nh́n anh như một ông phế binh già nua, mất trí với một thể xác tàn bại, nhưng nào ai có biết nh́n ra cặp mắt anh sáng ngời,viễn vọng vào một chốn địa đàng của t́nh yêu và hạnh phúc. Nào có ai biết nhận thấy ra ở trên  mặt anh tiều tụy già nhiều trước tuổi nét  tươi trẻ của tuổi thanh xuân  mười tám trong t́nh yêu vĩnh cửu.

 

…………

 

Trí: Tôi nói ǵ chắc Quốc không nghe.

 

Anh vẫn ôm trong hai bàn tay chén cà-fê nhỏ, mà anh không  uống, chỉ giữ trong tay thôi như một bảo vật để cho anh đỡ lạnh, để cho anh đỡ cô đơn.

 

Tôi nói:”Đói quá,anh Quốc. Chúng ta đi t́m một cái bánh bao nóng nhỉ”.Quốc không trả lời, mà trời th́ đen như mực, không t́m đâu ra vầng trăng.     

 

Tôi  muốn nhoài người ra ôm nắm cánh tay anh và nói nhỏ cho anh biết về người t́nh của anh. Nhung đă sang Pháp năm 1947 và đẻ một đứa con trai, đặt tên là Quốc. Con trai của anh đấy !

 

Trong mười năm ở Paris, Nhung vừa đi học vừa đi làm, một ḿnh nuôi con.Nay Nhung đang hành nghề bác sĩ. Bây giờ Nhung cũng có chồng, một bác sĩ người Pháp.Hai vợ chồng có hai đứa con gái  xinh đẹp và cùng nhau sống rất hạnh phúc.Quốc ,con của anh, cũng đă học ra trường Học Đường Quốc gia Bách Khoa ở Paris . Nhung không bao giờ nói với ai về anh cả, ngay cả với Quốc, con riêng của nàng. Nhưng không biết bao nhiêu đêm, ngay cả đến khi Quốc đă mười hai mười ba tuổi, Nhung lẳng lặng vào giường con, nước mắt ràn rụa ôm Quốc vào ḷng. Và Quốc  ngây thơ, bỡ ngỡ không  hỏi mẹ ǵ, chỉ biết cũng thổn thức, rúc đầu vào ngực mẹ rồi ngủ thiếp ngon lành cho tới sáng….

 

Tôi nói xong, quay sang nh́n Quốc.Bỗng chỉ thấy mặt anh hào quang chói lọi sáng ngời…Tôi dụi mắt  tỉnh ra, hoá chỉ là một giấc mộng…Mặt trăng tṛn trên cao vằng vặc chiếu đầy gối….

 

Nói xong,Trí như tỉnh giấc, quay sang nh́n Hạnh.

 

Hạnh đứng yên  do dự, bỗng chạy đến, cúi xuống như gần quỳ, nắm bàn tay phải của Trí ép lên  má nàng nhem ngấn lệ.

 

Hạnh: Cám ơn ông…cám ơn ông đă trả lời cho cháu và c̣n cho cháu một bài học.

 

Trí vội đỡ Hạnh lên.Trí trong một giây  định giang hai tay ôm Hạnh, ... nghĩ sao Trí đặt bàn tay trái lên vai Hạnh và với tay phải vuốt nhẹ mái đầu của Hạnh.

 

Trí: Thôi, cháu lên đường nhé. Cháu có đôi mắt chân thành của t́nh yêu. Cháu có trái tim mở rộng chào đón cuộc đời. Cháu đi đi, t́nh yêu và hạnh phúc đang chờ cháu.

 

           

 

    Sân khấu ch́m dần vào trong bóng tối.

 

Màn hai

 

Hiện lên là cảnh nhà Trí dưới sáng trăng .Và Trí c̣n  đây, đứng nguyên tại chỗ như ở màn trước.

Trí động đậy, ngơ ngác nh́n quanh, nhưng không thấy Hạnh mà thấy Đại Đức Thích Tuệ Trung, ngồi kiết già trên thềm  gạch.

Cuộc đàm thoại dưới đây cũng có thể chỉ là  trong một giấc mộng  của Trí.

 

Trí: Con xin kính chào Đại Đức.

 

…..

 

Trí: Đă lâu không lên  tŕnh thầy …Con  thật  ân hận….Con bận làm  vườn trồng khoai, trồng đậu.

 

Con muốn lên đa tạ thầy. Hàng tháng thầy cho con lộc của nhà chùa.Con vừa nhận mười cân gạo, thế là con  có ăn trong hơn một tháng. Mong thầy không bận tâm.

 

 

Đại Đức: Thí chủ, ông nói sao vậy!  Ông    mới thật là ân nhân của làng Phước Đoài, xă Đông Hương này  …Ông đă ban phước lộc để chúng tôi tu bổ lại đ́nh và chùa…  

 

….

 

Đại đức:  Ông Trí, ông có biết tôi là ai không?

 

Xin thí chủ rủ ḷng từ bi..… Tôi là tướng ngụy bị bắt sống ở trận Xuân Lộc, trận cuối cùng của Mùa Xuân Chiến Thắng !

 

…..

 

Đại Đức: Tôi bị bắt và bị đày học tập mười năm ở rừng thiêng Lào Cai….Trở về, vợ con không c̣n nữa, nhà cửa  bị tịch thu…

 

….

 

Đại Đức: Khi tôi ở tù, gia đ́nh tôi  trốn vượt biên. Lần đầu bị bắt, vợ con nằm tù năm tháng, nhà cửa tài sản bị niêm phong…Rồi con gái đầu tôi phải làm đĩ, để cho gia đ́nh sinh sống và góp nhặt đồng tiền mua chỗ vượt biên lần thứ hai….Lần này, chuyến tàu gặp cướp, đàn bà con gái bị hiếp, rồi tất cả bị vứt xác dưới biển.

 

…..

 

Đại Đức: Đến bây giờ, tôi tự hỏi làm sao tôi vẫn sống….Không biết bao nhiêu năm, tôi tồn tại nhờ ḷng từ thiện của các thầy tu.Tôi mặc áo cà sa rách, trong túi mấy quyển kinh, tay ôm bát gỗ, tôi đi khất thực từ chùa này sang chùa khác, Sài G̣n Chợ Lớn,  ở mọi hẻm cùng…Nhưng dưới bộ cà sa nhà chùa, không phải là một trái tim tĩnh độ mà là trái tim tôi tràn đầy oán hận và căm thù…

….

 

Đại Đức: Một anh họ thương t́nh nhất định mang tôi ra Bắc để cho gia đ́nh anh nuôi dưỡng. Tôi nhận v́ từ lâu tôi ôm ấp một ư đồ, cái ư đồ  đă giúp tôi  tồn tại ở cơi trần đau thương này.

 

Tôi muốn t́m cách phá  cái lăng bằng đá, cái xác chết đông lạnh, tượng trưng tất cả những ǵ đă mang đến cho đời tôi thảm khốc, tượng trưng tất cả những ǵ đă từ lâu tôi chống đối và thù oán.

 

….

 

Đại Đức: Sau nhiều lần tôi cầu khẩn, anh họ tôi t́m được giấy phép đưa tôi lẫn vào với một đoàn con chiên đi thăm lăng .Tôi đi để t́m biết làm sao tôi sẽ thực hiện cái mưu đồ mà tôi ôm ấp măi trong tim.

 

Đúng là Đức Quan Âm rủ ḷng từ bi, tôi vào thăm lăng, đi ra ḷng tôi bỗng giác ngộ. Phải, tất cả chỉ là tầm thường  ảo tưởng.Tại sao,tôi phải bận tâm nhỉ, v́ một toà nhà đá ngoại lai vô thần, v́ một cái xác chết mà họ trát sáp rồi tô xanh  vẽ đỏ?

 

….

 

Đại Đức:    Nơi đây chỉ là một hí trường. Anh hùng, kỹ nữ đều là múa rối trong hí kịch trần gian, những người rơm bay bổng theo luồng gió của định mệnh !

 

C̣n tôi, nếu tôi đă có buồn đă có vui, nếu đời tôi có bao nhiêu là mất mát, nếu tôi mất vợ mất con…tất cả cũng chỉ là cái nghiệp của tôi trong ṿng tử sinh.Cái  cửa khổ mà  Đức Phật từ bi đă cho tôi sống để tôi biết đi qua, đi qua để đến cơi tịnh độ của tâm hồn.

 

….

 

Đại Đức: Nghĩ như vậy, hồn tôi phơi phới, mắt nhoà lệ của ḷng thiền, tôi đi lang thang ba mươi sáu phố của Hà thành, tôi đi t́m một cửa chùa để đốt một nhánh hương tạ Đức Quan  Âm .

 

Bỗng nhiên,có người níu áo tôi lại.Hoá ra là bác sĩ Tâm !

 

….

 

Đại Đức: Bác sĩ Tâm với tôi cùng học một lớp ở trường Bưởi.Chúng tôi đỗ bằng Tú Tài phần thứ nhất, th́ chưa một năm sau, đảo chính Nhật mồng 5 tháng 3, rồi chúng tôi cùng gia nhập đoàn thanh niên Cứu Quốc. Sau cũng cùng theo dân quân kháng chiến chống giặc Pháp, nhưng chúng tôi  mỗi người đi một ngả.    Năm 1950, cảm thấy bị đảng cộng sản Việt Nam sa thải v́ tôi là thành phần tiểu tư sản trí thức, và tôi cũng nhận ra rồi khi đó cái vô thần độc đoán của khoa học xă hội chủ nghĩa, với chính sách ngoại lai theo Tàu cải cách ruộng đất, phá đ́nh phá chùa, tôi đào ngũ trốn vào tề. Không những trốn vào tề, tôi c̣n t́nh nguyện gia nhập quân đội Quốc gia để chống đỡ cái nguy cơ của một chính thể vô thần, ngoại lai, chủ nghĩa Mác Lê-nin đầy mâu thuẫn vừa duy tâm vừa duy vật.

 

…..

 

Đại Đức: Bác sĩ Tâm tự động đưa cho tôi một số tiền rất lớn, nói tôi hăy xin ấn chỉ Đại Đức để về tu bổ và trụ tŕ chùa Vĩnh Tuệ, làng Phước Đoài này, quê hương của bác sĩ.Tôi lấy một nửa số tiền tặng ủy ban nhân dân của làng để họ sửa sang lại đ́nh, trụ sở của ủy ban và làm ǵ họ muốn,vậy nên tôi  được phép tu bổ  chùa Vĩnh Tuệ, bị đập phá bỏ hoang không biết bao nhiêu năm rồi.

 

….

 

Đại Đức:  Số tiền đó,bác sĩ Tâm cho tôi biết, là của ông tặng cho chùa .Chùa Vĩnh Tuệ nay đă sửa sang khang trang như ông biết, lại c̣n có ba mẫu ruộng để tự bảo  tŕ. Chùa ta càng ngày càng là nơi tụ lễ của cả xă Đông Hương.

 

Ông Trí ạ, ông là ân nhân của tôi,cuả làng và của xă.

 

Trí: Vậy sao?

 

Đại Đức: Ông về đây, nét mặt ưu tư như mang nặng một nỗi niềm.Có lẽ ông t́m một cái ǵ mà trần thế không đáp lại được.

 

Nếu một ngày nào, ông nhận ra cài phù phiếm của mọi việc, cửa thiền Vĩnh Tuệ sẽ là nhà của ông , một bến nước để đợi bè sang sông….

 

Trí: Con xin đa tạ thầy…Nhưng tâm con c̣n tục lụy…Một cánh bướm bay qua nhắc nhở một nụ cười, một tiếng chim ngang trời làm nhớ lại những dục vọng xa xưa, ḍng sông Đà phẳng lặng vô biên không rửa được nỗi ḷng con nuối tiếc.

 

                              

   Màn cảnh từ từ hạ.

      

                                          

 

Cảnh Ba

 

Màn Một

         

Cảnh đêm trăng trong sân gạch trước nhà ba gian của Trí. Khung cảnh nay thêm âm u cây mọc nhiều. Vẫn cái bàn tre, với ba chai rượu, và Trí cũng ăn mặc như trong cảnh một, lịch sự như hăy c̣n ở tỉnh, tuy nhiên Trí bây giờ thấy già hơn và chậm chạp  hơn.

 

Trí đứng mở một chai Chateauneuf du Pape, tự rót cho ḿnh một ly. Trí nhặt một bức thư  trên bàn và đọc to thật rơ ràng.

 

Trí: Thân gửi anh Tâm

 

Chúng ta đă hẹn nhau: hai năm sau gặp lại!

 

Gặp nhau khi tôi viết xong quyển truyện, quyển truyện nói về mặt trái của lịch sử, ảo tưởng của thời đại vô thần mà khoa học kỹ thuật chi phối, con người chịu đựng sao cái áp lực tàn bạo dă man của bọn quân phiệt và tài phiệt hiện đại có khả năng vũ khí cơ giới  tiêu diệt bất cứ ai , rồi cả chính bọn nó cùng với nhân loại.

 

Quyển truyện nói riêng về cửa khổ mà dân tộc chúng ta đă đi qua. Những xương máu đă rải rắc và để lại trên đường, những tuổi trẻ và t́nh yêu bị hy sinh, những bầu tâm trí nhiệt huyết bị nghiền nát, và tất cả chỉ đưa  đến một xă hội vọng ngoại hưởng thụ, vụ lợi, thời cơ , không chính  nghĩa.

 

Một quyển truyện tiêu cực, bi quan nhưng thật chỉ là tấm kính cho tôi thấy rơ cái lỗ hổng hư vô của ḷng tôi.

 

Hai năm đă đi qua…..Hàng ngàn chữ nhảy nhót trong đầu, nhưng tôi vẫn chưa viết một trang nào cho quyển truyện tàn khốc đó.

 

Xin đành hẹn lại anh, chúng ta gặp  nhau không phải trong hai năm mà trong mười năm vậy.

 

Anh Tâm ,anh có nghe thấy không tiếng rạt rào  trùng trùng nước xoáy   vào cái lỗ hổng đen của tâm hồn, và bên bờ vực sâu, tiếng dội của sự im lặng trong hố thẳm  của hư vô.

 

Thân mến hẹn anh.

 

 Trí

 

 

 

Trí vẫn đứng, chậm răi uống hết ly rượu. Trí nhặt bức thư thứ hai và cũng đọc to thật rơ ràng.

 

Trí: Thân gửi anh Trí

 

Khi anh đọc thư này th́ tôi đă lên đường đi về cơi bên kia.

 

Đă năm năm qua từ đêm trăng uống rượu cùng anh. Chờ năm năm nữa đề được cùng anh nâng ly rượu, ông trời  không cho phép  tôi chờ lâu như vậy nữa.

 

Kể tôi hơn anh nhiều tuổi, nếu bây giờ tôi phải đi thật xa, th́ cũng không có ǵ là đáng phiền muộn. Chỉ tiếc là không được gặp lại anh. Nhưng anh biết, ra đi mà đến những giờ phút cuối cùng  tôi vẫn thầm nghĩ tới anh, một tâm hồn  tuyệt đối chính trực và chân thành hoài băo nhưng đă gợi cho tôi bao nhiêu khắc khoải suy tư.

 

Tôi chỉ có duyên gặp anh ba lần. Mỗi lần ra về, tôi vội viết mấy  cảm nghĩ, những điều tôi muốn nói cho chính anh nghe. Nên tôi xin gửi những trang viết đó kèm theo thư này, với ba chai Chateauneuf du Pape, để anh nhớ lại đêm cuối cùng chúng ta cùng uống dưới trăng. Vậy anh uống đi và đọc ba trang viết đó như là chúng ta vẫn c̣n đang thảo luận dông dài trong một cơi mà anh gọi là “cơi ta bà ô trọc ”.

 

Số tiền anh gửi vào tài khoản của tôi, tôi đă chi độ một phần ba theo như anh muốn, chỗ c̣n lại nay nằm trong tài khoản của con gái tôi. Tôi biết anh không cần đến nó, nhưng nhỡ một ngày nào anh cần  sử dụng theo ư muốn hay  trở lại với người đời, th́ cũng có sẵn đấy để anh thêm dễ dàng thích ứng với  đời thường.

 

Thân ái vĩnh biệt anh.

      

Tâm

 

 

Đọc xong, Trí ngồi xuống trên ghế tre, rót thêm cho đầy ly rượu. Chậm răi, anh cầm lên mấy trang giấy viết của bác sĩ Tâm và nh́n lên trời.

 

Bỗng thấy bác sĩ Tâm đứng xa xa như cái bóng ở trước mặt Trí. Bác sĩ Tâm đọc những trang viết…

 

Bác sĩ Tâm: Anh Trí, tôi viết trang giấy này đây trên chuyến tàu bay từ Paris về Hà-nội. Chỉ mới đêm qua nhỉ, chúng ta đi lang thang trong thành phố Paris hoa lệ. Chúng ta trèo lên tận Montmartre chờ rạng đông rồi mới chia tay…Tất cả đối với tôi như là một giấc mộng hoang đường.

 

Chỉ cùng ăn một bữa cơm tối ở nhà một người  quen, anh đă chấp nhận ngay tôi để chúng ta cùng đi trong một cơi huyễn tượng của trần gian (nghĩ lại, Paris đối với tôi thật là như thế !).

 

Có lẽ v́ anh biết tôi là một người cộng sản ở Việt Nam, chỉ đi qua thăm âu châu mấy ngày, nhưng đă đọc những tác phẩm của anh.Và có lẽ tôi lại c̣n nói mấy câu chứng tỏ tôi thông hiểu và cảm phục. Chính  trong thâm tâm anh, tôi biết, anh vẫn nghi ngại, sợ rồi đây những ǵ anh viết sẽ mai một, ch́m đắm vào lăng quên,…không phải rằng anh không tin ở giá trị của chính ḿnh, nhưng trong một xă hội của dân tộc chúng ta, vàng thau lẫn lộn, văn học  Việt kiều th́ ấu trĩ, văn học ở trong nước th́ tù hăm, kiểm duyệt để tiếp tục mụ dân, duy tŕ miếng ăn cho một bọn bất tài, tiếng nói của anh với những t́nh cảm rất Việt Nam chỉ vang vọng vào hư vô. Nhưng không, anh Trí ạ, số người đọc những tác phẩm của anh và cảm thông nhận định giá trị chính đáng, số người đó rất nhiều. Dù sao, bao giờ cũng có mấy thước đất ph́ nhiêu để duy tŕ hạt  mầm  của những tài hoa bất tử.

 

Nhưng chính thật, chỉ v́ anh là một người nghệ sĩ rất cô đơn.Trong thế gian này, anh luôn luôn lắng nghe, nhưng được bao nhiêu người biết lắng nghe và họ nhiều khi không lắng nghe cả chính ḿnh, để sáng nói trắng chiều nói đen.

 

Tất cả những điều như vậy đă cho tôi diễm phúc làm bạn tri âm của anh trong một đêm, cùng anh lang thang bờ tả sông Seine, rồi từ tháp Eiffel đi bộ thẳng lên Montmartre…Chúng ta h́nh như nữa, cùng đi t́m kiếm một cái ǵ. Một cái ǵ, chính anh và tôi đều không biết !

 

Phải, anh phủ nhận cái tráng lệ của những đường phố chúng ta đi qua. Anh phủ nhận cái xa hoa cổ kính của thành phố, v́ tất cả theo anh đều nằm trong một nền văn minh tuyệt vọng. Người ta nói đến nhân bản, nhân quyền, ḷng nhân đạo,….nhưng tất cả cái tráng lệ này đều chỉ là che lấp cái trống rỗng phi nhân t́nh của khoa học kỹ thuật, thực tiễn vụ lợi. Anh nói :”Trời ơi ! Chúng nó đă có những quả bom chất nổ có thể xoá bỏ thành phố này trên trái đất. Không phải là bom nguyên tử, v́ bom này sẽ ô nhiễm cả hành tinh, nhưng bọn nó có biết đâu chúng nó đă ô nhiễm từ lâu rồi chính tâm hồn chúng nó, với con dao vũ khí đe doạ mà chúng nó tự treo trên cổ, và trên đầu của mỗi người chúng ta. Bọn nó muốn chúng ta mỗi người phải nghĩ theo chúng nó và phải sống cho chúng nó !”

 

Anh nói hăy nh́n lên bầu trời, cố thấy trăng sao thấu qua  ánh đèn rực rỡ của thành phố ánh sáng này, để đừng có quên chúng ta.

 

Rồi chúng ta đi theo những dăy cột đèn vàng của thành phố, dưới một bầu trời vằng vặc sao, chúng ta cùng bàn thế sự và t́nh đời. Rồi tôi lắng nghe anh nhiều khi như anh đang độc thoại; tôi thầm nghĩ tới Dũng trong truyện “Tội lỗi của Dũng”, truyện anh viết cũng đă lâu rồi đấy nhỉ ! Dũng vừa là hoạ sĩ và vừa là nhạc sĩ.Tôi nghĩ ở Dũng có hai khía cạnh: Bùi Xuân PháiTrịnh Công Sơn….Là nhạc sĩ, Dũng có những bài ca nhẹ nhàng đi thẳng vào ḷng người. Dũng ca cuộc đời, ca thiên nhiên trong ánh sáng của tuổi trẻ, qua mục kính của tâm hồn trong sáng. Nếu những bài ca t́nh yêu của Dũng mang một thi điệu buồn sâu lắng, th́ đó cũng chỉ là nỗi buồn trong cái cô đơn h́nh nhi thượng của phận người trong  ṿng tử sinh…Trái lại những bức tranh của Dũng th́ khúc chiết, mănh liệt ảm đạm đơn thuần một màu. Dũng vẽ những phố cụt không người ,những mái nhà, những bức tường tàn phế của sự im lặng. Nhưng bên ŕa những ngơ cụt, sau những mảnh tường vôi vỡ   ẩn kín những mẩu đời bi thương, tuyệt vọng trong cái khốc liệt của xă hội loài người. Quyển truyện của anh đă xây dựng sắc xảo trên hai khía cạnh mâu thuẫn đó của Dũng trong nghệ thuật.

 

Anh Trí, anh là nhà văn, nhưng thật anh cũng là thi sĩ. Mà nghệ thuật nào lại chẳng có thi ca ! Nhưng ở anh, nó  là một mâu thuẫn. Khi anh viết những lời văn nhẹ nhàng, nhịp điệu thâm trầm như một bài thơ, th́ anh thả trái tim anh hồn nhiên bay bổng, yêu người yêu vật trong cái t́nh thương bao la với trời đất. Nhưng truyện của anh, suy tư và lư luận, bao giờ cũng là nói ra một thái độ phẫn nộ trước xă hội, trước con người.Là thi sĩ, anh ước mộng một địa đàng nhân loại, những t́nh yêu tuyệt đối…Nhưng người văn sĩ trong anh gào thét, đập phá, không chịu được  cái tầm thường xấu xa của xă hội, cái nhỏ nhen của con người. Anh luôn luôn mang cái mâu thuẫn đó như một gánh nặng suốt đường đời. Có lẽ v́ thế chắc anh đă phải nhiều lần cực đoan tàn bạo để rồi sám hối  một  tội lỗi, giữ một vết chàm   đen in sâu trong tâm hồn .

 

Ngồi trên chuyến bay về Hà Nội, tôi nhớ anh vô cùng.Tôi cầu mong anh sẽ biết  tự tha thứ, và nh́n lại trần gian với đôi mắt bao dung cho người và cho chính anh.Tôi mong anh chấp nhận cuộc đời và  đặt niềm tin vào nhân loại…

 

Ánh sáng trên sân khấu mờ đi, bác sĩ Tâm biến vào hậu trường. Chỗ Trí ngồi hiện lên rơ ràng trong ánh trăng, Trí nâng ly rượu, và chậm rải trở ra  trang viết khác.

 

Bác sĩ  Tâm bỗng lại hiện  ra như cái bóng trước mặt Trí.

 

Bác sĩ Tâm: Tờ mờ sáng hôm nay, tôi đi đón Trí ở Nội Bài, anh từ Paris bay tới.Tuy anh sinh đẻ ở Hà Nội, và bao nhiêu năm rồi xa đất nước…, anh không muốn ngừng lại ở Hà Nội mà lại muốn tôi đưa anh thẳng ra Hoà B́nh, tới làng Phước Đoài với căn nhà ba gian, tôi đă sửa soạn cho anh bên bờ sông  Đà. Không biết anh nghĩ ǵ?

 

Anh là người xa cách quê hương đất nước từ thuở c̣n thơ, nhưng  vẫn luôn luôn tưởng nhớ đến xứ sở này; tất cả học vấn của anh, trong khoa học và trong văn học,  đều đă được trau rồi ở nước Pháp, nhưng trưởng thành, anh chọn viết văn bằng tiếng của mẹ đẻ….Trên xe ra Suối Rút, Hoà B́nh, anh không nói một lời, chỉ lặng lẽ ngồi, mắt nh́n ra xa, nh́n theo những cánh đồng, những rặng tre xanh, những người nông phu tất bật trong nắng sớm, giữa những mái nhà tranh, hay trên những con đường đất…Tôi lim dim ngồi im; tôi không muốn làm tỉnh anh đang ch́m đắm trong một ḍng suy tưởng. Sau bao nhiêu năm, sau gần cả một đời người, lần đầu tiên anh nh́n lại cảnh vật của quê hương  đất nước! Anh suy tư ǵ tôi không biết, nhưng tôi có cảm tưởng  rằng nếu tôi kêu anh tỉnh ra khỏi ṿng ḱm hăm trầm tư, anh có thể gục đầu vào hai bàn tay mà  nức nở khóc như một người đă mất một cái ǵ rất thiêng liêng của cuộc đời, hay cũng như một người chợt t́m lại được một cái ǵ mà suốt cả đời ḿnh, ḿnh nuối tiếc…

 

Tới làng Phước Đoài, tới căn nhà ngói ba gian của anh, anh trở nên hớn hở hồn nhiên. Anh nói huyên thuyên mọi chuyện; có lẽ anh c̣n nghêu ngao tự hát nữa…Anh không biết mệt, anh đ̣i tôi dẫn anh thăm từng ngơ hẹp của làng, trèo lên thăm chùa Vĩnh Tuệ, rồi ra bờ sông Đà để anh nhảy xuống sông tắm lội trần truồng như trẻ con…Măi đến gần đến trưa, anh mới chịu về, nằm thiêm thiếp nghỉ trên vơng.Tôi ngồi đọc báo và nh́n anh.Chúng ta chờ nồi cháo gà, bữa cơm trưa của bà Cả.

 

Nồi cháo đă dọn lên.Tôi không lay anh dậy, ngồi yên nh́n anh hai mắt nhắm…Anh ngủ hay anh thức?… Mặt anh dịu dàng, non trẻ. Trời ơi ! như không có một lần tội lỗi. Có lẽ chăng, có lẽ nào chăng?… Anh đang say giấc mộng của cụ Lưu, truyện ngắn đầy chất thơ  của anh.

 

Cụ Lưu cả đời chống đối, khi th́ chống chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp, khi th́ chống giặc phát xít Nhật ăn cướp gạo của dân, rồi sau  chống cả chính quyền xă hội chủ nghĩa tố khổ dân làng. Cụ Lưu bị lưu đầy năm này sang năm khác, cho đến khi cụ hơn bảy mươi tuổi mới được về làng.

 

Hôm cụ về, cụ nhận ra ngay cây đa đầu làng, xung quanh cây cổ thụ khi c̣n trẻ thơ cụ chơi ú tím với thằng Bườm, thằng Bím, thằng Năm, thằng Sáu…Đi mấy trăm thước nữa, cụ t́m  ra  bờ giếng; cái giếng nước trong, đă có một hôm cụ nhảy vào, suưt chết đuối nếu không có anh Cả đi qua vớt cụ lên…Rồi đây này con đường làng gập gềnh đá phản, một bên là rănh nước, với những bụi gai, khi mùa nước lụt của đồng chiêm, rắn cuốn ḿnh nằm trên những góc gai, cụ đứng ngẩn đếm không biết bao nhiêu là con. Cũng bên đường làng đó, có bức tường nhà của Quư, con gái của ông Bá; Quư hơn cụ cả một đầu, nhưng mỗi khi nó đi qua, cụ mê lịm như bị hút mất hồn.

 

Sau cùng cụ t́m đến đ́nh làng, cụ thấy ngay cái chiếu điều trải trước bàn thờ thần làng, cụ ngả ḿnh ra để nghỉ như một ngày nào…Cũng trên cái chiếu này, ngày ông thân sinh cụ lên hương lăo, làm cỗ khao làng. Có gánh chèo, có bầy quan họ  về hát cho các cụ. Cụ Lưu, mới lên năm, nằm  trên chiếu chính, bên ông thân sinh, nhưng chưa nghe ba câu cụ đă ngủ thiếp. Tỉnh ra hội làng đă tan, xung quanh không tiếng động và không bóng người, chỉ một ḿnh cụ ngủ giữa đ́nh  trong chiều hè nóng hanh. Mở mắt ra, rất lạ là cậu bé  không hoảng sợ, cứ nhắm mắt lại ngủ tiếp trong giấc mơ huyền diệu của cuộc đời…

 

Sự thật là ngày cụ Lưu về làng, hôm sau người ta t́m ra thấy cụ nằm khuất trong một góc,  thềm gạch  trụ sở của Uỷ Ban Nhân Dân .Cây đa làng ngày xưa đă bị nhổ rễ, giếng nước cũng không c̣n nữa trong kế hoạch thủy lợi của tỉnh. Đ́nh chùa xưa đă bị đập phá. Qua bao nhiêu năm tang điền thương hải, làng  xưa của cụ đă mất rồi ! Nên cụ quyết định vĩnh viễn ngủ triền miên trong giấc mộng.…

 

Nhưng mà anh Trí ! Tôi ngạc nhiên  v́ chợt đă thấy anh đứng lên , ra ngồi vui vẻ chia cùng tôi nồi cháo gà. Sau anh c̣n nhất định đưa tiễn  tôi đi đến tận xa lộ, lên xe quay về Hà-Nội.

 

Trên đường đất chúng ta cùng đi, mặt anh trở lại trầm tư khép kín, mang mang một vẻ u sầu. Nỗi buồn của một kẻ vĩnh viễn từ giă người yêu, nỗi buồn của một kẻ bỏ lại đằng sau cả đời ḿnh,…. để sửa soạn đi vào trong lăng quên?

 

Anh Trí, anh biết tôi là đảng viên của đảng Cộng Sản Việt Nam. Anh cũng thừa biết đă là  dân quân Cứu Quốc, tôi không có cách ǵ từ chối  một khi tôi đă được đề nghị vào đảng. Dù sao, với cái thẻ đảng viên đó, tôi mới được tuyển vào quân y và sau c̣n được sang học tu bổ khoa giải phẫu ở Liên Xô, để về làm công tác cho đến bây giờ ở bệnh viện Việt Xô. Nhưng vào đảng không phải là tôi đă tuyên thệ từ bỏ những đạo lư làm người  và những tín ngưỡng tôi đă thụ hưởng từ cha ông. Tôi trong thâm tâm vẫn thường cầu Đức Phật Quan  Âm   và tôi tin rằng những lời kinh cầu thầm kín đó đă giúp tôi nh́n đời thanh thản và độ lượng, đă cho phép tôi vượt  những gian nan thử thách, sống  qua một thời đại lịch sử trầm luân tàn bạo của quê hương đất nước …

 

Tôi nhớ anh đă từng viết trong một đoạn văn rằng nếu tất cả lời van xin thống khổ của trần gian, thu gọn vào chung một đợt sóng, th́ con sóng âm thanh đơn độc đó sẽ đủ lớn mạnh để làm tan vỡ tất cả những nhà thờ Đức Bà trên trái đất, như thế mà thượng đế vẫn im lặng trước khổ năo đau thương của loài người;…trước sự lạnh lùng vô tâm của thượng đế, chúng ta cũng chỉ c̣n biết trả lời bằng sự im lặng khinh mạn, ngạo nghễ của tâm hồn….

 

Không ! Anh Trí ạ,sự im lặng của Phật, của Chúa là cho phép chúng ta mỗi người có tự do biết tự t́m ra khung cửa hẹp hay con đường qua ải khổ dẫn đến vùng đất hứa của t́nh thương,….của thanh b́nh trong lăng quên .

 

Một người! Ai nào dám ngạo mạn tự cho ḿnh quyền uy trí tuệ biết ra thế nào là t́nh yêu, thế nào là hạnh phúc… Như anh đă nói, cái ngu xuẩn của thời đại này là nhân loại đ̣i tranh quyền với thiên nhiên (c̣n tôi th́ nghĩ, với thượng đế). Chúng ta chỉ có thể nh́n ra xa nữa, hiểu ra sâu nữa trong cái vũ trụ bản thể  hiện sinh nếu chúng ta biết thành tâm khiêm nhượng  trước cái vô biên của vũ trụ  (trước toàn năng tối cao của thượng đế!).

 

Tôi mong rằng anh sẽ t́m ra lại cái yếu đuối của chúng ta trong tuổi ban sơ của nhân loại, cái tín ngưỡng vào con người và vào thần linh, cái tín ngưỡng của những hiền triết  Hy Lạp ngày xưa, mở cửa cho trí tuệ  loài người. Sự tin tưởng ở một đấng tối cao, ở một đức Phật, sẽ an ủi anh trong những đêm dài cô đơn, đối chiếu với chính ḿnh. Đại đức Thích Tuệ Trung, của chùa Vĩnh Tuệ, có thể giúp anh đi trọn đoạn đường này của cuộc đời.

 

 

Màn cảnh như tối thêm…Chỗ ngồi của Trí lại sáng rơ  dưới ánh trăng. Bóng bác sĩ Tâm đi từ từ vào trong vùng ánh sáng .

 

Bác sĩ Tâm: Anh Trí, anh đă từng viết: t́nh yêu là một áng mây trôi, hạnh phúc là một khoảnh khắc mầu nhiệm… Tất cả là nằm trong một sát-na linh thiêng. Nếu chúng ta có diễm phúc bắt gặp phép màu đó trong đời và chúng ta biết thành tâm đón nhận và tôn quư, th́ cái giây phút đó, ôi ! bao nhiêu ngắn ngủi, vẫn để lại cho chúng ta măi măi một ngọn đuốc lung linh chiếu tỏ cho tất cả quăng đời c̣n lại. Nhưng nếu trái lại, chúng ta ngu tối không biết nhận ra cái thần diệu của t́nh yêu, cái mong manh của hạnh phúc, chúng ta chà đạp và từ bỏ, th́ cả đời chúng ta sẽ chỉ là một hối  tiếc, chúng ta sẽ mang trong tâm hồn một hố thẳm của tội lỗi.           

 

Một thiên nga đă đến đậu trên vai anh. Một nàng tiên, lạc trần thế, huyền diệu cao sang và đài các, đă dâng trái tim nàng, ban tặng anh trái cấm của t́nh yêu và  đưa anh đi t́m cây xanh của hạnh phúc. Nhưng anh, nhưng anh c̣n mải truy hoan tục lụy lăng phí xuân xanh, anh c̣n muốn từ bỏ thế giới của t́nh người để mù quáng xây dựng một thế giới riêng tư lư trí ảo tưởng, cực đoan không thực.Anh đă không biết tôn nghiêm đón nhận phép màu chợt đến chói lọi trong đời anh. Anh chà đạp một trái tim, phá hại một cuộc đời, để giờ đây trong tâm hồn anh có một vết lăn trầm sám hối,  lỗ hổng đen của hư vô.

 

 

Bóng bác sĩ Tâm  lại đi ra xa, trở về chỗ cũ trong bóng tối, trước mặt Trí.

 

Bác sĩ Tâm: Suốt đêm qua, uống rượu cùng Trí dưới ánh trăng. Trên xe trở về Hà Nội, tôi buồn rười rượi.Tôi gặp anh như thế chỉ có ba lần ! Nhưng trong ḷng, tôi linh tính sẽ không bao giờ c̣n được gặp anh nữa. Không bao giờ nữa, chúng ta c̣n nói chuyện dông dài. Không bao giờ nữa, tôi c̣n được nghe anh nói về những  ước mộng ngày xưa, những bất hạnh của cuộc đời, nỗi  tuyệt vọng trong thân phận làm  người !

 

Những lời anh nói bao giờ cũng hàm chứa một sự thật tiên tri nào đó, đượm một triết lư sâu xa làm tôi  suy tư …Nhưng anh phải thừa nhận rằng anh quá cực đoan trong cái nh́n của anh vào xă hội loài người, vào  lịch sử  của chúng ta, một cái nh́n  bi quan và tiêu cực.

 

Này anh nói, muốn biết tương lai của con người trên vị hành tinh trái đất, th́ chúng ta cứ nh́n vào Mỹ Châu Hiệp Chủng Quốc. Đệ nhất cường quốc, xă hội tiền phong của nhân loại ! Nhưng tất cả chỉ là vô thần, một tập hợp  ch́m đắm trong hưởng thụ xa hoa phù phiếm rẻ tiền, bọn nó xây dựng những lâu đài, những cao ốc chọc trời bằng sắt và bằng nhựa để rồi sụp đổ tan vỡ trong tội lỗi (phải,v́ chúng nó chiếm đoạt tài nguyên của nhân loại) và hận thù (phải,v́ muốn chiếm đoạt, chúng nó phải đàn áp ức hiếp những dân tộc, những quốc gia  đuối  hèn).

 

Rồi anh nói, dân tộc chúng ta đang vọng tưởng đến một cái ǵ? Chúng ta đang vọng tưởng đến xă hội vô thần đó ! Sau hai ngàn năm lịch sử, sau nửa thế kỷ vừa qua trong đau khổ và hy sinh xương máu -xương máu của những con em, những tâm hồn tuyệt vời trong trắng- chúng ta có một đất nước vọng ngoại, quên bản thể, mất ḷng thành để đi t́m lư tưởng cho sự thể hiện của chính ḿnh…

 

Anh  muốn đến làng Phước Đoài ngồi viết một quyển truyện trong cái nh́n bi quan tiêu cực về số phận con người và lịch sử của đất nước chúng ta, một quyển truyện  để giải toả sự tuyệt vọng của ḷng anh. Không, anh Trí ạ ! Làm sao anh tự giải tỏa nỗi trầm lặng u uẩn của ḷng ḿnh, khi tất cả sầu lắng đau thương  toàn bộ quyển truyện mà anh muốn viết  là vang vọng tự cái huyệt đen tối của tâm hồn. Không ! Tôi nghĩ anh thật không có ư định viết quyển truyện tàn khốc đó, mà chỉ muốn xây dựng  tháp ngà để anh ở lại, từ bỏ thế giới bên ngoài, trong  im lặng và lăng quên.

 

Những truyện, những lời văn anh đă viết, luôn luôn gào thét và phẫn nộ trước bất công của xă hội, trước tàn bạo của lịch sử và con người để cho t́nh yêu vội vỡ và bao cuộc đời phải khổ đau.Tuy nhiên tất cả những tác phẩm của anh bao giờ cũng ẩn kín một t́nh người , một hoài băo cao xa  và lắng đọng  trong ḷng người đọc  một niềm tin ở ngày mai, một hy vọng….

 

Đó là hai mặt của bản thể hiện sinh. Đó cũng là theo tôi nghĩ, lời dạy của Phật. Tội lỗi mà chúng ta đă phạm sẽ đưa chúng ta đi trọn con đường sám hối, con đường khổ đau, con đường dẫn đến đất Phật. Nay anh đă chọn im lặng và lăng quên, hay như anh nói, để ḿnh tan biến theo ḍng xoáy lốc cuốn vào lỗ hổng đen của hư vô. Nhưng sự tuyệt đối của tâm trí, sự ngạo mạn chân thành của ḷng anh rồi đây vẫn để lại một dư vang. Vườn hoa ở cuối chân trời bên kia sẽ sinh trái ngọt.

 

Trí đứng lên, đi ra như muốn t́m đến bác sĩ Tâm, nhưng bóng bác sĩ Tâm vội tan biến.

 

 

        Sân khấu  ch́m  vào  đêm.

 

      

Màn Hai

 

Sân khấu, cảnh vẫn như màn Một, nay nằm trong  nắng sáng mùa xuân. Có Hạnh, cháu nội của bà Cả, đứng ôm  hoa cúc trắng, và hai thanh niên mặc áo cà sa đứng giữ một đ̣n tre. Thấp thoáng bóng Bác Sĩ Tâm ở hậu trường. Vang vang tiếng tụng kinh siêu hồn.

 

Đại Đức Thích Tuệ Trung từ căn nhà đi ra.

 

Đại  Đức:   Nam mô A-di-đà Phật

 

Nam mô A-di-đà Phật….

 

Xin Đức Thế Tôn dẫn độ cho hồn người siêu thoát. Xin Đức Thế Tôn nhận hồn người vào vườn hoa của ngài trước khi, nếu phải trở lại trần thế, cho trở lại thọ hưởng quả phúc đă gieo hạt trong kiếp này…

 

Đại Đức Thích Tuệ Trung đi ra trước sân khấu.  

 

Đại  Đức:   Chỉ là một cành trúc lay trước gió. Chỉ là một hạt sương đọng trên lá bồ đề…

…….

      

Thầy Trí đă an nghỉ rồi trên giường tre. Hai mắt mở, nhưng chúng tôi đă vuốt cho khép lại. Đôi mắt long lanh ánh nắng, chắc cả đời qua chỉ vọng ra chân trời xa nh́n theo những đám mây hồng bay bổng khi tan khi tụ. Bộ mặt thanh thản, hồn nhiên như trẻ thơ. Chắc hai tai ngày xưa chỉ lắng nghe tiếng sóng trùng trùng của biển cả và tiếng gió vi vút của núi rừng. Đôi môi im nhưng phải đă bao nhiêu lần t́nh tự bằng những lời th́ thầm cầu khẩn chia xẻ nỗi cô đơn cùng kẻ khác, chung buồn đau trong thân phận làm người. Chúng tôi đă đặt hai tay tréo trên ḿnh thầy. Chúng tôi đă duỗi thẳng hai chân. Ôi ! Hai bàn chân mềm mại không lấm bụi hay dính bùn, như cả đời chỉ đi trên cỏ xanh, trên cát vàng đuổi bắt  cánh bướm của t́nh yêu, bới t́m  ngọc trai của nhân loại. Chiếc thân, trong bộ quần áo trắng tươm tất như mới, nhẹ như  chiếc lá, c̣n ấm như trái tim vẫn  đập; gịng máu ngày xưa  hăng say cuộn chảy bao nhiêu với những  ước mộng cao xa, với những hoài băo viển vông không cùng !

 

Đại Đức Thích Tuệ Trung quay lại nói với Hạnh và hai thanh niên.

 

Đại Đức: Thôi,chúng ta hăy quấn xác thầy trong chiếu điều, và mang đi an táng trên đồi cỏ. Đồi cỏ bên bờ sông Đà, mà ngày ngày thầy vẫn tới! Chúng ta sẽ không đắp mộ mà san phẳng lại như  cũ. Mai này cỏ uyên và diên vĩ sẽ mọc đầy, thạch thảo trong khe đá trên đồi sẽ lừng hương. Bên kia sông, mùa xuân này, rừng sim sẽ có nhiều quả chín, chim hoàng anh, chim sơn ca sẽ rộn ràng  về hót sáng hót chiều.Riêng sông Đà vẫn phẳng lặng như ngàn xưa, trôi bèo hoa ra biển cả…

 

Rồi đây nếu một ai, chạy theo bướm vàng hay theo chim quyên, lạc tới đồi này và tự hỏi tại sao có bát hương dưới cây tùng. Phải chăng nơi đây là một phần mộ mà sao không có bia đá? Thưa rằng, những tác phẩm của thầy Trí, nhà văn, là bia mộ của thầy.  Một bia đá vô h́nh tạc ghi rằng : Trên trái đất này  đă sống một nhà văn,  thất vọng với chính ḿnh,  với xă hội  loài người trở nên tầm thuờng và không  lư tưởng, vẫn muốn t́m thấy ở cuộc sống hằng ngày xung quanh một ư nghĩa. Một nhà văn, trước sức mạnh đen tối,  tàn bạo vô thần và vô nhân đạo, dựa trên văn minh khoa học kỹ thuật đàn áp con người bằng vũ khí tối tân cơ giới và tha hoá ḷng người bằng những bả vật chất phù hoa, vẫn nói lên  trong lời văn (ngay cả trong cái lặng lẽ của tháp ngà ) cái  ước vọng rằng chúng ta  sẽ không bao giờ mất  ư thức làm người.

      

      

                                              Màn hạ

 

    Hết

                                          

 

                                                Ngô Văn Tao

 

                                                http://www.gio-o.com/NgoVanTao.html

 

 

                                                © gio-o.com 2009